SKKN: Nghiên cứu một số bài tập thể lực nhằm nâng cao thành tích nhảy xa cho học sinh nam lớp 11 trường THPT Tam Phước - Pdf 13



SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề Tài: NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BÀI TẬP THỂ LỰC
NHẰM NÂNG CAO THÀNH TÍCH NHẢY XA CHO HỌC
SINH NAM LỚP 11 TRƯỜNG THPT TAM PHƯỚC
Người thực hiện: Lê Thị Hòa
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục 
- Phương pháp dạy học bộ môn: Thể dục 
(Ghi rõ tên bộ môn)
- Phương pháp giáo dục:Nhảy xa
- Lĩnh vực khác:  Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
 Mô hình  Phần mềm  Phim ảnh  Hiện vật khác

I/. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Những năm gần đây, tình hình kinh tế-chính trò-xã hội của nước ta đã ổn
đònh và có bước phát triển đáng kể về mọi mặt, tạo điều kiện cho việc thực hiện
tốt các nhiệm vụ mục tiêu kinh tế-chính trò-xã hội đã đề ra. Tiếp tục quán triệt,
cụ thể hóa các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước mà điển
hình là chỉ thò số 36 CT/TW ngày 24/3/1994 của ban chấp hành Trung Ương
Đảng Cộng Sản Việt Nam. “Phát triển thể dục thể thao là một bộ phận quan
trọng trong chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước ta nhằm
bồi dưỡng nhân tố con người”. Vì thế, Bộ Giáo dục – Đào tạo về công tác giáo
dục thể chất trường học giai đoạn mới là tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc
giải quyết những tồn tại hiện nay về chất lượng giáo dục thể chất trong trường
học nói chung, từng bước nâng cao năng lực thể chất cho học sinh.
Giáo dục thể chất cũng như các hoạt động giáo dục khác trong nhà
trường phổ thông, có nhiệm vụ trang bò kiến thức khoa học và các kỹ năng, kỹ
xảo vận động cho học sinh nhằm đáp ứng mục tiêu đào tạo con người Việt Nam
phát triển toàn diện. Giáo dục thể chất tạo cho các em học sinh lòng hăng say
học tập, lao động, giữ gìn vệ sinh khắc phục bệnh tật.
Giáo dục thể chất trong trường phổ thông các cấp thì điền kinh là một bộ
môn cơ bản rất phong phú và đa dạng gồm nhiều phân môn khác nhau như:
chạy, nhảy, ném, đẩy,… là nền tảng phát triển các tố chất thể lực, làm cơ sở cho
các môn thể thao khác. Qua quan sát các buổi học điền kinh, tôi nhận thấy
thành tích trong môn nhảy xa của các em học sinh vẫn còn hạn chế. Để đạt
được thành tích cao trong một môn thể dục nào đó thì cần hội đủ nhiều yếu tố
như: năng lực cơ thể (hình thái, chức năng, tố chất), kỹ năng (kỹ thuật, chiến
thuật), năng lực, tâm lý (tâm lý, trí lực). Các yếu tố xã hội (trình độ huấn luyện
viên, điều kiện tập luyện, dinh dưỡng…).
Tuy nhiên, trong thực tế học sinh tỏ ra khơng mấy mặn mà với kĩ thuật nhảy

SINH NAM LỚP 11 Ở NHỮNG NĂM TRƯỚC ĐÂY THÔNG KÊ NHƯ
SAU:
2.1.Thực trạng:
Nhảy xa là một môn thể thao không đòi hỏi nhiều về trang thiết bị, kỹ thuật
tương đối đơn giản, dể phổ cập, phù hợp với mọi lứa tuổi, giới tính, do đó nó là nội
dung cơ bản trong chương trình giáo dục thể chất. Thông qua giảng dạy và luyện
tập môn học này sẽ phát triển sức mạnh và sức mạnh góp phần nâng cao thể chất
cho học sinh, trang bị những kiến thức kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho cuộc sống,
không những có lợi cho sức khỏe mà còn có lợi cho cả học tập, lao động sản xuất
và bảo vệ tổ quốc.
Qua nghiên cứu tài liệu sách báo, phim ảnh, nhảy xa được nhiều nhà nghiên
cứu, huấn luyện viên trong và ngoài nước nghiên cứu nhằm tìm ra những biện
pháp huấn luyện để nâng cao thành tích. Tuy nhiên việc nghiên cứu các bài tập
nhằm ứng dụng cụ thể cho đối tượng học sinh phổ thông ở nông thôn với những hố
nhảy xa chưa chuẩn như là đường chạy đà bằng đất sỏi, trời nắng thì quá cứng, trời
mưa thì trơn, hầu như chưa có ai nghiên cứu cụ thể. Qua điều tra nhảy xa cũng
được nhiều học sinh ưa thích và tập luyện thường xuyên. Các trường học trên toàn
quốc thì hầu như nơi nào cũng giảng dạy nghiêm túc, đầy đủ theo đúng chương
trình môn thể dục.
Việc giảng dạy môn này trong nhiều năm qua ở tỉnh Đồng Nai và nhất là ở
trường THPT Tam Phước đã được chú trọng và được phát triển bề rộng. nhưng
chất lượng dạy và học vẫn chưa đạt được hiệu quả cao, cụ thể qua các kỳ hội khỏe
Phù Đổng.
Nhằm mục đích đề ra phương pháp, nội dung giảng dạy và huấn luyện có
hiệu quả hơn, từ đó nâng cao thành tích nhảy xa của học sinh trường THPT Tam
Phước, đồng thời qua những kết quả nghiên cứu sẽ góp phần tháo gở sự khó khăn
trong việc đánh giá khách quan trình độ của học sinh ở các nội dung trên và qua đó thúc đẩy tôi tiếp tục nghiên cứu nâng cao trình độ về kỹ thuật, thể lực và nâng cao

