SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BÀI TẬP THỂ LỰC NHẰM NÂNG CAO THÀNH TÍCH NHẢY XA CHO HỌC SINH NAM LỚP 11 TRƯỜNG THPT TAM PHƯỚC - Pdf 29

1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Trường THPT Tam Phước
Mã số:
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề Tài: NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BÀI TẬP THỂ LỰC
NHẰM NÂNG CAO THÀNH TÍCH NHẢY XA CHO HỌC
SINH NAM LỚP 11 TRƯỜNG THPT TAM PHƯỚC
Người thực hiện: Lê Thị Hòa
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục 
- Phương pháp dạy học bộ môn: Thể dục 
(Ghi rõ tên bộ môn)
- Phương pháp giáo dục:Nhảy xa
- Lĩnh vực khác: 

Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
 Mô hình Phần mềm  Phim ảnh  Hiện vật khác

Năm học: 2012 -2013
BM 01-Bìa SKKN
SƠ YẾU LÝ LỊCH
I. Thông tin chung về cá nhân
1. Họ và tên: Lê Thị Hòa
2. Sinh ngày: 28 – 12 – 1978
3. Địa chỉ: Khu chợ, Ấp Long Khánh 3, Tam Phước, Long Thành, Đồng
Nai
4. Điện thoại: 01667205812
II. Trình độ đào tạo
1. Học vị: Cử nhân

môn cơ bản rất phong phú và đa dạng gồm nhiều phân môn khác nhau như:
chạy, nhảy, ném, đẩy,… là nền tảng phát triển các tố chất thể lực, làm cơ sở
cho các môn thể thao khác. Qua quan sát các buổi học điền kinh, tôi nhận thấy
thành tích trong môn nhảy xa của các em học sinh vẫn còn hạn chế. Để đạt
được thành tích cao trong một môn thể dục nào đó thì cần hội đủ nhiều yếu tố
như: năng lực cơ thể (hình thái, chức năng, tố chất), kỹ năng (kỹ thuật, chiến
thuật), năng lực, tâm lý (tâm lý, trí lực). Các yếu tố xã hội (trình độ huấn luyện
viên, điều kiện tập luyện, dinh dưỡng…).
Tuy nhiên, trong thực tế học sinh tỏ ra khơng mấy mặn mà với kĩ thuật nhảy
xa kiểu ‘’ưỡn thân’’ , các em chỉ đọc lướt qua qua, học để đối phó khi làm bài
kiểm tra. Tình trạng này bắt nguồn từ nhiều ngun nhân trong đó cũng có ngun
nhân xuất phát từ cả hai phía phía thầy và trò. Về phía học sinh, các em khơng cảm
thấy hứng thú với kĩ thuật nhảy xa kiểu ‘’ưỡn thân’’, khơng chịu khó ơn bài trước
mỗi tiết học. Về phía giáo viên, các giáo viên cũng ít tìm tòi, nghiên cứu bổ sung
bổ sung một số bài tập thể lực nhằm nâng cao thành tích kĩ thuật nhảy xa kiểu
‘ưỡn thân’, ngồi phần mà sách giáo viên đã cung cấp.
Khi lên lớp thì còn thụ động về phương pháp, chưa lơi cuốn được học sinh,
hầu hết các giáo viên chỉ dừng lại ở việc diễn giải kiến thức mà sách giáo viên đã
trình bày. Vì vậy, những giờ dạy
3
về kĩ thuật nhảy xa kiểu ‘’ưởn thân’’ thường nhàm chán, tẻ nhạt, không tạo được
hứng thú cho cả người học và người dạy. Kết quả học tập vì thế mà cũng không đạt
được hiệu quả cao. Bản thân tôi cũng gặp rất nhiều khó khăn khi giảng dạy , kĩ
thuật nhảy xa kiểu ‘’ưởn thân’’ điều đó khiến tôi thật sự trăn trở. Tôi đã tiến hành
vận dụng nhiều cách thức khi dạy kĩ thuật nhảy xa kiểu ‘’ưởn thân’’ nhằm tạo sự
hứng thú cho học sinh, giúp các em có thể tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng
hơn. Trên cơ sở đã vận dụng vào việc giảng dạy, tôi xin trình bày một vài kinh
nghiệm của mình về cách thức tiến hành giảng dạy kĩ thuật nhảy xa kiểu ‘’ưởn
thân’’.
Những cách thức mà tôi tiến hành vận dụng khi giảng dạy kiểu bài này không mới.

