SKKN Áp dụng một số biện pháp để rèn kỹ năng nói trong giờ kể chuyện cho học sinh lớp 2 - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“ÁP DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ RÈN KỸ NĂNG NÓI TRONG
GIỜ KỂ CHUYỆN CHO HỌC SINH LỚP 2”
Phần I: Lý do chọn đề tài

Phân môn kể chuyện ở tiểu học có một vị trí quan trọng. Nó góp phần bồi dưỡng
tâm hòn, đem lại niềm vui, trau dồi vốn sống và vốn văn học, phát triển tư duy và ngôn
ngữ cho học sinh. Ngoài ra nó còn nhằm nâng cao năng lực trí tuệ, đồng thời rèn luyện
cho các em khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ. Chính vì vậy tiết kể chuyện đòi hỏi giáo
viên vừa biết kể chuyện hấp dẫn, vừa biết dạy cho học sinh tập nói - tập kể chuyện và
phát triển ngôn ngữ, bước đầu tập dùng ngôn ngữ của bản thân để diễn tả (tập kể chuyện).
Qua mỗi tiết kể chuyện, học sinh được tiếp xúc với một văn bản truyện kể khá lý thú,
cảm nhận được nội dung và thu hoạch được những bài học bổ ích nhưng điều quan
trọng hơn là các em học được cách dùng từ ngữ, câu văn để diễn đạt một ý, liên kết các ý
trong một đoạn, một bài. Đây chính là yêu cầu rèn kỹ năng nói cho học sinh.
Chương trình cũ, giờ kể chuyện giáo viên kể mẫu xong chỉ có các câu hỏi như:
Câu chuyện này có mấy nhân vật? là những nhân vật nào? để cho các em nhớ lại cốt
truyện, sau đó là để các em kể lại theo đoạn và cả câu chuyện. Với hình thức dạy kể
chuyện theo chương trình cũ, nhiều khi học sinh không thể nắm bắt được cốt truyện ngay
trên lớp, trừ một số em đã đọc truyện đó ở nhà một hai lần. Do đó hạn chế kỹ năng kể lại
và nhận xét bạn kể của các em. Điều đó cũng ảnh hưởng đến việc rèn khả năng nghe, nói
cho học sinh.
Cái mới ở phân môn kể chuyện trong bộ SGK mới là không có quyển Truyện kể
dùng riêng cho các giờ Kể chuyện. Trên lớp, học sinh chỉ kể lại hoặc dựng lại dưới hình
thức hoạt cảnh những câu chuyện đã học trong tiết tập đọc đầu tiên trong tuần.
Như vậy hình thức câu hỏi và bài tập sẽ chi phối phương pháp dạy học trong giờ
kể chuyện. ở chương trình mới, trong giờ kể chuyện giáo viên chỉ là người điều khiển,
hướng dẫn, còn học sinh là người chủ đạo trong giờ học đó. Các em sẽ phải làm việc
nhiều hơn, nghĩa là phải nói nhiều hơn và nghe chăm chú hơn để nhận xét bạn kể. Do các
câu chuyện tương đối ngắn lại phân nhỏ ra làm nhiều đoạn, cho nên trong một tiết dạy

một dạng đặc biệt của đối thoại.
Thực tế cho thấy kể chuyện có một sức hấp dẫn kỳ lạ, đặc biệt với học sinh lứa
tuổi tiểu học. Sức hấp dẫn đó không hề giảm đi dù câu chuyện đã được các em đọc trước
nhiều lần. Bởi lẽ khi kể một câu chuyện, người kể không trình bày nguyên văn một bản
viết hay đọc lại văn bản đó, mà lúc này người kể nhập vào một thế giới, khác với thế giới
đang sống, đó là thế giới của câu chuyện. Trong câu chuyện ấy, người kể lúc là người dẫn
chuyện, lúc lại là nhân vật này hoặc nhân vật khác. Người kể thể hiện tâm trạng của
những nhân vật khác nhau, khi thì vui sướng, hả hê, lúc lại buồn rầu, lo lắng.
Như vậy, kể chuyện thực sự mang tính tổng hợp. Nó sử dụng các hiểu biết và kĩ năng
dùng từ, đặt câu kĩ năng nghe, nói Tiếng việt, kĩ năng trình bày trước công chúng. Nói cách
khác đó là khả năng vận dụng những hiểu biết về ngôn ngữ, lý thuyết sản sinh lời nói và sự
hiểu biết về văn học vào việc kể chuyện.
Như vậy là học sinh đã được rèn luyện một hoạt động kĩ năng kể chuyện, kĩ năng
giao tiếp bằng lời của mình. Hệ thống các kĩ năng kể chuyện cũng chính là hệ thống hoạt
động sản sinh lời nói nhưng ở dạng kĩ năng sản sinh văn bản mới.
Như vậy trên cơ sở hiểu biết về lý thuyết, lời nói, chúng ta có thể ứng dụng để
hướng dẫn học sinh hình thành những kĩ năng kể chuyện, giúp các em kể tốt hơn và cũng
là rèn luyện cho các em khả năng diễn đạt khúc triết, lưu loát, ứng xử nhanh nhẹn, thông
minh.
Một trong những lý do khiến trẻ rất thích giờ Kể chuyện là các em được kể
chuyện cho người khác nghe. Các nhà nghiên cứu cũng cho thấy rằng: trẻ có nhu cầu rất
lớn trong việc giao lưu với bạn, san sẻ những thu nhận mới lạ của mình. Vì thế, kể lại cho
cô, bố mẹ, ông bà nghe là một nhu cầu của học sinh tiểu học. Để giúp các em thỏa mãn
nhu cầu đó, ngoài việc vận dụng những hiểu biết về ngôn ngữ, lý thuyết sản sinh lời nói,
giáo viên cần giúp học sinh vận dụng những hiểu biết về văn học, vận dụng năng lực cảm
thụ văn học để lựa chọn cho mình giọng kể phù hợp. Ví dụ các em nhận biết được trong
câu chuyện đâu là lời thoại, đâu là lời dẫn chuyện, các em sẽ có giọng kể khác nhau. Hay
nếu các em cảm thụ tốt, hiểu được tâm trạng của các nhân vật, tính cách, hoàn cảnh của
họ thì các em sẽ tìm được giọng điệu thích hợp với từng tâm trạng, từng tích cách mà có
khi người lớn khó có thể hình dung được.