Thể thao là một bộ môn của nền văn hoá chung, là sự tổng hợp những thành
tựu khoa học của xã hội và sử dụng những biện pháp chuyên môn để điều khiển sự
phát triển thể chất con người một cách chủ định nhằm nâng cao sức khoẻ.
Bác Hồ – Vị lãnh tụ vĩ đại tôn kính của dân tộc Việt Nam từ lòng yêu thương, quý
trọng con người, từ ý chí suốt đời vì nước, vì dân nên người đã phát triển rất cụ
thể, rõ ràng là biện chứng mối quan hệ hữu cơ giữa sức khoẻ, hạnh phúc của mỗi
người với sự nghiệp của đất nước, của dân tộc, của xã hội loài người. Người dạy “
Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức
khẻo mới thành công. Mỗi một người dân yếu ớt, tức là làm cho cả nước yếu ớt
một phần, mỗi người dân khoẻ mạnh, tức là góp phần cho cả nước mạnh khoẻ”.
Bác Hồ còn chỉ bảo cụ thể hơn “ Muốn giữ gìn sức khoẻ thì nên thường xuyên tập
luyện thể dục thể thao”.
Bên cạnh đó, Hiến pháp nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam năm
1992, điều 41 có ghi “…Quy định chế độ giáo dục thể chất bắt buộc trong trường
học”. Cho nên giáo dục thể chất trong trường học đã được xem là một bộ phận
quan trọng trong sự nghiệp thể dục thể thao nói chung. Giáo dục có thể chất trong nhà trường phổ thông là nhằm hoàn thiện thể chất
cho học sinh, góp phần đào tạo thế hệ thanh thiếu niên thành những người” phát
triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về
đạo đức… “ Giáo dục thể chất trong nhà trường là một nội dung của nền giáo dục
toàn diện cho học sinh, hoạt động giáo dục thể chất cũng phù hợp với tính năng
động của học sinh. Vì vậy hoạt động giáo dục thể chất trong nhà trường là một
hoạt động không thể thiếu được và phải được quan tâm đúng mức để phong trào
rèn luyện thân thể của học sinh trong nhà trường ngày càng phát triển tốt hơn. Hiện
nay giáo dục thể chất trong trường học các cấp đã và đang trở thành nhu cầu không
những về mặt giáo dục mà còn là nhu cầu hoạt động văn hoá của học sinh”.
Chương trình giáo dục thể chất trong nhà trường nổi bật các đặc tính: Tính
mục đích, tính nhân văn, tính khoa học. Từ bậc tiểu học đến trung học phổ thông


Giậm nhảy là giai đoạn quan trọng nhất trong nhảy xa. Giai đoạn giậm nhảy
bắt đầu khi đặt chân giậm nhảy vào ván giậm nhảy. Lúc này chân giậm nhảy hơi
khuỵu gối, sau đó dùng sức mạnh của chân và toàn thân đạp mạnh, nhanh lên ván
như sức bật của một chiếc lò xo. Khi giậm nhảy, phải chủ động đạp mạnh duỗi
thẳng chân, phối hơp với đánh tay và đưa chân lăng ra trước – lên cao và giữ cơ thể
được thăng bằng. Giậm nhảy phải phối hợp nhịp nhàng với tốc độ nằm ngang của
chạy đà tạo nên.
Kết quả nghiên cứu của nhiều công trình khoa học về giai đoạn giậm nhảy
trong nhảy xa cho thấy thành tích đạt được phụ thuộc vào sức mạnh của chân, sự
linh hoạt của cổ chân, sức bật của bàn chân, sự phối hợp nhịp nhàng của toàn bộ cơ
thể đặc biệt là sự phối hợp chính xác giữa lực giậm nhảy với lực do chạy đà tạo
nên và góc độ giậm nhảy hợp lí. Góc giậm nhảy khoảng 70 – 80
0
(so với mặt đất ở
phía trước) để đạt góc bay khoảng 20 – 24
0
.
Trên không:
Giai đoạn trên không của nhảy xa “Ưỡn thân” bắt đầu từ tư thế “bước bộ trên
không” khi chân giậm nhảy rời khỏi ván giậm, không đưa ngay ra trước như nhảy
xa kiểu “Ngồi”, mà đưa về phía sau, co dần lại, chân lăng từ phía trước chủ động
đưa xuống dưới – về sau phối hợp với chân giậm nhảy và ngực ưỡn căng thân ra
sau, mặt nhìn lên cao, hai tay có thể đưa lên cao chếch về sau hoặc dang ngang. Tư
thế hai tay , ngực, hông và hai chân lúc này chủ động ưỡn ngực căng về sau sao
cho thân người căng như một hình cánh cung. Tiếp theo gập nhanh thân trên, đồng
thời hai chân vươn ra trước hết sức tích cực phối hợp với đánh hai tay từ trên cao –
ra trước vòng xuống dưới – ra sau để chuẩn bị giai đoạn tiếp đất. Chính nhờ gập
thân và vươn hai chân ra trước chủ động và nhanh, mà nhảy xa “Ưỡn thân” tận
dụng được tối đa đường bay của trọng tâm cơ thể trong không gian. Đó cũng là lợi

