BM 01-Bìa SKKN
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Trường THPT Tam Phước
Mã số: ................................
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề Tài: NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BÀI TẬP THỂ LỰC
NHẰM NÂNG CAO THÀNH TÍCH NHẢY XA CHO HỌC
SINH NAM LỚP 11 TRƯỜNG THPT TAM PHƯỚC
Người thực hiện: Lê Thị Hòa
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: Thể dục
(Ghi rõ tên bộ môn)
- Phương pháp giáo dục:Nhảy xa
- Lĩnh vực khác:
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
Mô hình Phần mềm Phim ảnh
Hiện vật khác
Năm học: 2012 -2013
Đề Tài: NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BÀI TẬP THỂ LỰC NHẰM NÂNG CAO
THÀNH TÍCH NHẢY XA CHO HỌC SINH NAM LỚP 11 TRƯỜNG THPT
TAM PHƯỚC
I/. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Những năm gần đây, tình hình kinh tế-chính trò-xã hội
của nước ta đã ổn đònh và có bước phát triển đáng kể về
mọi mặt, tạo điều kiện cho việc thực hiện tốt các nhiệm vụ
mục tiêu kinh tế-chính trò-xã hội đã đề ra. Tiếp tục quán triệt,
cụ thể hóa các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và
Nhà nước mà điển hình là chỉ thò số 36 CT/TW ngày 24/3/1994
của ban chấp hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam.
“Phát triển thể dục thể thao là một bộ phận quan trọng trong
chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước
ta nhằm bồi dưỡng nhân tố con người”. Vì thế, Bộ Giáo dục –
Đào tạo về công tác giáo dục thể chất trường học giai đoạn
mới là tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết những
tồn tại hiện nay về chất lượng giáo dục thể chất trong trường
học nói chung, từng bước nâng cao năng lực thể chất cho học
sinh.
Giáo dục thể chất cũng như các hoạt động giáo dục
khác trong nhà trường phổ thông, có nhiệm vụ trang bò kiến
thức khoa học và các kỹ năng, kỹ xảo vận động cho học sinh
nhằm đáp ứng mục tiêu đào tạo con người Việt Nam phát
triển toàn diện. Giáo dục thể chất tạo cho các em học sinh
lòng hăng say học tập, lao động, giữ gìn vệ sinh khắc phục
bệnh tật.
Giáo dục thể chất trong trường phổ thông các cấp thì
điền kinh là một bộ môn cơ bản rất phong phú và đa dạng
gồm nhiều phân môn khác nhau như: chạy, nhảy, ném, đẩy,…
thân’’.
Những cách thức mà tôi tiến hành vận dụng khi giảng dạy kiểu bài này không mới.
Trên thực tế, những cách thức này đã được các đồng nghiệp vận dụng trong quá
trình giảng dạy. Tuy nhiên, việc vận dụng còn chưa thường xuyên, chưa thể hiện
một cách r ràng trong quá trính giảng dạy. Vì vậy, tôi viết đề tài với hi vọng s
giúp quí đồng nghiệp có thêm một vài kinh nghiệm khi giảng dạy. kĩ thuật nhảy xa
kiểu ‘’ưởn thân’’.
ất mong nhận được ý kiến đóng góp c a quí đồng nghiệp. Tôi xin chân
thành cảm ơn.
II. THỰC TRẠNG THÀNH TÍCH NHẢY XA KIỂU ƯỠN THÂN CỦA HỌC
SINH NAM LỚP 11 Ở NHỮNG NĂM TRƯỚC ĐÂY THÔNG KÊ NHƯ
SAU:
2.1.Thực trạng:
Nhảy xa là một môn thể thao không đòi hỏi nhiều về trang thiết bị, kỹ thuật
tương đối đơn giản, dể phổ cập, phù hợp với mọi lứa tuổi, giới tính, do đó nó là nội
dung cơ bản trong chương trình giáo dục thể chất. Thông qua giảng dạy và luyện
tập môn học này s phát triển sức mạnh và sức mạnh góp phần nâng cao thể chất
cho học sinh, trang bị những kiến thức kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho cuộc sống,
không những có lợi cho sức khỏe mà còn có lợi cho cả học tập, lao động sản xuất
và bảo vệ tổ quốc.
