Sáng kiến kinh nghiệm
Đề Tài
Áp dụng một số biện pháp
để rèn kỹ năng nói trong giờ kể chuyện
cho học sinh lớp 2 “chương trình mới”
Sáng kiến kinh nghiệm
Tên đề tài
Áp dụng một số biện pháp để rèn kỹ năng nói
trong giờ kể chuyện cho học sinh lớp 2
“chương trình mới”
Phần I: Lý do chọn đề tài
Phân môn kể chuyện ở tiểu học có một vị trí quan trọng. Nó góp
phần bồi dưỡng tâm hòn, đem lại niềm vui, trau dồi vốn sống và vốn văn học, phát
triển tư duy và ngôn ngữ cho học sinh. Ngoài ra nó còn nhằm nâng cao năng lực
trí tuệ, đồng thời rèn luyện cho các em khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ. Chính vì
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước đòi hỏi phải
đổi mới chương trình giáo dục phổ thông. Nhân tố quyết định thắng lợi là nguồn
lực con người Việt Nam trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao, cho nên trước
hết phải chăm lo phát triển nguồn lực con người, chuẩn bị lớp người lao động có
những phẩm chất và năng lực phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai
đoạn mới. Điều này cần được bắt đầu từ giáo dục phổ thông.
Năm 2003 - 2004 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã áp dụng thay sách
giáo khoa lớp 2 trên toàn quốc. ở chương trình tiểu học mới, phân môn kể chuyện
có mối quan hệ gắn bó với các phân môn khác như Tập đọc, Tập làm văn. Nó có
sự gắn bó không chỉ ở sự phân bố giờ học mà còn ở nội dung dạy, thể hiện rõ quan
điểm tích hợp trong việc xây dựng chương trình ở chương trình tiểu học mới, tạo
ra một phong cách mới trong dạy học phân môn kể chuyện. Việc lấy văn bản ở bài
Tập đọc làm ngữ liệu cho giờ kể chuyện, giúp giáo viên tiết kiệm được khá nhiều
thời gian, giúp học sinh tìm hiểu truyện; ghi nhớ cốt truyện. Do đó, chương trình
đã dành được nhiều thời gian cho việc rèn kỹ năng nói cho học sinh.
Như chúng ta đã biết, việc rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh nhằm
đáp ứng mục tiêu giáo dưỡng mà chương trình đề ra là một việc làm không dễ
dàng, đòi hỏi phải có sự đầu tư về thời gian và sự phối hợp chặt chẽ giữa các phân
môn. Kể chuyện không phải là phân môn duy nhất có nhiệm vụ rèn kỹ năng nói.
Vì vậy chương trình Tiếng Việt tạo ra mối quan hệ giữa phân môn kể chuyện với
phân môn Tập đọc và Tập làm văn là một việc làm khoa học.
Kể chuyện là khả năng sử dụng ngôn ngữ ở dạng nói có tính nghệ
thuật. Đây là một dạng đặc biệt của đối thoại.
Thực tế cho thấy kể chuyện có một sức hấp dẫn kỳ lạ, đặc biệt với
học sinh lứa tuổi tiểu học. Sức hấp dẫn đó không hề giảm đi dù câu chuyện đã
được các em đọc trước nhiều lần. Bởi lẽ khi kể một câu chuyện, người kể không
trình bày nguyên văn một bản viết hay đọc lại văn bản đó, mà lúc này người kể
nhập vào một thế giới, khác với thế giới đang sống, đó là thế giới của câu chuyện.
Trong câu chuyện ấy, người kể lúc là người dẫn chuyện, lúc lại là nhân vật này
pháp, hình thức tổ chức phù hợp cho việc rèn luyện kĩ năng nói của học sinh.