hợp với những đặc điểm về trí tuệ, sức khỏe, giới tính, thể lực, tâm lý và trình độ
vận động của người học.
Theo nguyên tắc vừa sức, việc lựa chọn và thực hiện các bài tập để học kỹ
thuật động tác, phát triển các tố chất thể lực cần phù hợp với sức khỏe, giới tính,
trình độ vận động và thể lực của người tập. Tuy nhiên vừa sức không có nghĩa
không có khó khăn, mà ngược lại để thực hiện các yêu cầu tập luyện người tập cần
phải có sự nỗ lực rất lớn về thể chất và tinh thần.
Những bài tập quá dễ, thực hiện với số lần lặp lại nhỏ hoặc thực hiện trong
thời gian ngắn, hay yêu cầu tập luyện quá thấp sẽ không mang lại hiệu quả tập
luyện. Bởi vì chúng không mang lại hiệu quả cần thiết để tạo nên những thích ứng
mới cho cơ thể. Ngược lại những bài tập quá khó, lượng vận động vượt quá mức
chịu đựng của học sinh cũng không mang lại hiệu quả tập luyện, thậm chí còn gây
ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người tập.
Nguyên tắc hệ thống: Là một trong những nguyên tắc sư phạm chỉ rõ giảng
dạy và tập luyện TDTT cần phải dựa trên cơ sở khoa học, phải được tiến hành theo
một trật tự, một cấu trúc thống nhất và chặt chẽ.Nguyên tắc này dựa trên các quy
luật của quá trình nhận thức và mối quan hệ mang tính quy luật của quá trình nhận
thức và mối quan hệ mang tính quy luất giữa lượng vận động tập luyện và sự phát
triển năng lực vận động. Theo nguyên tắc tập luyện hệ thống, quá trình tập luyện
TDTT muốn đạt được hiệu quả cao cần phải đảm bảo tính mục đích, tính tuần tự
và tính liên tục.
Muốn tiếp thu được những kỹ năng kỹ xảo vận động cũng như phát triển được
các tố chất thể lực thì các em cần hiểu được mục đích, nội dung của bài tập, tạo
được cảm giác, tri giác vận động và hình thành được biểu tượng vận động.Vì vậy
muốn đạt được hiệu quả tập luyện, việc chọn lựa sắp xếp các bài tập, các phương
pháp tập luyện cần tuân theo một trật tự nhất định mang tính mục đích, tính khoa
học.
Tập luyện TDTT thường xuyên sẽ dẫn đến quá trình thích ứng nâng cao sức
khỏe, nâng cao trình độ thể lực và mức độ hoàn thiện các kỹ năng kỹ xảo vận động
cũng như các phẩm chất tâm lý. Ngừng tập luyện sẽ làm giảm dần và mất đi các