Phù Đổng.
Nhằm mục đích đề ra phương pháp, nội dung giảng dạy và huấn luyện có
hiệu quả hơn, từ đó nâng cao thành tích nhảy xa của học sinh trường THPT Tam
4
Phước, đồng thời qua những kết quả nghiên cứu sẽ góp phần tháo gở sự khó khăn
trong việc đánh giá khách quan trình độ của học sinh ở các nội dung trên và qua đó
thúc đẩy tôi tiếp tục nghiên cứu nâng cao trình độ về kỹ thuật, thể lực và nâng cao
thành tích cho các học sinh ở các môn khác trong chương trình giảng dạy môn thể
dục của trường THPT Tam Phước như : Đẩy tạ, nhảy cao, chạy ngắn, chạy cư ly
trung bình, chạy cự ly dài. …
2.2 Khó khăn:
- Học sinh thường không chủ động, tự giác tích cực trong tập luyện.
- Do tình trạng lười học, học đối phó ở học sinh hiện nay diễn ra khá phổ biến.
- Do tâm lý chung là xã hội không coi trọng môn thể dục nên các em học sinh
cũng không hứng thú trong việc tự giác tích cực trong tập luyện môn thể dục nói
chung và luyện tập kĩ thuật nhảy xa kiểu ‘’ưởn thân’’ nói riêng.
- Sân bãi tập luyện thì chưa được tốt lắm.
- Do đăc thù môn học ở ngoài trời nên thời tiết có lúc nắng. nóng.
- Do các thầy cô giáo ít chú ý đến việc đổi mới phương pháp dạy phù hợp
với kiểu bài.
Sau đây thực trạng thành tích nhảy xa của học sinh nam lớp 11 trườngTHPT
Tam Phước ở những năm trước đây.
− Năm học 2009 – 2010 :
X
= 4.15 (mét)
− Năm học 2010 – 2011 :
X
= 4.17 (mét)
− Đầu năm học 2011 – 2012 :
X

rèn luyện thân thể của học sinh trong nhà trường ngày càng phát triển tốt hơn. Hiện
nay giáo dục thể chất trong trường học các cấp đã và đang trở thành nhu cầu không
những về mặt giáo dục mà còn là nhu cầu hoạt động văn hoá của học sinh”.
Chương trình giáo dục thể chất trong nhà trường nổi bật các đặc tính: Tính
mục đích, tính nhân văn, tính khoa học. Từ bậc tiểu học đến trung học phổ thông
học sinh học hai tiết thể dục thể thao trên một tuần, nội dung chương trình bao gồm
thể dục, điền kinh, cầu lông, đá cầu, TDNĐ, trò chơi vận dụng. Ngoài ra còn một
số môn tự chọn gồm: bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn, bơi lội… và trong đó điền
kinh được xem là môn thể thao cơ bản, nền tảng để phát triển các môn thể thao
khác.
Ngày nay trước tình hình kinh tế của đất nước ngày càng phát triển, con
người phải phát triển không ngừng để đáp ứng nhu cầu bức thiết của xã hội thì con
người phải bảo đảm điều kiện sức khoẻ để đáp ứng nhu cầu ấy, do vậy vấn đề giáo
dục thể chất trong nhà trường ngày càng có vai trò quan trọng hơn giúp rèn luyện
những nhân tài cho đất nước cả về trí tuệ cũng như thể chất.
3.1.2. Các giai đoạn và đặc điểm chính của kỹ thuật nhảy xa kiểu ưỡn
thân
Kỹ thuât này được chia thành 4 giai đoạn : chạy đà, giậm nhảy, trên không,
tiếp đất.
Kỹ thuật chạy đà:
Đối với HSTHPT cự li chạy đà khoảng 15 – 25m. Đo đà, điều chỉnh đà để tìm
ra cự li chạy đã hợp lí, phù hợp với mỗi người tập là mọt việc rất quan trọng trong
nhảy xa.
Khi chạy đà độ dài của các bước chạy cần tăng dần kết hợp với nâng dần thân
lên, đặc biệt phải tăng dần tốc độ cho đến khi đạt được tốc độ cao nhất. Tiếp theo
duy trì tốc độ cao đó bằng cách giữ ổn định khoảng cách, trật tự và tần số bước
chạy. khi chạy đà, đặt nữa trước bàn chân chạm đất, chân đạp sau tích cực và duỗi
thẳng, thân trên hơi ngã về phía trước, tay phối hợp tự nhiên. Riêng bước đà cuối
cùng, khi đặt chân giậm nhảy vào ván cần bước nhanh và ngắn hơn bước trước đó
khoảng 1/2 - 1 bàn chân, đặt cả bàn chân chạm ván chuẩn bị cho giậm nhảy. Lúc