Qua nghiên cứu tài liệu sách báo, phim ảnh, nhảy xa được nhiều nhà nghiên
cứu, huấn luyện viên trong và ngoài nước nghiên cứu nhằm tìm ra những biện
pháp huấn luyện để nâng cao thành tích. Tuy nhiên việc nghiên cứu các bài tập
nhằm ứng dụng cụ thể cho đối tượng học sinh phổ thông ở nông thôn với những hố
nhảy xa chưa chuẩn như là đường chạy đà bằng đất sỏi, trời nắng thì quá cứng, trời
mưa thì trơn, hầu như chưa có ai nghiên cứu cụ thể. Qua điều tra nhảy xa cũng
được nhiều học sinh ưa thích và tập luyện thường xuyên. Các trường học trên toàn
quốc thì hầu như nơi nào cũng giảng dạy nghiêm túc, đầy đ theo đúng chương
trình môn thể dục.
4
Năm học 2010 – 2011
: X = 4.17 (mét)
Đầu năm học 2011 – 2012
: X = 4.16 (mét)
Qua kết quả thống kê thành tích nhảy xa c a những năm trước đây với
thành tích đầu năm 2011 – 2012 không có sự vượt trội.
III/. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
3.1CƠ SỞ LÝ LUẬN:
3.1.1.Vài nét về giáo dục thể chất trong nhà trường phổ thông:
Thể thao là một bộ môn c a nền văn hoá chung, là sự tổng hợp những thành
tựu khoa học c a xã hội và sử dụng những biện pháp chuyên môn để điều khiển sự
phát triển thể chất con người một cách ch định nhằm nâng cao sức khoẻ.
Bác Hồ – Vị lãnh tụ vĩ đại tôn kính c a dân tộc Việt Nam từ lòng yêu thương, quý
trọng con người, từ ý chí suốt đời vì nước, vì dân nên người đã phát triển rất cụ
thể, r ràng là biện chứng mối quan hệ hữu cơ giữa sức khoẻ, hạnh phúc c a mỗi
người với sự nghiệp c a đất nước, c a dân tộc, c a xã hội loài người. Người dạy “
Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức
5
khẻo mới thành công. Mỗi một người dân yếu ớt, tức là làm cho cả nước yếu ớt
một phần, mỗi người dân khoẻ mạnh, tức là góp phần cho cả nước mạnh khoẻ”.
Bác Hồ còn chỉ bảo cụ thể hơn “ Muốn giữ gìn sức khoẻ thì nên thường xuyên tập
luyện thể dục thể thao”.
Kỹ thuật chạy đà:
Đối với HSTHPT cự li chạy đà khoảng 15 – 25m. Đo đà, điều chỉnh đà để tìm
ra cự li chạy đã hợp lí, phù hợp với mỗi người tập là mọt việc rất quan trọng trong
nhảy xa.
Khi chạy đà độ dài c a các bước chạy cần tăng dần kết hợp với nâng dần thân
lên, đặc biệt phải tăng dần tốc độ cho đến khi đạt được tốc độ cao nhất. Tiếp theo
duy trì tốc độ cao đó bằng cách giữ ổn định khoảng cách, trật tự và tần số bước
6
chạy. khi chạy đà, đặt nữa trước bàn chân chạm đất, chân đạp sau tích cực và duỗi
thẳng, thân trên hơi ngã về phía trước, tay phối hợp tự nhiên. iêng bước đà cuối
cùng, khi đặt chân giậm nhảy vào ván cần bước nhanh và ngắn hơn bước trước đó
khoảng 1/2 - 1 bàn chân, đặt cả bàn chân chạm ván chuẩn bị cho giậm nhảy. Lúc
này thân trên không ngả ra trước hoặc ra sau, mà giữ ở tư thế thẳng đứng, hai tay
sẳn sàng đánh phối hợp với giậm nhảy đưa người về trước – lên cao. Chạy đà là
một trong hai giai đoạn quan trọng trong nhảy xa.
Giậm nhảy:
Giậm nhảy là giai đoạn quan trọng nhất trong nhảy xa. Giai đoạn giậm nhảy
bắt đầu khi đặt chân giậm nhảy vào ván giậm nhảy. Lúc này chân giậm nhảy hơi
khuỵu gối, sau đó dùng sức mạnh c a chân và toàn thân đạp mạnh, nhanh lên ván
như sức bật c a một chiếc lò xo. Khi giậm nhảy, phải ch động đạp mạnh duỗi
thẳng chân, phối hơp với đánh tay và đưa chân lăng ra trước – lên cao và giữ cơ thể
được thăng bằng. Giậm nhảy phải phối hợp nhịp nhàng với tốc độ nằm ngang c a
chạy đà tạo nên.