khoảng 12 tuổi. Giữa nam và nữ trước 12 tuổi, sự khác biệt các tố chất thể lực
không lớn lắm, nhưng từ 16–18 tuổi sự khác biệt này tăng lên, sau 18 tuổi thì có xu
hướng ổn định. Giai đoạn lứa tuổi khác nhau, tốc độ phát triển tố chất thể lực khác
nhau, tức là trong cùng một lứa tuổi tố chất thể lực khác nhau phát triển thay đổi
cũng không giống nhau. Sự phát triển tố chất thể lực tự nhiên bao gồm 2 giai đoạn:
Giai đoạn tăng trưởng là giai đoạn tố chất thể lực tăng liên tục, trong đó có
giai đoạn tăng nhanh và tăng chậm.
Giai đoạn ổn định là giai đoạn tố chất thể lực tăng chậm rõ ràng hoặc dừng lại
hoặc giảm xuống.
Qua các khái niệm ở các phần trên cho ta biết tố chất thể lực bao gồm: (nhanh,
mạnh, bền, mềm dẻo và khéo léo), như ta biết trong quá trình phát triển tự nhiên
các tố chất thể lực tăng theo lứa tuổi. Ở lứa tuổi 14–18 tuổi quá trình phát triển
theo 3 giai đoạn: giai đoạn tăng nhanh, giai đoạn tăng chậm và giai đoạn ổn định.
Tố chất thể lực từ giai đoạn tăng trưởng chuyển sang giai đoạn ổn định theo thứ tự
phát triển như sau: Tố chất nhanh phát triển đầu tiên, sau đó là tố chất bền và tố
chất mạnh. Quy luật này ở nam và nữ đều giống nhau.
3.1.3.4.1. Huấn luyện sức mạnh–nhanh (tốc độ):
Sự phát triển huấn luyện sức mạnh–nhanh đòi hỏi không những phải nâng cao
tốc độ co cơ mà còn phải nâng cao sức mạnh tối đa. Ý nghĩa của sức mạnh tối đa này đối với năng lực sức mạnh nhanh phụ thuộc vào các yêu cầu của cấu trúc thành
tích môn thi đấu. Trong những môn mà sức mạnh tối đa là cơ sở quyết định tốc độ
vận động tối ưu thì phải phối hợp huấn luyện sức mạnh tối đa cả sức mạnh nhanh
với nhau. Đó là phương pháp huấn luyện đặc biệt. Việc huấn luyện phải đảm bảo
sự biến đổi một cách tốt nhất năng lực sức mạnh–nhanh. Do đó hiện nay vấn đề
này đang gây ra những khó khăn và người ta chưa nhận rõ đủ về phần đóng góp
của năng lực sức mạnh tối đa vào thành tích sức mạnh–nhanh và tỷ lệ tối ưu giữa
huấn luyện sức mạnh tối đa và sức mạnh nhanh cho các môn thi đấu riêng biệt.
Nhiệm vụ chủ yếu của vận động viên cự ly ngắn là mau chóng đạt được tốc độ

hoạt động phân tích trên vỏ não về tri giác có định hướng sâu sắc hơn. Ở tuổi này
khả năng nhận hiểu cấu trúc động tác và tái hiện chính xác hoạt động vận động
được nâng cao. Ngay từ tuổi thiếu niên đã diễn ra quá trình hoàn thiện cơ quan
phân tích và những chức năng vận động quan trọng nhất, đặc biệt là những cảm
giác bản thể trong điều khiển động tác. Khả năng phân biệt chính xác về không gian của nam đạt mức cao nhất, còn nữ ở lứa tuổi này lại giảm xuống do thiếu tập
luyện vận động cần thiết, nếu tập thì có thể tránh được. Lứa tuổi này các em có thể
thực hiện khá đầy đủ những bài tập đơn giản của giáo viên giao gần như dựa theo
chỉ dẫn bằng lời nói, bước đầu biết xác định những khâu, đoạn then chốt trong vận
động phức tạp, chỉ ra được khá rõ những sai xót của bản thân và đồng đội. Vì vậy
khi giảng dạy cần chú ý bồi dưỡng khả năng tự phân tích động tác, tự đánh giá tình
hình tập luyện của các em. Khi dạy động tác kỹ thuật cần khéo vận dụng đúng mức
những hiểu biết đã học về vật lý, sinh học…
3.1.4.2.Tâm lý: Ở lứa tuổi này quá trình tăng trưởng cơ thể của các em còn
chưa kết thúc. Dù hoạt động thần kinh cao cấp ở các em đã đến mức phát triển cao,
nhưng ở một số em vẫn phần nào hưng phấn mạnh hơn ức chế, dễ còn có những
phản ứng thiếu kìm hãm cần thiết, do đó dễ làm rối sự phối hợp vận động, gây khó
khăn cho việc tiếp thu và củng cố các kỹ năng vận động. Ở tuổi này các em dễ tự
ái, tiêu cực nhất là nữ khi bị người khác nói những yếu kém của mình trước tập
thể, nhất là trước các bạn khác giới. Tính tình trạng thái tâm lý ở tuổi này dễ thay
đổi, có lúc rất tích cực hăng hái, nhưng cũng có lúc lại buồn chán, tiêu cực.
3.2. PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
3. 2.1. Phương pháp nghiên cứu:
Để giải quyết các mục tiêu trên Tôi sử dụng các phương pháp sau:
3.2.1.1. Phương pháp tham khảo tài liệu có liên quan
Đọc sách và tài liệu tham khảo có liên quan đến đề tài nghiên cứu là một mặt
không thể thiếu trong quá trình nghiên cứu khoa học. Ngay từ khâu chọn đề tài.
Phương pháp này cho tôi hệ thống lại những các kiến thức có liên quan đến