thời hai chân vươn ra trước hết sức tích cực phối hợp với đánh hai tay từ trên cao –
ra trước vòng xuống dưới – ra sau để chuẩn bị giai đoạn tiếp đất. Chính nhờ gập
thân và vươn hai chân ra trước chủ động và nhanh, mà nhảy xa “Ưỡn thân” tận
dụng được tối đa đường bay của trọng tâm cơ thể trong không gian. Đó cũng là lợi
thế của nhảy xa kiểu “Ưỡn thân” so với nhảy xa kiểu “Ngồi”.
Tiếp đất:
Khi hai chân bắt đầu tiếp đất, chủ động khuỵu gối để giảm chấn động, đồng
thời rướn thân, vươn hai tay ra trước để giữ thăng bằng không để mông hoặc tay
chạm cát ở phía sau. Sau đó đứng lên đi về trước, rời khỏi hố nhảy. Không đi sang
ngang hoặc lùi, vì theo luật thi đấu thành tích sẽ tính từ bộ phận cơ thể chạm cát
gần ván nhất. Động tác tiếp đất đòi hỏi phải khéo léo, nhanh nhẹn, mềm dẻo và hết
sức chủ động bởi vì tuy không phải là giai đoạn chủ động tạo ra thành tích, nhưng
tận dụng được tối đa thành tích hay không chính là nhờ sự khéo léo đó.
3. 1.3. Cơ sở lý luận trong huấn luyện điền kinh.
3.1.3.1. Nội dung huấn luyện Điền kinh:
Nội dung huấn luyện Điền kinh cũng như các môn thể thao khác là quá trình
huấn luyện về các mặt: thể lực, kỹ thuật, chiến thuật, đạo đức, ý chí, tâm lý và lý
luận. Tất cả các mặt chuẩn bị này có liên quan chặt chẽ với nhau và tạo thành một
quá trình thống nhất của việc hoàn thiện thể thao cho vận động viên Điền kinh.
Quá trình này được thực hiện thông qua việc sử dụng các phương tiện, phương
pháp huấn luyện, huấn luyện chuyên môn và các hình thức khác nhau của lượng
vận động trong tập luyện và thi đấu.
7
3.1.3.2. Một số nguyên tắc cơ bản trong huấn luyện Điền kinh:
Các nguyên tắc về phương pháp giáo dục thể chất đều có mối quan hệ với
nhau. Trong mối quan hệ này nguyên tắc tự giác tích cực giữ vai trò chủ đạo bởi vì
tính tích cực của người tập thể hiện qua hoạt động tự giác, gắng sức nhằm hoàn
thành nhiệm vụ học tập, được bắt nguồn từ thái độ hoàn thành tốt nhiệm vụ học
tập, cố gắng nắm được những kỹ năng kỹ xảo cùng hiểu biết có liên quan, phát
triển thể chất và tinh thần. Rõ ràng tính hiệu quả của quá trình sư phạm phụ thuộc

Tập luyện TDTT thường xuyên sẽ dẫn đến quá trình thích ứng nâng cao sức
khỏe, nâng cao trình độ thể lực và mức độ hoàn thiện các kỹ năng kỹ xảo vận động
cũng như các phẩm chất tâm lý. Ngừng tập luyện sẽ làm giảm dần và mất đi các
thích ứng đã đạt được, do vậy muốn nâng cao sức khỏe, thể lực và hoàn thiện kỹ
thuật các động tác TDTT cần phải tập luyện thường xuyên và liên tục.

8
3.1.3.3. Các tố chất vận động ảnh hưởng đến sự phát triển thể lực:
Tố chất mạnh: Là khả năng con người sinh ra lực cơ học bằng nỗ lực của cơ
bắp, nói cách khác là khả năng sức mạnh khắc phục lực đối kháng bên ngoài hoặc
đề kháng lại nó bằng nỗ lực của cơ bắp.
Tố chất nhanh: Sức nhanh được coi là tố chất thể lực quan trọng, là khả năng
của con người hoàn thành những hoạt động vận động trong khoảng thời gian ngắn
nhất. Sức nhanh có 3 hình thức biểu hiện chủ yếu: Thời gian tiềm phục của phản
ứng vận động, tốc độ từng cử động riêng lẻ (khi lực cản bên ngoài bé), tần số động
tác Chính vì vậy, chỉ số để đánh giá sức nhanh rất phong phú. Những hình thức
biểu hiện đơn giản của sức nhanh tương đối độc lập với nhau, nhất là các chỉ số
của thời gian phản ứng trong nhiều trường hợp, những chỉ số ấy tương ứng với
những chỉ số của tốc độ động tác. Có thể phản ứng thì vô cùng mau lẹ và trái lại thì
động tác thì tương đối chậm hoặc ngược lại. Sự kết hợp 3 hình thức đã nêu trên xác
định mọi trường hợp biểu hiện sức nhanh.
Tố chất bền: Là năng lực thực hiện một hoạt động với cường độ cho trước,
hay là năng lực duy trì khả năng vận động trong thời gian dài nhất mà cơ thể có
thể chịu đựng được.
Tố chất khéo léo: Khéo léo cũng là một tố chất thể lực. Khéo léo là tổng hợp
các năng lực phối hợp vận động hay nói cách khác khéo léo là năng lực tiếp thu
nhanh các động tác mới.