Chẳng hạn về phương pháp: có phương pháp kể chuyện bằng tranh, phương pháp
đàm thoại, phương pháp nhập vai, phân vai. Về hình thức tổ chức: hình thức lớp -
bài, hình thức học theo nhóm trong đó hình thức học theo nhóm là chủ yếu. Hình
thức học này giúp học sinh bình tĩnh, tự tin hơn và mạnh dạn nói ra ý kiến của
mình. ở đây, học sinh được tham gia nói nhiều hơn, được phát huy khả năng nói
của mình.
Phần III: Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh qua
phân môn kể chuyện lớp 2, chương trình mới.
Trong cấu trúc SGK Tiếng Việt lớp 2, các câu chuyện được phân bố
như sau:
Thể loại truyện
Số
lượng
Tên truyện
Thần thoại
Truyền thuyết
2
Sơn Tinh, Thuỷ Tinh
Chuyện quả bầu
Cổ tích và cổ
tích
mới
5
Sự tích cây vú sữa
Hai anh em
Bà cháu
Tìm ngọc
Ông Mạnh thắng Thần Gió
Cười 0
lượng
Tên truyện
Người thầy cũ
Người làm đồ chơi
Bông hoa niềm vui
Sáng kiến của bé Hà
Con chó nhà hàng xóm
Những quả đào
Đồng thoại 3
Bạn của Nai nhỏ
Chim Sơn ca và bông cúc trắng
Bác sĩ Sói.
1. Rèn luyện kĩ năng nói qua phương pháp, hình thức tổ chức dạy học:
Theo luật giáo dục về yêu cầu nội dung, phương pháp giáo dục
tiểu học thì: phương pháp giáo dục tiểu học phải phát huy tính tích cực, tự giác,
chủ động của từng học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi
dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn,
tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh.
Đổi mới phương pháp dạy học là một khâu quan trọng không thể
thiếu được trong quá trình giáo dục. Đổi mới phương pháp dạy học được thể hiện
đậm nét trong chương trình mới ở chỗ:
Chương trình tiểu học mới tập trung vào cách dạy học, đặc biệt là giúp
học sinh biết cách học và có nhu cầu tự học, khuyến khích dạy học cá nhân và dạy h ọc
hợp tác để phát triển năng lực theo tốc độ học, khả năng của từng học sinh.
Là một phân môn nằm trong chương trình tiểu học mới, phân môn
kể chuyện lớp 2 cũng được dạy theo phương pháp mới. Trong giờ kể chuyện, giáo
viên chỉ nêu đầu bài, yêu cầu và mục đích của tiết kể chuyện. Học sinh tự kể (cá
nhân) hoặc nhóm theo các yêu cầu đó. Giáo viên chỉ là người đạo diễn, hướng dẫn,
chỉ đạo, còn học sinh là diễn viên, là người thực hiện, chủ đạo trong tiết kể chuyện
ngừng nghỉ, chuẩn bị. Chính vì vậy đòi hỏi học sinh phải chuẩn bị kĩ càng nội
dung kể, tâm thế kể chuyện (thậm chí cả ngôn từ và các yếu tố phụ trợ). Khi kể
chuyện, ngoài việc tự nghe mình kể, các em còn phải lưu ý quan sát những phản
ứng từ người nghe, để có sự điều chỉnh phù hợp về nội dung, giọng kể, điệu bộ
Những học sinh khác, khi bạn kể chú ý nghe để nhận xét lời kể của bạn về
nội dung, về cách diễn đạt, cách thể hiện để bạn rút được kinh nghiệm và chính
bản thân các em cũng được bổ trợ những kinh nghiệm đó để điều chỉnh mình khi
kể.
Qua đây, ta thấy: rõ ràng phương pháp kể chuyện mới này đã có những tiến
bộ rõ rệt: trong tiết học, giáo viên chỉ là người hướng dẫn chỉ đạo còn học sinh
mới thực sự là người làm cho tiết học sôi nổi, hấp dẫn hơn. Bởi trong tiết kể
chuyện, hoạt động của học sinh chiếm 2/3 tiết học. Như vậy có nghĩa là học sinh
được chủ động trong việc nghe nói, đẩy ngôn ngữ nói của các em lên một mức cao
hơn.