chuẩn bị dự thảo, báo cáo kết quả, người nghiên cứu đã sử dụng phương pháp này.
Phương pháp này cho phép tôi hệ thống hóa các kiến thức có liên quan đến
lĩnh vực nghiên cứu, hình thành cơ sở lí luận, xác định mục đích, mục tiêu nghiên
cứu, đồng thời xây dựng tổng quan, xử lý và phân tích kết quả nghiên cứu của đề
tài.
3.2.1.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm:
Tiến hành lấy số liệu ban đầu và số liệu sau 1 năm tập luyện của 50 học sinh
nam thực nghiệm và 50 học sinh nam đối chứng.
Lần 1: tổ chức kiểm tra thành tích nhảy xa kiểu ưỡn thân (mét) cho đối tượng
nghiên cứu (chưa áp dụng bài tập)
Lần 2: Tổ chức kiểm tra thành tích cho nhóm thực nghiêm và nhóm đối
chứng.
* Nhảy xa có đà:
+ Sân bãi, dung cụ: hố cát, thước dây, cờ, giấy, bút…
+ Phương pháp tiến hành: Thực hiện lần lượt từng người sau khi nghe gọi tên,
thì nhanh chóng thực hiện chạy đà, giậm nhảy, và rơi xuống đất, hoàn thiện kỹ
thuât nhảy xa kiểu ưỡn thân, thành tích được xác định ở các điểm rơi gần ván
giậm.
* Chạy 30m tốc độ cao:
+ Sân bãi, dụng cụ: Sân bê tông, đồng hồ bấm giây điện tử, cờ, giấy, bút, phát
lệnh…
+ Phương pháp tiến hành: một người thực hiện ở tư thế xuất phát cao, sau khi
nghe lệnh “Xuất phát” thì nhanh chóng rời khỏi vạch xuất phát và chạy nhanh về
đích. Thành tích được tính từ điểm phất cờ đến chạm dây đích và qua mặt phẳng
đích (30m). Kết quả đo được tính bằng giây, mỗi học sinh thực hiện hai lần và lấy
lần chạy có thành tích tốt nhất, người thực hiện được nghỉ đầy đủ giữa hai lần
chạy.
* Chạy 30m, 60m, 100m xuất phát thấp:
+ Sân bãi, dụng cụ: Sân bê tông, đồng hồ bấm giây điện tử, bàn đạp xuất phát,
cờ, giấy, bút, pháp lệnh

chóng bước 3 bước, về vạch xuất phát rồi dùng sức của bàn chân, cẳng chân, đùi
và kết hợp giậm mạnh bằng chân thuận về trước. Thành tích được tính (cm)
khoảng cách từ vạch xuất phát đến gót chân hoặc, một bộ phận cơ thể gần nhất.
3.2.1.5. Phương pháp toán thống kê:
Để xử lý các số liệu trước và sau thực nghiệm, giúp cho việc rút ra kết luận
Tôi sử dụng các thuật toán trong đề tài là:
Tính trị số trung bình: (
X
)




n
ni
X
i
n
X
1
(I = 1, 2, 3…n) n ≥ 30

Tính độ lệch chuẩn:

S
x
= n ≥ 30
n

Nhịp độ tăng trưởng: (W%) Hệ số biến thiên :
V% = Sai số tương đối:

Chỉ tiêu t: (Student}

t = với n ≥ 30

3.2.2. TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU:
3. 2.2.1 Đối tượng nghiên cứu: Gồm 100 em học sinh nam lớp 11, chia làm
hai nhóm, trong đó
+ Nhóm thực nghiệm 50 học sinh
+ Nhóm đối chứng 50 học sinh
Đối tượng thường xuyên tham gia tập luyện trong giờ nội khóa, có thể phát triển
bình thường không bị dị tật
3. 2.2.2. Địa điểm nghiên cứu:
Trường THPT Tam Phước, Biên Hòa, Đồng Nai
3. 2.2.3. Thời gian tổ chức nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu từ tháng 09 năm 2011 đến tháng 10 năm 2012.
- Từ ngày 10 tháng 09 năm 2011 đến ngày 01 tháng 05 năm 2012 chuẩn bị
điều kiện nghiên cứu xây dựng phiếu phỏng vấn kiểm tra lấy số liệu và xử lý số