Kết quả nghiên cứu c a nhiều công trình khoa học về giai đoạn giậm nhảy
trong nhảy xa cho thấy thành tích đạt được phụ thuộc vào sức mạnh c a chân, sự
linh hoạt c a cổ chân, sức bật c a bàn chân, sự phối hợp nhịp nhàng c a toàn bộ cơ
thể đặc biệt là sự phối hợp chính xác giữa lực giậm nhảy với lực do chạy đà tạo
nên và góc độ giậm nhảy hợp lí. Góc giậm nhảy khoảng 70 – 800 (so với mặt đất ở
quá trình thống nhất c a việc hoàn thiện thể thao cho vận động viên Điền kinh.
Quá trình này được thực hiện thông qua việc sử dụng các phương tiện, phương
pháp huấn luyện, huấn luyện chuyên môn và các hình thức khác nhau c a lượng
vận động trong tập luyện và thi đấu.
3.1.3.2. Một số nguyên tắc cơ bản trong huấn luyện Điền kinh:
Các nguyên tắc về phương pháp giáo dục thể chất đều có mối quan hệ với
nhau. Trong mối quan hệ này nguyên tắc tự giác tích cực giữ vai trò ch đạo bởi vì
tính tích cực c a người tập thể hiện qua hoạt động tự giác, gắng sức nhằm hoàn
thành nhiệm vụ học tập, được bắt nguồn từ thái độ hoàn thành tốt nhiệm vụ học
tập, cố gắng nắm được những kỹ năng kỹ xảo cùng hiểu biết có liên quan, phát
triển thể chất và tinh thần.
ràng tính hiệu quả c a quá trình sư phạm phụ thuộc
rất nhiều vào sự tự giác, tích cực c a học sinh.
Nguyên tắc vừa sức: Là một trong những nguyên tắc sư phạm giảng dạy và
tập luyện TDTT. Tập luyện TDTT muốn đạt được hiệu quả thì các bài tập phải phù
hợp với những đặc điểm về trí tuệ, sức khỏe, giới tính, thể lực, tâm lý và trình độ
vận động c a người học.
Theo nguyên tắc vừa sức, việc lựa chọn và thực hiện các bài tập để học kỹ
thuật động tác, phát triển các tố chất thể lực cần phù hợp với sức khỏe, giới tính,
trình độ vận động và thể lực c a người tập. Tuy nhiên vừa sức không có nghĩa
không có khó khăn, mà ngược lại để thực hiện các yêu cầu tập luyện người tập cần
phải có sự nỗ lực rất lớn về thể chất và tinh thần.
Những bài tập quá dễ, thực hiện với số lần lặp lại nhỏ hoặc thực hiện trong
thời gian ngắn, hay yêu cầu tập luyện quá thấp s không mang lại hiệu quả tập
luyện. Bởi vì chúng không mang lại hiệu quả cần thiết để tạo nên những thích ứng
mới cho cơ thể. Ngược lại những bài tập quá khó, lượng vận động vượt quá mức
chịu đựng c a học sinh cũng không mang lại hiệu quả tập luyện, thậm chí còn gây
ảnh hưởng xấu đến sức khỏe c a người tập.
Nguyên tắc hệ thống: Là một trong những nguyên tắc sư phạm chỉ r giảng
dạy và tập luyện TDTT cần phải dựa trên cơ sở khoa học, phải được tiến hành theo
nhất. Sức nhanh có 3 hình thức biểu hiện ch yếu: Thời gian tiềm phục c a phản
ứng vận động, tốc độ từng cử động riêng lẻ (khi lực cản bên ngoài bé), tần số động
tác... Chính vì vậy, chỉ số để đánh giá sức nhanh rất phong phú. Những hình thức
biểu hiện đơn giản c a sức nhanh tương đối độc lập với nhau, nhất là các chỉ số
c a thời gian phản ứng trong nhiều trường hợp, những chỉ số ấy tương ứng với
những chỉ số c a tốc độ động tác. Có thể phản ứng thì vô cùng mau lẹ và trái lại thì
động tác thì tương đối chậm hoặc ngược lại. Sự kết hợp 3 hình thức đã nêu trên xác
định mọi trường hợp biểu hiện sức nhanh.
Tố chất bền: Là năng lực thực hiện một hoạt động với cường độ cho trước,
hay là năng lực duy trì khả năng vận động trong thời gian dài nhất mà cơ thể có
thể chịu đựng được.
Tố chất khéo léo: Khéo léo cũng là một tố chất thể lực. Khéo léo là tổng hợp
các năng lực phối hợp vận động hay nói cách khác khéo léo là năng lực tiếp thu
nhanh các động tác mới.