2. Rèn luyện kĩ năng nói qua hình thức kể chuyện theo tranh:
a. Thế nào là kể chuyện theo tranh?
Chúng ta cần phân biệt kể chuyện theo tranh và sử dụng tranh minh
hoạ cho truyện. Tranh ảnh là đồ dùng trực quan có thể được sử dụng trong bất kì
một môn học nào. Nhưng các môn học khác, sử dụng tranh khi giới thiệu khái
niệm hoặc nhằm minh hoạ cho khái niệm, nhưng ở tiết dạy kể chuyện của chương
trình cải cách giáo dục, giáo viên sử dụng tranh vẽ để minh hoạ cho nội dung
truyện, làm cho lời kể mẫu của mình sinh động và hấp dẫn hơn. Còn hình thức kể
chuyện theo tranh của chương trình mới thì hoàn toàn khác. Giáo viên phải chuẩn
bị đầy đủ tranh vẽ thể hiện nội dung, diễn biến của câu chuyện. Học sinh dựa vào
tranh vừa là phương tiện trợ giúp trí nhớ một cách đắc lực, vừa là công cụ làm cho
việc thể hiện lại câu chuyện một cách sinh động và hấp dẫn. Hình thức kể chuyện
theo tranh là hình thức rất hay, phát huy được khả năng quan sát, óc tưởng tượng,
đặc biệt là phát huy khả năng nói (ngôn ngữ) ở các em.
b. Hướng dẫn kể chuyện theo tranh của sách giáo khoa và sách giáo
viên:
rồi gục đầu ngủ lúc nào không biết. Lúc tập viết, cậu cũng chỉ nắn nót được mấy
chữ đầu, rồi viết nguệch, viết ngoạc cho xong chuyện.
* Kể theo tranh 2:
Câu hỏi gợi ý:
- Tranh vẽ bà cụ đang làm gì?
- Cậu bé hỏi bà cụ điều gì?
- Bà cụ trả lời thế nào?
-C ậu bé có tin lời bà cụ nói không?
* Kể theo tranh 3:
Câu hỏi gợi ý:
- Bà cụ trả lời thế nào?
- Sau khi nghe bà cụ giảng giải, cậu bé làm gì?
Học sinh có thể tách lời giảng giải của bà cụ thành nhiều câu ngắn:
Hôm nay bà mài. Ngày mai bà lại mài. Mỗi ngày thỏi sắt nhỏ lại một ít.
Chắc chắn có ngày nó sẽ thành cái kim
* Kể theo tranh 4:
Câu hỏi gợi ý:
- Em hãy nói lại câu tục ngữ.
- Câu tục ngữ khuyên em điều gì?
Như vậy, ta thấy: đối với những câu chuyện kèm theo lời gợi ý, sách giáo
viên đã hướng dẫn khá kĩ. Vì vậy, giáo viên nhìn hệ thống câu hỏi gợi ý này có thể
điều hành một tiết kể chuyện dễ dàng, còn học sinh thì dựa vào hệ thống câu hỏi
đó có thể tự mình kể được câu chuyện.
Vậy là hình thức kể chuyện theo tranh đã phát huy được tác dụng của nó,
đó là việc rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh.
Để dạy được hình thức bài tập này đạt hiệu quả cao thì giáo viên không nên
trao đổi tất cả các tranh cùng một lúc. Kể đoạn nào giáo viên treo tranh đoạn đó để
thu hút sự tập trung của các em. Nếu nhìn tranh kể lại toàn bộ câu chuyện thì mới
treo tất cả tranh cùng một lúc.(Phần củng cố)
Hơn nữa, giáo viên nên cho học sinh quan sát dưới lớp trước, sau đó gọi các
b. Hướng dẫn học sinh kể chuyện bằng hội thoại, giao tiếp trong sách giáo
khoa và sách giáo viên.
* Trong sách giáo khoa:
Qua khảo sát sách giáo khoa lớp 2 chương trình mới ta thấy, đây cũng là
một hình thức phổ biến của phân môn kể chuyện lớp 2 chương trình tiểu học mới.