Các tác giả Xirixơ.P.Đ – Gaidrơxca P.M – Ratrep K.I, trong “Nghiên cứu
đánh giá trình độ tập luyện trong các thời kỳ khác nhau”, đã dùng các bài tập sau
để đánh giá trình độ thể lực của vận đông viên nhảy xa : nhảy xa (cm). chạy 20m
có đà (gy), bật cao (cm), bật xa (cm), bật 3 bước (cm), lực lưng (kg).
Trong tiêu chuẩn kiểm tra đánh giá trình độ tập luyện và tuyển chọn vận động
viên điền kinh, các tác giả Trung Quốc đã đưa ra hệ thống các chỉ tiêu và xác định
cả tỷ trọng của các chỉ tiêu trong tuyển chọn nam VĐV nhảy xa lứa tuổi 13 – 17 là
: Điều kiện cơ thể : Chỉ số Quetelet, dài chân, B/chiều cao, công năng tim. Trình
độ kỹ thuật : Chạy 100m (gy), nhảy xa ( cm), đẩy tạ (cm), chạy 1500 (gy), chạy
30m tốc độ cao (gy), hất tạ (4kg) quay đầu ra sau (cm), đà 5 bước nhảy 5 bước, đà
7 bước nhảy xa, kỹ thuật nhảy xa.
Pôpốp V.B, đã đưa ra các chỉ tiêu đánh giá trình độ chuẩn bị sức mạnh tốc độ
của vận động viên trong nhảy xa bằng thành tích lập bài tập thông qua các nội
dung mà hầu hết đều nhằm đánh giá sức mạnh chân dưới các góc độ khác nhau,
như : chạy 30m (gy), chạy 60m (gy), chạy 100m có xuất phát (gy), nhảy cao kiểu
bước qua (cm), nhảy bật 50 lần trên 1 chân với 6 bước đà (xác định độ dài và thời
gian), chạy 30m (gy), chạy 60m (gy), chạy 100m có xuất phát (gy), nhảy cao kiểu
bước qua (cm), nhảy bật cao 5 lần liên tục (gy), ngồi xuống đứng lên với trọng
lượng tối đa (kg), nâng 2 chân lên thang thể dục 10 lần (gy).
Trong “Kiểm tra năng lực thể chất và thể thao” của Lê Bửu – Nguyễn Thế
Truyền đã đưa ra 9 test và 1 chỉ số tuyển chọn vận động viên nhảy xa thì có đến 6
test gắn liền với sức mạnh cơ chân: chạy 20m tốc độ cao (gy), bật cao tại chỗ (gy),
bật xa tại chỗ (gy), bật ba bước tại chỗ (cm), nhảy xa có đà (cm), lực lưng (kg),
thời gian giậm nhảy trong nhảy xa toàn đà (gy), chiều cao, thể trọng, chỉ số thể
trọng.
Cũng theo Lê Bửu – Nguyễn Thế Truyền trong sách “Lý luận và phương pháp
thể thao trẻ”, tuy có những test khác nhau, nhưng 2 ông cũng đã giới thiệu 7 chỉ
tiêu mà hầu như chỉ để kiểm tra các mặt khác nhau của sức mạnh cơ chân với mục
NỘI DUNG BÀI TẬP
KẾT QUẢ PHỎNG VẤN
ĐỒNG Ý TỶ LỆ
1.

Chạy 30m xuất phát thấp (gy)
25/30 83,33%
2.

Chạy 60m xuất phát thấp (gy) 21/30 70%
3.

Chạy lặp lại 5 x 30m (gy) 17/30 56,66%
4.

Chạy 30m tốc độ (gy) 23/30 76,66%
5.

Chạy 100m xuất phát thấp (gy) 23/30 76,66%
6.

Chạy 40m xuất phát thấp (gy) 17/30 56,66%
7.

Chạy đạp sau 60m (gy) 19/30 63,3%
8.

Bật lò cò 30m (gy) 29/30 96,66%
9.


6 Chạy 100m xuất phát thấp 76,66%
7 Bật xa 3 bước 90%
8 Ngồi xổm bật cóc 30m 86,66%

Sau kết quả phỏng vấn tôi tiến hành lấy số liệu của 8 bài tập cả 2 nhóm thực
nghiệm và đối chứng 4.2 Đánh giá các bài tập qua kết quả kiểm tra lần 1
Bảng 3: Nhóm đối chứng (lần 1)

TT BÀI TẬP ĐV
X

S
x
V% ε
1.Chạy 30m tốc độ
Giây 3.74 0.12 3.19 0.009
2.Chạy 30m xuất phát thấp
Giây 4.84 0.25 5.25 0.015
3.
nhất cao. Các chỉ số của sai số tương đối (ε) nằm trong khoản từ 0.004 đến 0.024
(< 0.05). Điều này cho ta thấy giá trị trung bình mẫu đủ tính đại diện. Vậy giá trị
trung bình của tập hợp mẫu có độ tin cậy cao.
Bảng 4 : Nhóm thực nghiệm (lần 1)

TT BÀI TẬP ĐV
X

S
x
V% ε
1.Chạy 30m tốc độ
Giây 3.75 0.10 2.80 0.008
2.Chạy 30m xuất phát thấp
Giây 4.77 0.24 5.04 0.014
3.Bật xa tại chỗ
Mét 2.36 0.17 7.14 0.020
4.Chạy 60m xuất phát thấp

Nhảy xa (lần 1)
X

S
x
V% ε
Nhóm đối chứng
4.15 0.14 3.42 0.010
Nhóm thực nghiệm
4.17 0.16 3.76 0.011