3.1.3.4. Cơ sở lý luận của việc huấn luyện nâng cao thành tích nhảy xa:
Tố chất thể lực tăng trưởng đều đặn cùng với sự tăng c a lứa tuổi. Sự tăng
trưởng này gọi là tăng trưởng tự nhiên, khuynh hướng c a sự tăng trưởng này có
tốc độ nhanh, biên độ lớn trong thời kỳ dậy thì: nam vào khoảng 14 tuổi, nữ vào
khoảng 12 tuổi. Giữa nam và nữ trước 12 tuổi, sự khác biệt các tố chất thể lực
không lớn lắm, nhưng từ 16–18 tuổi sự khác biệt này tăng lên, sau 18 tuổi thì có xu
hướng ổn định. Giai đoạn lứa tuổi khác nhau, tốc độ phát triển tố chất thể lực khác
nhau, tức là trong cùng một lứa tuổi tố chất thể lực khác nhau phát triển thay đổi
cũng không giống nhau. Sự phát triển tố chất thể lực tự nhiên bao gồm 2 giai đoạn:
Giai đoạn tăng trưởng là giai đoạn tố chất thể lực tăng liên tục, trong đó có
giai đoạn tăng nhanh và tăng chậm.
Giai đoạn ổn định là giai đoạn tố chất thể lực tăng chậm r ràng hoặc dừng lại
hoặc giảm xuống.
Qua các khái niệm ở các phần trên cho ta biết tố chất thể lực bao gồm: (nhanh,
mạnh, bền, mềm dẻo và khéo léo), như ta biết trong quá trình phát triển tự nhiên
các tố chất thể lực tăng theo lứa tuổi. Ở lứa tuổi 14–18 tuổi quá trình phát triển
khả năng để vận động viên phối hợp độ dài bước ở mức độ cao hơn để nâng được
tốc độ chạy.
Phương pháp tổ chức có hiệu quả nhất nhằm huấn luyện sức mạnh nhanh (tốc
độ) và sự phối hợp với biên độ bước cho cự ly ngắn, thường sử dụng những bài tập
sau: Gánh tạ đạp sau nhanh, chạy có người kéo, lặp lại những bài 30m, 60m tốc độ
cao…
3.1.3.4.2. Huấn luyện sức bền tốc độ:
Những điều kiện cơ bản trong huấn luyện sức bền tốc độ là thực hiện một khối
lượng vận động lớn tới mức cho phép với một lực cản được nâng cao hơn với
những điều kiện thi đấu. Tuy các năng lực sức bền tốc độ cần thiết cho thành tích
thể thao cũng được phát triển qua các hình thức c a lượng vận động để huấn luyện
sức mạnh nhanh và sức bền. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các môn thể thao
mang tính chất sức bền tốc độ như chạy: 200m, 400m.
Huấn luyện sức bền tốc độ được tiến hành trước hết bằng các bài tập chuyên
môn gắn liền với hình thức vận động c a môn thi đấu. Đối với cự ly ngắn thường
sử dụng những bài tập lặp lại cự ly 200m, 300m nhiều lần với thời gian nghỉ vừa,
mạch đập từ 120–130 lần/phút.
3.1.4. Tóm tắt đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 16:
3.1.4.1.Sinh lý: Ở tuổi này hệ thống thần kinh trung ương đã khá hoàn thiện,
hoạt động phân tích trên vỏ não về tri giác có định hướng sâu sắc hơn. Ở tuổi này
khả năng nhận hiểu cấu trúc động tác và tái hiện chính xác hoạt động vận động
được nâng cao. Ngay từ tuổi thiếu niên đã diễn ra quá trình hoàn thiện cơ quan
phân tích và những chức năng vận động quan trọng nhất, đặc biệt là những cảm
giác bản thể trong điều khiển động tác. Khả năng phân biệt chính xác về không
11
gian c a nam đạt mức cao nhất, còn nữ ở lứa tuổi này lại giảm xuống do thiếu tập
luyện vận động cần thiết, nếu tập thì có thể tránh được. Lứa tuổi này các em có thể
thực hiện khá đầy đ những bài tập đơn giản c a giáo viên giao gần như dựa theo
trường phổ thông trong và ngòai tỉnh.
Hình thức phỏng vấn gián tiếp thông qua bảng câu hỏi.