3.1.3.4. Cơ sở lý luận của việc huấn luyện nâng cao thành tích nhảy xa:
Tố chất thể lực tăng trưởng đều đặn cùng với sự tăng của lứa tuổi. Sự tăng

Nhiệm vụ chủ yếu của vận động viên cự ly ngắn là mau chóng đạt được tốc độ
tối đa và duy trì nó đến hết cự ly. Trong đó giữa tần số và độ dài bước có mâu
thuẫn với nhau ở mức nhất định. Việc tăng độ dài bước chạy sẽ làm giảm tần số
bước và ngược lại. Vì vậy trong thực tế vận động viên cự ly ngắn không thể chạy
với độ dài bước tối đa hoặc tần số bước tối đa, mà chỉ có thể chạy với tần số và
độ dài bước cao để không làm giảm tốc độ chạy.
Người ta thấy rằng việc tăng một yếu tố nào trong khi duy trì được độ lớn của
yếu tố kia hoặc đồng thời tăng được cả hai là một công việc rất phúc tạp. Thực tế
cho thấy con đường để giải quyết nhiệm vụ trên là tăng đến mức tối đa vai trò các
thành phần của tốc độ trong mối quan hệ giữa chúng. Sử dụng các bài tập chuyên
môn để phát triển tần số và độ dài bước. Tốc độ chạy khi đó không đạt được mức
tối đa, nhưng tăng được các thành phần của tốc độ chạy và tiếp theo sẽ tạo được
khả năng để vận động viên phối hợp độ dài bước ở mức độ cao hơn để nâng được
tốc độ chạy.
Phương pháp tổ chức có hiệu quả nhất nhằm huấn luyện sức mạnh nhanh (tốc
độ) và sự phối hợp với biên độ bước cho cự ly ngắn, thường sử dụng những bài tập
sau: Gánh tạ đạp sau nhanh, chạy có người kéo, lặp lại những bài 30m, 60m tốc độ
cao…
3.1.3.4.2. Huấn luyện sức bền tốc độ:
Những điều kiện cơ bản trong huấn luyện sức bền tốc độ là thực hiện một
khối lượng vận động lớn tới mức cho phép với một lực cản được nâng cao hơn với
những điều kiện thi đấu. Tuy các năng lực sức bền tốc độ cần thiết cho thành tích
thể thao cũng được phát triển qua các hình thức của lượng vận động để huấn luyện
sức mạnh nhanh và sức bền. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các môn thể thao
mang tính chất sức bền tốc độ như chạy: 200m, 400m.
Huấn luyện sức bền tốc độ được tiến hành trước hết bằng các bài tập chuyên
môn gắn liền với hình thức vận động của môn thi đấu. Đối với cự ly ngắn thường
sử dụng những bài tập lặp lại cự ly 200m, 300m nhiều lần với thời gian nghỉ vừa,
mạch đập từ 120–130 lần/phút.
3.1.4. Tóm tắt đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 16:

Phương pháp này cho tôi hệ thống lại những các kiến thức có liên quan đến
lĩnh vực nghiên cứu hình thành cơ sở lý luận, xác định mục đích, mục tiêu nghiên
cứu, hình thành cở sở lý luận xác định mục đích, mục tiêu nghiên cứu, đồng thời
xây dựng tổng quan, xử lý phân tích kết quả nghiên cứu của đề tài.
3.2.1.2 Phương pháp phỏng vấn:
Mục đích của việc sử dụng phương pháp này là nhằm tìm hiểu việc sử dụng
các bài tập phát triển thể lực chuyên môn nhằm nâng cao thành tích nhảy xa kiểu
ưỡn thân của các đồng nghiệp, tham khảo ý kiến của các chuyên gia. Để từ đó
chọn lọc một số bài tập phát triển thể lực chuyên môn nhằm nâng cao thành tích
nhảy xa kiểu ưỡn thân.
Đối tượng phỏng vấn là các giáo viên trực tiếp giảng dạy môn nhảy xa ở các
trường phổ thông trong và ngòai tỉnh.
Hình thức phỏng vấn gián tiếp thông qua bảng câu hỏi.
3.2.1.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
- Để nghiên cứu tác dụng của các bài tập phát triển thể lực nhằm nâng cao thành
tích nhảy xa cho học sinh nam lớp 11 tôi tiến hành thực nghiệm trên 02 nhóm đối
tượng theo kiểu thực nghiệm được lựa chọn là kiểu thực nghiệm so sánh song song
bao gồm một nhóm thực nghiệm và một nhóm đối chứng:
+ Nhóm thực nghiệm gồm 50 em học sinh nam lớp 11 do Tôi chọn ngẫu
nhiên, thời gian tập luyện mỗi tuần 1 buổi, mổi buổi 2 tiết. Nội dung tập luyện do
11
Tôi biên soạn dựa theo các bài tập đã được chọn qua kết quả phỏng vấn, và được
thực hiện vào 15 phút đầu của buổi tập.
+ Nhóm đối chứng gồm 50 em học sinh nam lớp 11 do Tôi chọn ngẫu nhiên,
thời gian tập luyện giống nhóm thực nghiệm. Mỗi tuần tập 1 buổi, mỗi buổi 2 tiết.
Nội dung tập luyện theo chương trình học của Bộ.
Sau 1 năm Tôi tiến hành khảo sát các bài tập trên để tìm hiểu mức độ phát
triển nhằm xác định tác dụng của các bài tập phát triển thể lực chuyên môn để
nâng cao thành tích nhảy xa cho học sinh nam lớp 11.
Khâu chọn đề tài, xây dựng đề cương, bắt tay vào nghiên cứu và đến khi