Qua bảng 5 tôi có nhận xét sau : các chỉ số của hệ số biến thiên (V%) nằm
trong khoản từ 3.42% đến 3.76% (<10) nên mẫu có độ đồng nhất cao. Các chỉ số của sai số tương đối (ε) nằm trong khoản từ 0.010 đến 0.011 (< 0.05). Điều này
cho ta thấy giá trị trung bình mẫu đủ tính đại diện. Vậy giá trị trung bình của tập
hợp mẫu có độ tin cậy cao.
4.4. Đánh giá mối tương quan giữa 8 bài tập với thành tích nhảy xa:
4.4.1. Thành tích nhảy xa lần 2 :
Qua một năm tập luyện tôi thu được kết qủa các nhóm như sau:
Bảng 6 : Thành tích nhảy xa (lần 2 )

Nhảy xa (lần 2)
X

S
x
V% ε
Nhóm đối chứng


Giây 17.40 0.22 1.25 0.014
7 Bật xa 3 bước Mét 6.07 0.23 3.78 0.011
8 Bật cóc 30m Giây 15.42 1.00 6.52 0.019

Qua số liệu ở bảng 7 cho thấy các chỉ số của hệ số biến thiên (V%) nằm
trong khoản từ 1.47% đến 9.36% (<10) nên mẫu có độ đồng nhất cao. Các chỉ số
của sai số tương đối (ε) nằm trong khoản từ 0.004 đến 0.027 (< 0.05). Điều này
cho ta thấy giá trị trung bình mẫu đủ tính đại diện. Vậy giá trị trung bình của tập
hợp mẫu có độ tin cậy cao
Bảng 8: Nhóm thực nghiệm (lần 2)

TT

BÀI TẬP ĐV
X

S
x
V% ε
1 Chạy 30m tốc độ Giây 3.67 0.12 2.61 0.007
2 Chạy 30m xuất phát thấp Giây 4.59 0.24 5.17 0.019
3 Bật xa tại chỗ Mét 2.48 0.17 6.82 0.019
4 Chạy 60m xuất phát thấp Giây 9.00 0.11 1.21 0.003
5 Bật lò cò 30m Giây 8.49 0.77 9.13 0.026
6 Chạy 100m xuất phát thấp Giây 17.33 0.53 3.08 0.003
7 Bật xa 3 bước Mét 6.22 0.33 5.23 0.015

2 Chạy 30m xuất phát thấp Giây

4.84 4.76 - 1.69
3 Bật xa tại chỗ Mét 2.31 2.38 2.88
4 Chạy 60m xuất phát thấp Giây

9.04 9.01 - 0.42
5 Bật lò cò 30m Giây

9.25 9.11 - 1.50
6 Chạy 100m xuất phát thấp Giây

17.55 17.40 - 0.81
7 Bật xa 3 bước Mét 5.98 6.07 1.44
8 Bật cóc 30m Giây

15.80 15.42 - 2.50

Bảng 10: Nhóm thực nghiệm

TT

BÀI TẬP ĐV
X

(lần 1)



S
x
V% ε W%

t p
Nhóm đối chứng
Lần 1 4.15 0.14 3.42 0.010

1.07 1.97 >0.05
Lần 2 4.19 0.08 1.82 0.005Nhóm thực nghiệm
Lần 1 4.17 0.16 3.76 0.011

2.23 3.58 <0.001

Lần 2 4.27 0.10 2.34 0.007
Qua bảng 11 cho chúng ta thấy: Sau quá trình áp dụng các bài tập thể lực
trong tập luyện, thành tích nhảy xa của 2 nhóm đều có tăng tiến. Nhịp độ tăng
trưởng của nhóm thực nghiệm vượt trội so với nhóm đối chứng (W% nhóm đối
chứng 1.07; W% nhóm thực nghiệm: 2.23)
4.6. Kiểm định kết quả thực nghiệm:
Qua kiểm định gỉả thuyết tính thực nghiệm của nhóm đối chứng. Mặc dù
thành tích có tăng so với lần 1 nhưng so sánh hai giá trị trung bình giữa lần 1 và


trong các tiết thể dục, tạo sự ham thích bộ môn thể dục ở các em học sinh, góp
phần thực hiện chủ trương đổi mới giáo dục của ngành giáo dục nói chung và đổi
mới phương pháp dạy và học môn thể dục trong nhà trường phổ thông nói riêng. VI. KẾT LUẬN
6.1. Kiến nghị:
Trong q trình giảng dạy bản thân tơi ln trăn trở tìm nhiều cách thức để
vận dụng vào việc dạy học nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh tạo cho
các em sự hứng thú đối với mơn học này. Trên đây là một số cách thức mà tơi đã
thực hiện khi dạy kỹ thuạt nhảy xa kiểu “ưỡn thân’’.
Từ những kết quả nghiên cứu đã được phân tích tôi có những kết luận:
+ Thông qua các bước nghiên cứu chặt chẽ, đề tài bước đầu xác đònh được
8 bài tập phát triển thể lực nhằm nâng cao thành tích nhảy xa của nam học sinh
lớp 11 trường THPT Tam Phước ứng dụng vào chương trình thực nghiệm bao
gồm:

-

Chạy 30m tốc độ
-

Chạy 30m xuất phát thấp
-

Bật xa tại chỗ
-

Chạy 60m xuất phát thấp
-

Phối hợp với ngành TDTT thành lập các câu lạc bộ thể thao trường học để
mỗi học sinh có điều kiện tham gia tập luyện thường xuyên một môn thể thao mà
mình ưa thích. Tăng cường công tác ngoại khoá, thi đấu thể thao theo chuyên đề
cho các dịp lễ, tết trong trường học.
Qua đề tài này Tôi đã rất cố gắng nhưng cũng không tránh khỏi những
thiếu sót. Rất mong được sự góp ý của các thầy cô trong ban giám khảo để giúp
Tôi hoàn thiện đề tài hơn nữa. Tôi xin chân thành cảm ơn.