3.2.1.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
- Để nghiên cứu tác dụng c a các bài tập phát triển thể lực nhằm nâng cao thành
tích nhảy xa cho học sinh nam lớp 11 tôi tiến hành thực nghiệm trên 02 nhóm đối
tượng theo kiểu thực nghiệm được lựa chọn là kiểu thực nghiệm so sánh song song
bao gồm một nhóm thực nghiệm và một nhóm đối chứng:
+ Nhóm thực nghiệm gồm 50 em học sinh nam lớp 11 do Tôi chọn ngẫu
nhiên, thời gian tập luyện mỗi tuần 1 buổi, mổi buổi 2 tiết. Nội dung tập luyện do
Tôi biên soạn dựa theo các bài tập đã được chọn qua kết quả phỏng vấn, và được
thực hiện vào 15 phút đầu c a buổi tập.
12
+ Nhóm đối chứng gồm 50 em học sinh nam lớp 11 do Tôi chọn ngẫu nhiên,
thời gian tập luyện giống nhóm thực nghiệm. Mỗi tuần tập 1 buổi, mỗi buổi 2 tiết.
Nội dung tập luyện theo chương trình học c a Bộ.
Sau 1 năm Tôi tiến hành khảo sát các bài tập trên để tìm hiểu mức độ phát
triển nhằm xác định tác dụng c a các bài tập phát triển thể lực chuyên môn để
nâng cao thành tích nhảy xa cho học sinh nam lớp 11.
Khâu chọn đề tài, xây dựng đề cương, bắt tay vào nghiên cứu và đến khi
chuẩn bị dự thảo, báo cáo kết quả, người nghiên cứu đã sử dụng phương pháp này.
Phương pháp này cho phép tôi hệ thống hóa các kiến thức có liên quan đến
lĩnh vực nghiên cứu, hình thành cơ sở lí luận, xác định mục đích, mục tiêu nghiên
cứu, đồng thời xây dựng tổng quan, xử lý và phân tích kết quả nghiên cứu c a đề
tài.
3.2.1.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm:
Tiến hành lấy số liệu ban đầu và số liệu sau 1 năm tập luyện c a 50 học sinh
nam thực nghiệm và 50 học sinh nam đối chứng.
Lần 1: tổ chức kiểm tra thành tích nhảy xa kiểu ưỡn thân (mét) cho đối tượng
+ Phương pháp tiến hành: Người thực hiện đứng sau vạch giậm nhảy, 2 chân
rộng khoảng bằng vai, 2 tay để thả lỏng, hơi khuỵu gối xuống 2 tay vung lên cao,
xuống dưới, ra sau để tạo đà và bật nhảy về phía trước, rơi 2 chân xuống hố cát và
ngả người về phía trước (không ngã hoặc chống về sau). Mỗi học sinh thực hiện 2
lần, lấy thành tích ở lần đạt cao nhất, thành tích được tính từ mũi bàn chân ngón cái
lúc đứng chuẩn bị cho đến gót chân gần nhất khi bật xa kết thúc.
* Ngồi xổm bật cóc 30m:
+ Sân bãi, dụng cụ: sân trường, đồng hồ bấm giây, cờ, giấy bút.
+ Cách tiến hành: thực hiện lần lượt từng người, tư thể ngồi xổm trên hai
chân, hai tay chống hông, bật về trước thực hiện hết cự ly 30m, bấm giây tính
thành tích.
* Bật lò cò 30m:
+ Sân bãi, dụng cụ: sân trường, đồng hồ bấm giây
+ Cách tiến hành: thực hiện lần lượt từng người, tư thể thực hiện xuất phát
cao, khi có hiệu lệnh xuất phát thực hiện lò cò một chân, thực hiện bằng chân trụ,
cự ly 30m, bấm giây tính thành tích.
* Bật xa 3 bước:
+ Sân bãi, dụng cụ: Tiến hành kiểm tra bật xa trên hố cát, điểm rơi cùng nằm
trên mặt phẳng nằm ngang, thước dây, giấy bút ghi chép.
+ Phương pháp tiến hành: Người được đo đứng sau vạch xuất phát cách vạch
3 bước, 2 chân rộng khoảng bằng vai. Khi có lệnh người được đo lấy đà nhanh
chóng bước 3 bước, về vạch xuất phát rồi dùng sức c a bàn chân, cẳng chân, đùi
và kết hợp giậm mạnh bằng chân thuận về trước. Thành tích được tính (cm)
khoảng cách từ vạch xuất phát đến gót chân hoặc, một bộ phận cơ thể gần nhất.