+ Phương pháp tiến hành: Mỗi lần chạy một học sinh. Xuất phát thấp có bàn
đạp, sau khi có lệnh người chạy nhanh chóng rời khỏi bàn đạp chạy nhanh về đích.
Thành tích được tính từ vạch xuất phát đến điểm đích (30m, 60m, 100m). Kết quả
tính bằng giây, mỗi học sinh chỉ được chạy một lần.
* Bật xa tại chỗ:
12
+ Sân bãi, dụng cụ: Tiến hành kiểm tra bật xa trên hố cát, điểm rơi cùng nằm
trên mặt phẳng nằm ngang, thước dây, giấy bút ghi chép.
+ Phương pháp tiến hành: Người thực hiện đứng sau vạch giậm nhảy, 2 chân
rộng khoảng bằng vai, 2 tay để thả lỏng, hơi khuỵu gối xuống 2 tay vung lên cao,
xuống dưới, ra sau để tạo đà và bật nhảy về phía trước, rơi 2 chân xuống hố cát và
ngả người về phía trước (không ngã hoặc chống về sau). Mỗi học sinh thực hiện 2
lần, lấy thành tích ở lần đạt cao nhất, thành tích được tính từ mũi bàn chân ngón
cái lúc đứng chuẩn bị cho đến gót chân gần nhất khi bật xa kết thúc.
* Ngồi xổm bật cóc 30m:
+ Sân bãi, dụng cụ: sân trường, đồng hồ bấm giây, cờ, giấy bút.
+ Cách tiến hành: thực hiện lần lượt từng người, tư thể ngồi xổm trên hai
chân, hai tay chống hông, bật về trước thực hiện hết cự ly 30m, bấm giây tính
thành tích.
* Bật lò cò 30m:
+ Sân bãi, dụng cụ: sân trường, đồng hồ bấm giây
+ Cách tiến hành: thực hiện lần lượt từng người, tư thể thực hiện xuất phát
cao, khi có hiệu lệnh xuất phát thực hiện lò cò một chân, thực hiện bằng chân trụ,
cự ly 30m, bấm giây tính thành tích.
* Bật xa 3 bước:
+ Sân bãi, dụng cụ: Tiến hành kiểm tra bật xa trên hố cát, điểm rơi cùng nằm
trên mặt phẳng nằm ngang, thước dây, giấy bút ghi chép.
+ Phương pháp tiến hành: Người được đo đứng sau vạch xuất phát cách vạch
3 bước, 2 chân rộng khoảng bằng vai. Khi có lệnh người được đo lấy đà nhanh
chóng bước 3 bước, về vạch xuất phát rồi dùng sức của bàn chân, cẳng chân, đùi

ni
(X – X)
X2 iŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽŽ
2
i
Nhịp độ tăng trưởng: (W%)
( )
%100
5,0
%
12
1
2
×