Hình thức này không có yếu tố tranh ảnh phụ trợ. Song mỗi đoạn truyện thường có
3-4 câu gợi ý ngắn, mỗi câu gợi ý chứa đựng nội dung tổng hợp của đoạn truyện.
Những câu gợi ý đó lại gợi lại trí nhớ, trí tưởng tượng của học sinh một cách dễ
dàng. Lệnh của hình thức kể chuyện bằng hội thoại, giao tiếp thường là: “Dựa vào
các gợi ý sau kể lại từng đoạn của câu chuyện mới học”. Sau khi phát lệnh, giáo
viên ghi gợi ý của từng đoạn lên bảng và cho học sinh nhìn vào gợi ý đó để các em
có thể kể lại. Tuy nhiên, để cho hình thức này phát huy hiệu quả rèn kĩ năng nói
cho học sinh thì giáo viên không nên ghi những gợi ý đó lên bảng ngay, mà cần
đưa ra câu hỏi cho học sinh trả lời. Những câu hỏi này phải đảm bảo tính logic của
truyện.
Như vậy, ở hình thức này, sách giáo khoa có những dạng bài tập cụ thể sau:
- Dạng 1: Sách giáo khoa đưa ra gợi ý hoặc dàn ý tương đối cụ thể để
hướng dẫn học sinh kể lại câu chuyện. Ví dụ: bài Chim sơn ca và bông cúc trắng
(Tiếng Việt2-tuần 21). Có một số bài thay dạng bài tập này bằng dạng bài tập
“Dựa vào tóm tắt sau kể lại câu chuyện”. Ví dụ: Người làm đồ chơi (Tiếng Việt 2-
tuần 34).
- Dạng 2: Nêu những nhân vật trong câu chuyện, kể lại sự xuất hiện của
nhân vật, nhắc lại lời nhân vật. Ví dụ truyện Người thầy cũ (Tiếng Việt 2 - tập 1),
Bạn của Nai nhỏ(Tiếng Việt 2-tập 1),
- Dạng 3: Tóm tắt nội dung của từng đoạn bằng một câu và đặt tên cho từng
đoạn truyện. Ví dụ truyện Một trí khôn hơn trăm trí khôn (Tiếng Việt 2 –tuần 22).
* Trong sách giáo viên:
Thứ nhất: Dạng bài tập nhắc lại lời nhân vật trong truyện.
Ví dụ truyện “Bạn của Nai nhỏ” (Tiếng Việt 2-tập 1), yêu cầu: nhắc lại lời
của Nai bố khi Nai nhỏ kể về bạn, sách giáo viên đã hướng dẫn như sau:
Như vậy, cũng giống như dạng bài tập trên, ở dạng bài tập này, sách giáo
viên cũng hướng dẫn khá kĩ. Chắc chắn khi nhìn vào những gợi ý này học sinh sẽ
kể được truyện.
Thứ ba: Dạng bài tập dựa vào gợi ý, kể laị từng đoạn câu chuyện.
Ví dụ truyện “Chim sơn ca và bông cúc trắng” (lớp 2 –tập 2), yêu cầu: Dựa
vào các gợi ý dưới đây, kể lại từng đoạn câu chuyện trên bằng lời của em; sách
giáo viên đã hướng dẫn như sau:
Trước khi kể từng đoạn, giáo viên cho học sinh đọc thầm toàn bộ dàn ý câu
chuyện trong sách giáo khoa, trả lời:
- Truyện có mấy đoạn? Nôị dung chính của từng đoạn?
Truyện có 4 đoạn:
+ Đoạn 1: Cuộc sống tự do, sung sướng của Sơn Ca và Cúc.
+ Đoạn 2: Sơn Ca bị cầm tù.
+ Đoạn 3: Trong tù.
+ Đoạn 4 : Sự hối hận muộn màng.
- Giáo viên viết nội dung từng đoạn lên bảng.