3.2.1.5. Phương pháp toán thống kê:
Để xử lý các số liệu trước và sau thực nghiệm, giúp cho việc rút ra kết luận
Tôi sử dụng các thuật toán trong đề tài là:
Tính trị số trung bình: ( X )
1
Nhịp độ tăng trưởng: (W%)
14
W%
X 2 X1
0,5 X 2 X 1
100%
Hệ số biến thiên :
V% =
Sai số tương đối:
Chỉ tiêu t: (Student}
với n ≥ 30
t =
3.2.2. TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU:
3. 2.2.1 Đối tượng nghiên cứu: Gồm 100 em học sinh nam lớp 11, chia làm
hai nhóm, trong đó
+ Nhóm thực nghiệm 50 học sinh
+ Nhóm đối chứng 50 học sinh
nhảy xa c a nam học sinh lớp 11.
Bước 2: Dùng các phiếu phỏng vấn để lấy ý kiến c a các cán bộ quản lý, các
giáo viên, huấn luyện viên TDTT, các chuyên gia điền kinh về các bài tập thể lực
nhằm nâng cao thành tích nhảy xa. Trên cơ sở đó tôi s chọn những bài tập được
nhiều người đồng ý sau khi lấy ý kiến thăm dò, phỏng vấn (trên 70% đồng ý) đưa
vào chương trình thực nghiệm. Còn những bài tập được lựa chọn ít hơn (dưới 70%
đồng ý) tôi s loại bỏ không sử dụng trong chương trình thực nghiệm.
4.1.1.Thu thập, tổng hợp các bài tập thể lực nhằm nâng cao thành tích
nhảy xa của nam học sinh lớp 11.
Các tác giả Xirixơ.P.Đ – Gaidrơxca P.M – atrep K.I, trong “Nghiên cứu
đánh giá trình độ tập luyện trong các thời kỳ khác nhau”, đã dùng các bài tập sau
để đánh giá trình độ thể lực c a vận đông viên nhảy xa : nhảy xa (cm). chạy 20m
có đà (gy), bật cao (cm), bật xa (cm), bật 3 bước (cm), lực lưng (kg).
Trong tiêu chuẩn kiểm tra đánh giá trình độ tập luyện và tuyển chọn vận động
viên điền kinh, các tác giả Trung Quốc đã đưa ra hệ thống các chỉ tiêu và xác định
cả tỷ trọng c a các chỉ tiêu trong tuyển chọn nam VĐV nhảy xa lứa tuổi 13 – 17 là
: Điều kiện cơ thể : Chỉ số Quetelet, dài chân, B/chiều cao, công năng tim. Trình
độ kỹ thuật : Chạy 100m (gy), nhảy xa ( cm), đẩy tạ (cm), chạy 1500 (gy), chạy
30m tốc độ cao (gy), hất tạ (4kg) quay đầu ra sau (cm), đà 5 bước nhảy 5 bước, đà
7 bước nhảy xa, kỹ thuật nhảy xa.
Pôpốp V.B, đã đưa ra các chỉ tiêu đánh giá trình độ chuẩn bị sức mạnh tốc độ
c a vận động viên trong nhảy xa bằng thành tích lập bài tập thông qua các nội
dung mà hầu hết đều nhằm đánh giá sức mạnh chân dưới các góc độ khác nhau,
như : chạy 30m (gy), chạy 60m (gy), chạy 100m có xuất phát (gy), nhảy cao kiểu
bước qua (cm), nhảy bật 50 lần trên 1 chân với 6 bước đà (xác định độ dài và thời
gian), chạy 30m (gy), chạy 60m (gy), chạy 100m có xuất phát (gy), nhảy cao kiểu
bước qua (cm), nhảy bật cao 5 lần liên tục (gy), ngồi xuống đứng lên với trọng
lượng tối đa (kg), nâng 2 chân lên thang thể dục 10 lần (gy).