=
XX
XX
W
Hệ số biến thiên :
V% =
Sai số tương đối:
Chỉ tiêu t: (Student}
t = với n ≥ 30
3.2.2. TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU:
3. 2.2.1 Đối tượng nghiên cứu: Gồm 100 em học sinh nam lớp 11, chia làm
hai nhóm, trong đó
+ Nhóm thực nghiệm 50 học sinh
+ Nhóm đối chứng 50 học sinh

nhằm nâng cao thành tích nhảy xa. Trên cơ sở đó tôi sẽ chọn những bài tập được
nhiều người đồng ý sau khi lấy ý kiến thăm dò, phỏng vấn (trên 70% đồng ý) đưa
vào chương trình thực nghiệm. Còn những bài tập được lựa chọn ít hơn (dưới 70%
đồng ý) tôi sẽ loại bỏ không sử dụng trong chương trình thực nghiệm.
4.1.1.Thu thập, tổng hợp các bài tập thể lực nhằm nâng cao thành tích
nhảy xa của nam học sinh lớp 11.
Các tác giả Xirixơ.P.Đ – Gaidrơxca P.M – Ratrep K.I, trong “Nghiên cứu
đánh giá trình độ tập luyện trong các thời kỳ khác nhau”, đã dùng các bài tập sau
để đánh giá trình độ thể lực của vận đông viên nhảy xa : nhảy xa (cm). chạy 20m
có đà (gy), bật cao (cm), bật xa (cm), bật 3 bước (cm), lực lưng (kg).
Trong tiêu chuẩn kiểm tra đánh giá trình độ tập luyện và tuyển chọn vận động
viên điền kinh, các tác giả Trung Quốc đã đưa ra hệ thống các chỉ tiêu và xác định
cả tỷ trọng của các chỉ tiêu trong tuyển chọn nam VĐV nhảy xa lứa tuổi 13 – 17
là : Điều kiện cơ thể : Chỉ số Quetelet, dài chân, B/chiều cao, công năng tim. Trình
độ kỹ thuật : Chạy 100m (gy), nhảy xa ( cm), đẩy tạ (cm), chạy 1500 (gy), chạy
30m tốc độ cao (gy), hất tạ (4kg) quay đầu ra sau (cm), đà 5 bước nhảy 5 bước, đà
7 bước nhảy xa, kỹ thuật nhảy xa.
Pôpốp V.B, đã đưa ra các chỉ tiêu đánh giá trình độ chuẩn bị sức mạnh tốc độ
của vận động viên trong nhảy xa bằng thành tích lập bài tập thông qua các nội
dung mà hầu hết đều nhằm đánh giá sức mạnh chân dưới các góc độ khác nhau,
như : chạy 30m (gy), chạy 60m (gy), chạy 100m có xuất phát (gy), nhảy cao kiểu
bước qua (cm), nhảy bật 50 lần trên 1 chân với 6 bước đà (xác định độ dài và thời
gian), chạy 30m (gy), chạy 60m (gy), chạy 100m có xuất phát (gy), nhảy cao kiểu
bước qua (cm), nhảy bật cao 5 lần liên tục (gy), ngồi xuống đứng lên với trọng
lượng tối đa (kg), nâng 2 chân lên thang thể dục 10 lần (gy).
Trong “Kiểm tra năng lực thể chất và thể thao” của Lê Bửu – Nguyễn Thế
Truyền đã đưa ra 9 test và 1 chỉ số tuyển chọn vận động viên nhảy xa thì có đến 6
15
test gắn liền với sức mạnh cơ chân: chạy 20m tốc độ cao (gy), bật cao tại chỗ (gy),
bật xa tại chỗ (gy), bật ba bước tại chỗ (cm), nhảy xa có đà (cm), lực lưng (kg),


16
Bảng 1
NỘI DUNG BÀI TẬP
KẾT QUẢ PHỎNG VẤN
ĐỒNG Ý TỶ LỆ
1.
Chạy 30m xuất phát thấp (gy)
25/30 83,33%
2. Chạy 60m xuất phát thấp (gy) 21/30 70%
3. Chạy lặp lại 5 x 30m (gy) 17/30 56,66%
4. Chạy 30m tốc độ (gy) 23/30 76,66%
5. Chạy 100m xuất phát thấp (gy) 23/30 76,66%
6. Chạy 40m xuất phát thấp (gy) 17/30 56,66%
7. Chạy đạp sau 60m (gy) 19/30 63,3%
8. Bật lò cò 30m (gy) 29/30 96,66%
9. Bật 3 bước (m) 27/30 90%
10. Bật 10 bước (m) 19/30 63,3%
11. Bật xa tại chỗ (m) 24/30 80%
12. Bật cao tại chỗ (m) 16/30 53,33%
13. Bật cao 5 lần liên tục (gy) 18/30 60%
14. Ngồi xổm bật cóc 30m (gy) 26/30 86,66%
Căn cứ vào kết quả phỏng vấn, tôi đã chọn được 8 bài tập có hơn 70% ý kiến
đồng ý để đưa vào chương trình thực nghiệm, đó là các bài tập sau:
Bảng 2
STT BÀI TẬP TỶ LỆ
1 Chạy 30m tốc độ 76,66%
2 Chạy 30m xuất phát thấp 83,33%
3 Bật xa tại chỗ 80%
4 Chạy 60m xuất phát thấp 70%