Qua đây ta thấy: ở dạng bài tập này, sách giáo viên cũng đã hướng dẫn khá
kĩ. Điều đó giúp giáo viên rất nhiều trong giờ lên lớp tiết kể chuyện. Bởi giáo viên
không mất nhiều thời gian trong việc chuẩn bị giáo án, hơn nữa lại giúp học sinh
rèn kĩ năng nói tốt.
4. Rèn luyện kĩ năng nói qua hình thức kể chuyện phân vai:
a.Thế nào là kể chuyện phân vai?
Đây là hình thức thu hút được đông đảo học sinh tham gia. Không chỉ các em
tham gia đóng vai có thể hiện tính cách của nhân vật mà các em ngồi dưới theo dõi, cổ
vũ hết sức nhiệt tình. Chính sự hứng thú của học sinh là điều kiện tốt để giáo viên rèn
luyện kĩ năng nói, giao tiếp cho các em trong giờ kể chuyện.
Ví dụ khi phân vai dựng lại câu chuyện Quả tim khỉ (Lớp 2-tập 2) gọi 3 em:
một em đóng vai người dẫn chuyện, một em đóng vai Khỉ, và một em đóng vai Cá
sấu. Giọng người dẫn chuyện chậm rãi, nhẹ nhàng; giọng Khỉ ân cần lúc hỏi han
Cá Sấu và bình thản khi biết âm mưu của Cá Sấu; giọng Cá Sấu buồn một cách giả
- Giáo viên nhận xét, cho điể
m
từng học sinh.
- Câu chuyện “Chiếc rễ đa tr
òn”
nói lên điều gì?
- Giáo viên nhận xét, cho điểm.
- Giáo viên nhận xét việc họ
c
bài cũ của học sinh.
- Ba học sinh kể nối tiếp 3 đoạn củ
a
câu chuyện.
- Câu chuyện nói lên tình th
ương
bao la của Bác Hồ đối với mọi người, mọ
i
vật sống xung quanh. Một chiếc rễ đa tr
òn
rơi xuống đất, Bác cũng thương, muố
n
trồng lại cho rễ mọ
c thành cây, nhưng cây
Bác muốn trồng mọc uố
n theo hình vòng
tròn làm chỗ vui chơi cho các cháu thiế
u
nhi.
2.Bài mới:
a. Giới thiệu bài (2 phút).
t,
tác giả vẽ mấy nhân vật trong bứ
c
tranh này? Đó là những nhân vật nào?
(Giáo viên ghi bảng: ghi vào phầ
n
gợi ý).
- Con Dúi làm gì khi bị hai v
ợ
- Học sinh làm theo lời giáo viên.
-Học sinh quan sát tranh.
- Trong tranh vẽ 3 nhân vậ
t: Con
Dúi, vợ chồng người đi rừng. - Con Dúi lạy van xin tha, hứa sẽ
nói điều bí mật.
- Con Dúi mách: sắ
p có mưa to, gió
bức tranh vẽ cảnh gì? Hãy tả lại cả
nh
đó.
chồng cách phòng lụt.
- Giọng kể khoan thai, chậm rãi.
- Hai học sinh kể.
-Học sinh nhận xét.
- Bức tranh vẽ cảnh sau nạn lụ
t. Tác
giả vẽ cảnh hai vợ chồng vừa bước ra từ
qủa bầu. Họ thấy cảnh vật xung quanh đề
u
tàn tạ, héo úa.
- Họ nghe lời khuyên của Dúi: lấ
y
khúc gỗ to, khoét rỗng, chuẩn bị thứ
c ăn
đủ bảy ngày, bảy đêm, rồi chui vào đó, bị
t
kín miệng gỗ bằng sáp ong, hết hạn bả
y
ngày mới chui ra.
- Như vậy, hai vợ chồng họ đ
ã
làm cách nào để thoát khỏi nạn lụt?
(Giáo viên ghi bảng: vào phần gợ
i
ý ).