Trong “Kiểm tra năng lực thể chất và thể thao” c a Lê Bửu – Nguyễn Thế
Truyền đã đưa ra 9 test và 1 chỉ số tuyển chọn vận động viên nhảy xa thì có đến 6
Để chọn lựa các bài tập phát triển thể lực nhằm nâng cao thành tích nhảy xa
cho nam học sinh lớp 11, tôi đã tiến hành phỏng vấn bằng phiếu với số lượng 35
gười gồm : các cán bộ quản ly, các giáo viên, huấn luyện viên TDTT, các chuyên
gia điền kinh tại địa phương. Số phiếu phát ra là 35, số phiếu thu về là 30, tôi thu
được kết quả như sau:
17
Bảng 1
KẾT QUẢ PHỎNG VẤN
NỘI DUNG BÀI TẬP
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
ĐỒNG Ý
TỶ LỆ
83,33%
70%
56,66%
76,66%
76,66%
56,66%
63,3%
96,66%
90%
63,3%
80%
53,33%
60%
86,66%
Căn cứ vào kết quả phỏng vấn, tôi đã chọn được 8 bài tập có hơn 70% ý kiến
đồng ý để đưa vào chương trình thực nghiệm, đó là các bài tập sau:
Bảng 2
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
BÀI TẬP
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
BÀI TẬP
ĐV
Giây
Giây
Mét
Giây
Giây
Giây
Mét
Giây
Chạy 30m tốc độ
Chạy 30m xuất phát thấp
Bật xa tại chỗ
Chạy 60m xuất phát thấp
Bật lò cò 30m
Chạy 100m xuất phát thấp
Bật xa 3 bước
Bật cóc 30m
4.29
2.61
3.72
6.40
0.009
0.015
0.024
0.054
0.012
0.007
0.011
0.018
Qua kết quả được tình bày ở bảng 3, tôi nhận thấy các chỉ số c a hệ số biến
thiên (V%) nằm tỏng khoản từ 1.52% đến 8.37% (< 10%), nên mẫu có độ đồng
nhất cao. Các chỉ số c a sai số tương đối (ε) nằm trong khoản từ 0.004 đến 0.024
(< 0.05). Điều này cho ta thấy giá trị trung bình mẫu đ tính đại diện. Vậy giá trị
trung bình c a tập hợp mẫu có độ tin cậy cao.
Bảng 4 : Nhóm thực nghiệm (lần 1)
TT
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
15.38
Sx
V%
ε
0.10
0.24
0.17
0.13
0.85
1.52
0.29
1.30
2.80
5.04
7.14
1.47
9.36
3.00
4.80
8.44
0.008
0.014
0.020
0.004
3.42
3.76
0.010
0.011
Qua bảng 5 tôi có nhận xét sau : các chỉ số c a hệ số biến thiên (V%) nằm
trong khoản từ 3.42% đến 3.76% (
8
BÀI TẬP
Chạy 30m tốc độ
Chạy 30m xuất phát thấp
Bật xa tại chỗ
Chạy 60m xuất phát thấp
Bật lò cò 30m
Chạy 100m xuất phát thấp
Bật xa 3 bước
Bật cóc 30m
ĐV
Giây
Giây
Mét
Giây
Giây
Giây
Mét
Giây
X
3.70
4.76
2.38
9.01
9.11
17.40
0.011
0.019
Qua số liệu ở bảng 7 cho thấy các chỉ số c a hệ số biến thiên (V%) nằm
trong khoản từ 1.47% đến 9.36% (
0.53
0.33
1.05
V%
2.61
5.17
6.82
1.21
9.13
3.08
5.23
7.15
ε
0.007
0.019
0.019
0.003
0.026
0.003
0.015
0.020
Qua kết quả nghiên cứu trên cho thấy các chỉ số c a hệ số biến htiên (V%)
nằm trong khoản từ 1.21% đến 9.13% (
X
X
(lần 2)
Giây
Giây
Mét
Giây
Giây
Giây
Mét
Giây
(lần
1)
3.74
4.84
2.31
9.04
9.25
17.55
5.98
15.80
3.70
4.76
2.38
6
7
8
Chạy 30m tốc độ
Chạy 30m xuất phát thấp
Bật xa tại chỗ
Chạy 60m xuất phát thấp
Bật lò cò 30m
Chạy 100m xuất phát thấp
Bật xa 3 bước
Bật cóc 30m
Giây
Giây
Mét
Giây
Giây
Giây
Mét
Giây
X
X
(lần 1)
3.75
4.77
2.36
2.11%. bật xa tại chổ 1.29%, bật lò có 30m – 5.72%).
4.5.2. Nhịp độ tăng trưởng nhảy xa của 2 nhóm đối chứng và thực
nghiệm:
Để có những nhận định và đánh giá chính xác hơn về tác dụng c a các bài tập
đối với nhóm thực nghiệm và hiệ quả c a công tác giảng dạy ở mỗi nhóm, tôi tiến
hành so sánh nhịp độ tăng trưởng về thành tích nhảy xa c a cả 2 nhóm sau tohiwf
gian thực nghiệm
Qua thống kê tôi có kết quả sau :
Bảng 11: Nhịp độ tăng trưởng của 2 nhóm
Nhảy xa
Nhóm đối chứng
Lần 1
Lần 2
Nhóm thực nghiệm
Lần 1
Lần 2
X
Sx
4.15
4.19
0.14
0.08
4.17
4.27
Qua kiểm định gỉả thuyết tính thực nghiệm c a nhóm đối chứng. Mặc dù
thành tích có tăng so với lần 1 nhưng so sánh hai giá trị trung bình giữa lần 1 và
lần 2 thì giá trị t – student lại không có ý nghĩa thống kêê với ngưỡng xác suất
22
P>0.05. Trên cơ sở đó tôi có kết luận: sau 1 năm tập luyện thành tích nhảy xa
nam học sinh lớp 11 có sự tăng tiến so với lần 1, nhưng sự tăng tiến lại không có ý
nghĩa thống kê với ngưỡng xác suất P>0.05 ở nhóm đối chứng.