Qua kết quả được tình bày ở bảng 3, tôi nhận thấy các chỉ số của hệ số biến
thiên (V%) nằm tỏng khoản từ 1.52% đến 8.37% (< 10%), nên mẫu có độ đồng
nhất cao. Các chỉ số của sai số tương đối (ε) nằm trong khoản từ 0.004 đến 0.024
(< 0.05). Điều này cho ta thấy giá trị trung bình mẫu đủ tính đại diện. Vậy giá trị
trung bình của tập hợp mẫu có độ tin cậy cao.
Bảng 4 : Nhóm thực nghiệm (lần 1)
TT BÀI TẬP ĐV
X
S
x
V% ε
1. Chạy 30m tốc độ
Giây 3.75 0.10 2.80 0.008
2. Chạy 30m xuất phát thấp
Giây 4.77 0.24 5.04 0.014
3. Bật xa tại chỗ
Mét 2.36 0.17 7.14 0.020
4. Chạy 60m xuất phát thấp
Giây 9.05 0.13 1.47 0.004
5. Bật lò cò 30m
Giây 9.12 0.85 9.36 0.047
6. Chạy 100m xuất phát thấp
Giây 17.44 1.52 3.00 0.009
7. Bật xa 3 bước
Mét 6.00 0.29 4.80 0.014
8. Bật cóc 30m
Giây 15.38 1.30 8.44 0.024
Qua bảng 4 tôi có nhận xét sau : các chỉ số của hệ số biến thiên (V%) nằm
trong khoản từ 1.25% đến 6.54% (<10) nên mẫu có độ đồng nhất cao. Các chỉ số

4.19 0.08 1.82 0.005
Nhóm thực nghiệm
4.27 0.10 2.34 0.007
Qua số liệu ở bảng 6 cho thấy các chỉ số của hệ số biến htiên (V%) nằm
trong khoản từ 1.82% đến 2.34% (<10) nên mẫu có độ đồng nhất cao. Các chỉ số
của sai số tương đối (ε) nằm trong khoản từ 0.004 đến 0.019 (< 0.05). Điều này
cho ta thấy giá trị trung bình mẫu đủ tính đại diện. Vậy giá trị trung bình của tập
hợp mẫu có độ tin cậy cao. Thành tích nhảy xa lần 2 của cả hai nhóm đối ch ứng
và thực nghiệm đều tốt hơn lần 1.
Tuy nhiên thành tích nhóm thực nghiệm vượt trội hơn hẳn so với thành tích
nhóm đối chứng.
4.4.2. Thành tích 8 bài tập (lần 2)
Qua một năm tập luyện tôi thu được kết quả của các nhóm như sau:
Bảng 7: Nhóm đối chứng (lần 2)
TT BÀI TẬP ĐV
X
S
x
V% ε
1 Chạy 30m tốc độ Giây 3.70 0.10 2.72 0.008
2 Chạy 30m xuất phát thấp Giây 4.76 0.18 3.70 0.011
3 Bật xa tại chỗ Mét 2.38 0.16 6.54 0.010
4 Chạy 60m xuất phát thấp Giây 9.01 0.12 1.28 0.004
5 Bật lò cò 30m Giây 9.11 0.46 5.04 0.014
6 Chạy 100m xuất phát thấp Giây 17.40 0.22 1.25 0.014
7 Bật xa 3 bước Mét 6.07 0.23 3.78 0.011
8 Bật cóc 30m Giây 15.42 1.00 6.52 0.019

Qua số liệu ở bảng 7 cho thấy các chỉ số của hệ số biến thiên (V%) nằm
trong khoản từ 1.47% đến 9.36% (<10) nên mẫu có độ đồng nhất cao. Các chỉ số

TT BÀI TẬP ĐV
X

(lần
1)
X

(lần 2)
W%
1 Chạy 30m tốc độ Giây 3.74 3.70 - 1.12
2 Chạy 30m xuất phát thấp Giây 4.84 4.76 - 1.69
3 Bật xa tại chỗ Mét 2.31 2.38 2.88
4 Chạy 60m xuất phát thấp Giây 9.04 9.01 - 0.42
5 Bật lò cò 30m Giây 9.25 9.11 - 1.50
6 Chạy 100m xuất phát thấp Giây 17.55 17.40 - 0.81
7 Bật xa 3 bước Mét 5.98 6.07 1.44
8 Bật cóc 30m Giây 15.80 15.42 - 2.50
20
Bảng 10: Nhóm thực nghiệm
TT BÀI TẬP ĐV
X

(lần 1)
X

(lần 2)
W%
1 Chạy 30m tốc độ Giây 3.75 3.67 - 2.77
2 Chạy 30m xuất phát thấp Giây 4.77 4.59 - 3.80
3 Bật xa tại chỗ Mét 2.36 2.48 4.17