VII. TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Chỉ thị 36/Twngày 24, Tháng 3 Năm 1994 của ban chấp hành Trung ương Đảng
Cộng Sản Việt Nam
2. Dương Nghiệp Chí: Đo lường thể thao, NXB TDTT, Hà Nội 1991.
3. Phạm Minh Hạc: Tâm lý học, NXB Giáo dục 1997.
4. Quang Hưng: Bài tập chuyên môn trong Điền kinh, NXB TDTT, Hà Nội 2004.
5. Sách giáo viên Thể Dục Lớp 10 nhà xuất bản Giáo Dục
6. Trịnh Trung Hiếu: Phương pháp giảng dạy thể thao trong nhà trường, NXB
TDTT, Hà Nội 1994.
7. Trịnh Trung Hiếu: (1993) lỳ luân và phương pháp giáo dục TDTT, NXB TDTT
TP HCM
8. Huỳnh Trọng Khải: Giáo trình lý thuyết nghiên cứu khoa học, tài liệu giảng dạy
cho các lớp Đại chuyên tu.
9. Nguyễn Toán – Phạm Danh Tốn: Lý luận và phương pháp TDTT, NXB TDTT,
Hà Nội 2000.
10. Nguyễn Thế Truyền- Nguyễn Kim Minh, Trần Quốc Tuấn: Tiêu chuẩn đánh
giá trình độ tập luyện trong tuyển chọn và huấn luyện thể thao, NXB TDTT , Hà
Nội 2002.
11. Trịnh Hùng Thanh: Đặc điểm sinh lý các môn thể thao, NXB TDTT, Hà Nội
1999.


30m
xpt
(s)
Bật
xa tại
chổ
(m)
Chạy
60m
(s)
Bật
Lò cò
30m
(s)
Chạy
100m
(s)
Bật 3
bước
(m)
Ngồi
xổm
bật cóc
30m (s)

1

Lê Th
ế Bảo



5.6

2.15

9.24

9.34

17.3

6.03

16.2

4

Đinh Công Đ
ức

4.1

3.71

4.73

2.02

9.23



14.98

7

Lê Thái Hà 4.2 3.77 5.17 2.25 8.75 9.45 16.87 6.15 15.15
8

Trương Đ
ình Hi
ền

4.15

3.91

4.4

2.12

9.02

8.56

15.98

5.65

15.15


ành Long

4.23

3.71

4.98

2.35

9.02

8.13

15.88

6.45

13.67

12

Nguyễn Hoàng Minh 4.13 3.48 4.95 2.35 9.22 8.09 16.5 6.65 14.33
13

Nguy
ễn Thanh Nam

4.2


4.82

2.17

8.98

9.65

16.1

6.3

13.43

16

Nguyễn Đình Thủy 3.99 3.69 4.46 2.33 9.01 10.05

17.23 6 18.7
17

Nguyễn Đức Tiến 4.3 3.69 4.52 2.47 9.02 7.55 17.36 6.2 15.35
18

Lê Vi
ết Tr
ình

4.08


2.6

8.99

8.91

16.87

5.65

15.77

21

Lê Tuấn Vũ 4.1 3.7 4.75 2.24 9.04 8.95 15.87 6.4 18.94
22

Tr
ần Tuấn Anh

40.6

3.67

5.1

2.51

9.15


2.25

9.05

9.97

17.59

6

15
.67

26

Nguyễn Thuận Đức 4.27 3.79 4.72 2.3 9.02 10.07

16.69 5.75 14.69
27

Nguy
ễn Hữu Hiếu

4.12

3.65

4.69

2.33

32

Đào Xuân Lộc 4.18 3.78 4.92 2.46 8.89 10.09

15.76 6.1 16.05
33

Nguy
ễn Văn Long

4.1

3.68

4.83

2.18

9.01

9.64

15.61

6
.03

13.84

34

Nguyễn Ngọc Tài 4.23 3.71 4.43 2.26 9.17 8.56 17.01 6.05 17.66
38

V
ũ Tú Anh

4.32

3.77

5.3

2.45

9.11

8.89

16.76

6.15

15.15

39

Hoàng Phương Bắc 4.18 3.98 4.75 2.56 9.17 9.06 16.87 5.81 16.21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status