Qua kiểm định gỉả thuyết tính thực nghiệm c a nhóm thực nghiệm. có ý
nghĩa thống kêê với xác suất P < 0.001. Cụ thể là : nhảy xa thành tich trung bình
4.27m ± 0.10 (với t = 3.58; P < 0.001). Trên cơ sở đó tôi có kết luận: sau 1 năm
tập luyện thành tích nhảy xa nam học sinh lớp 11 nhóm thực nghiệm trường THPT
Tam Phước, Biên Hòa, Đồng Nai tốt hơn năm đầu.
V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
Từ thực tế vận dụng những cách thức trên khi dạy những bài học kỹ thuật
nhảy xa, tôi thấy đây là phương pháp giảng dạy có tính khả thi, nếu được giáo viên
vận dụng linh hoạt, khéo léo trong giờ học s góp phần nâng cao hiệu quả, chất
lượng, phát huy được tính tích cực, ch động c a học sinh trong giờ học.
Tuy nhiên, để có thể vận dụng phương pháp này cần phải có sự phối hợp từ
nhiều phía:
+ Đối với giáo viên: để có thể tiến hành giảng dạy theo cách trên thì nhất
thiết phải hướng dẫn học sinh những công việc cần chuẩn bị trước ở nhà vào cuối
tiết học trước, bản thân giáo viên cũng cần tìm tòi nghiên cứu để nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ, cung cấp thêm cho học sinh những kiến thức ngoài những
phần mà sách giáo khoa và sách giáo viên đã cung cấp, góp phần làm cho giờ dạy
thêm sinh động, tạo cho các em học sinh sự hứng thú.
+ Đối với học sinh: các em cần phải nâng cao năng lực tự giac tập luyện,
phải tích cực ch động trong việc nghiên cứu, sưu tầm tài liệu.
+ Về phía nhà trường: Nên có đường chạy đà và hố nhảy xa tốt hơn để tập
Chạy 100m xuất phát thấp
Bật xa 3 bước
Bật cóc 30m
+ Qua quá trình thực nghiệm trong 1 năm học, đề tài đã
xác đònh được các bài tập phát triển thể lực để nâng cao
thành tích nhảy xa cho nam học sinh lớp 11 ở nhóm thực nghiệm
so với nhóm đối chứng đa số phát triển đồng đều, bao gồm
các bài tập sau: chạy 30m xuất phát thấp, chạy 30m tốc độ cao,
chạy 100m, chạy 60m, chạy lò cò 30m, bật xa 3 bước, bật xa tại
chỗ, ngồi xổm bật cóc 30m, các bài tập này đã chứng tỏ được tính
ưu việt của hệ thống bài tập được lựa chọn trước những bài
tập hiện hành trong việc nâng cao thành tích nhảy xa cho nam
học sinh lớp 11 trường THPT Tam Phước – Biên Hòa – Đồng Nai.
6.2. Kiến nghị:
Các bài tập trên có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các giáo viên thể dục
các trường THPT trong tỉnh Đồng Nai, nhất là các trường thuộc địa bàn nơng thơn
để nâng cao thành tích nhảy xa.
Tơi s xin ban giám hiệu trường THPT Tam Phước cho tơi áp dụng những
bài tập trên vào chương trình học thể dục c a trường nhằm nâng cao thành tích
chung và đặc biệt là các học sinh trong đội tuyển điền kinh c a trường.
Các trường THPT nên có đường chạy đà và hố nhảy xa tốt hơn để tập
luyện và kiểm tra nhảy xa.
Phối hợp với ngành TDTT thành lập các câu lạc bộ thể thao trường học để
mỗi học sinh có điều kiện tham gia tập luyện thường xun một mơn thể thao mà
24
mình ưa thích. Tăng cường công tác ngoại khoá, thi đấu thể thao theo chuyên đề
cho các dịp lễ, tết trong trường học.