Lần 1 4.17 0.16 3.76 0.01
1
2.23 3.58 <0.001
Lần 2 4.27 0.10 2.34 0.00
7
Qua bảng 11 cho chúng ta thấy: Sau quá trình áp dụng các bài tập thể lực
trong tập luyện, thành tích nhảy xa của 2 nhóm đều có tăng tiến. Nhịp độ tăng
trưởng của nhóm thực nghiệm vượt trội so với nhóm đối chứng (W% nhóm đối
chứng 1.07; W% nhóm thực nghiệm: 2.23)
21
4.6. Kiểm định kết quả thực nghiệm:
Qua kiểm định gỉả thuyết tính thực nghiệm của nhóm đối chứng. Mặc dù
thành tích có tăng so với lần 1 nhưng so sánh hai giá trị trung bình giữa lần 1 và
lần 2 thì giá trị t – student lại không có ý nghĩa thống kêê với ngưỡng xác suất
P>0.05. Trên cơ sở đó tôi có kết luận: sau 1 năm tập luyện thành tích nhảy xa nam
học sinh lớp 11 có sự tăng tiến so với lần 1, nhưng sự tăng tiến lại không có ý
nghĩa thống kê với ngưỡng xác suất P>0.05 ở nhóm đối chứng.
Qua kiểm định gỉả thuyết tính thực nghiệm của nhóm thực nghiệm. có ý
nghĩa thống kêê với xác suất P < 0.001. Cụ thể là : nhảy xa thành tich trung bình
4.27m ± 0.10 (với t = 3.58; P < 0.001). Trên cơ sở đó tôi có kết luận: sau 1 năm tập
luyện thành tích nhảy xa nam học sinh lớp 11 nhóm thực nghiệm trường THPT
Tam Phước, Biên Hòa, Đồng Nai tốt hơn năm đầu.
V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
Từ thực tế vận dụng những cách thức trên khi dạy những bài học kỹ thuật
nhảy xa, tôi thấy đây là phương pháp giảng dạy có tính khả thi, nếu được giáo viên
vận dụng linh hoạt, khéo léo trong giờ học sẽ góp phần nâng cao hiệu quả, chất
lượng, phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh trong giờ học.
Tuy nhiên, để có thể vận dụng phương pháp này cần phải có sự phối hợp từ
nhiều phía:
+ Đối với giáo viên: để có thể tiến hành giảng dạy theo cách trên thì nhất

- Chạy 60m xuất phát thấp
- Bật lò cò 30m
- Chạy 100m xuất phát thấp
- Bật xa 3 bước
- Bật cóc 30m
+ Qua quá trình thực nghiệm trong 1 năm học, đề tài đã xác đònh được
các bài tập phát triển thể lực để nâng cao thành tích nhảy xa cho nam học sinh
lớp 11 ở nhóm thực nghiệm so với nhóm đối chứng đa số phát triển đồng đều,
bao gồm các bài tập sau: chạy 30m xuất phát thấp, chạy 30m tốc độ cao, chạy
100m, chạy 60m, chạy lò cò 30m, bật xa 3 bước, bật xa tại chỗ, ngồi xổm bật
cóc 30m, các bài tập này đã chứng tỏ được tính ưu việt của hệ thống bài tập được
lựa chọn trước những bài tập hiện hành trong việc nâng cao thành tích nhảy xa
cho nam học sinh lớp 11 trường THPT Tam Phước – Biên Hòa – Đồng Nai.
6.2. Kiến nghị:
Các bài tập trên có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các giáo viên thể dục
các trường THPT trong tỉnh Đồng Nai, nhất là các trường thuộc địa bàn nơng thơn
để nâng cao thành tích nhảy xa.
Tơi sẽ xin ban giám hiệu trường THPT Tam Phước cho tơi áp dụng những
bài tập trên vào chương trình học thể dục của trường nhằm nâng cao thành tích
chung và đặc biệt là các học sinh trong đội tuyển điền kinh của trường.
23
Các trường THPT nên có đường chạy đà và hố nhảy xa tốt hơn để tập
luyện và kiểm tra nhảy xa.
Phối hợp với ngành TDTT thành lập các câu lạc bộ thể thao trường học để
mỗi học sinh có điều kiện tham gia tập luyện thường xuyên một môn thể thao mà
mình ưa thích. Tăng cường công tác ngoại khoá, thi đấu thể thao theo chuyên đề
cho các dịp lễ, tết trong trường học.
Qua đề tài này Tôi đã rất cố gắng nhưng cũng không tránh khỏi những
thiếu sót. Rất mong được sự góp ý của các thầy cô trong ban giám khảo để giúp
Tôi hoàn thiện đề tài hơn nữa. Tôi xin chân thành cảm ơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status