Kho báu
Câu chuyện bó đũa
Quả tim khỉ
Danh nhân lịch sử 3 Ai ngoan sẽ được thưởng
Thể loại truyện Số lượngTên truyện
Chiếc rễ đa tròn
Bóp nát quả cam
Khoa học 0
Người thực, việc thực 0
Sinh hoạt 10
Phần thưởng
Bím tóc đuôi sam
Chiếc bút mực
Mẩu giấy vụn
Người thầy cũ
Người làm đồ chơi
Bông hoa niềm vui
Sáng kiến của bé Hà
Con chó nhà hàng xóm
Những quả đào
Đồng thoại 3
Bạn của Nai nhỏ
Chim Sơn ca và bông cúc trắng
Bác sĩ Sói.
1. Rèn luyện kĩ năng nói qua phương pháp, hình thức tổ chức dạy học:
Theo luật giáo dục về yêu cầu nội dung, phương pháp giáo dục tiểu học thì:
phương pháp giáo dục tiểu học phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của từng
học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự
học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại
niềm vui, hứng thú cho học sinh.

tác: nghe để nhớ câu hỏi, hiểu câu hỏi rồi các em vừa quan sát tranh vừa nhớ lại nội dung
câu chuyện đã được học để xác định nội dung câu trả lời. Cuối cùng các em phải trình
bày được câu trả lời của mình dưới hình thức nói. Như vậy, để trả lời được câu hỏi, học
sinh phải sử dụng nhiều thao tác bộ phận của kĩ năng nói: nghe-nhớ, nghe-hiểu, xác định
nội dung câu trả lời, nói. Đó là từng hoạt động của từng học sinh, mỗi học sinh trong
nhóm thảo luận với nhau để tìm ra câu trả lời chính xác.
Sau khi học sinh đã nhớ lại được đoạn 1 của câu chuyện, giáo viên cho học sinh kể. Đây
là lúc các em bước đầu rèn luyện kĩ năng nói nhưng mới chỉ ở dạng độc thoại. Lời kể của
các em diễn ra liên tục, do đó các em ít có thời gian để ngừng nghỉ, chuẩn bị. Chính vì
vậy đòi hỏi học sinh phải chuẩn bị kĩ càng nội dung kể, tâm thế kể chuyện (thậm chí cả
ngôn từ và các yếu tố phụ trợ). Khi kể chuyện, ngoài việc tự nghe mình kể, các em còn
phải lưu ý quan sát những phản ứng từ người nghe, để có sự điều chỉnh phù hợp về nội
dung, giọng kể, điệu bộ
Những học sinh khác, khi bạn kể chú ý nghe để nhận xét lời kể của bạn về nội dung, về
cách diễn đạt, cách thể hiện để bạn rút được kinh nghiệm và chính bản thân các em cũng
được bổ trợ những kinh nghiệm đó để điều chỉnh mình khi kể.
Qua đây, ta thấy: rõ ràng phương pháp kể chuyện mới này đã có những tiến bộ rõ rệt:
trong tiết học, giáo viên chỉ là người hướng dẫn chỉ đạo còn học sinh mới thực sự là
người làm cho tiết học sôi nổi, hấp dẫn hơn. Bởi trong tiết kể chuyện, hoạt động của học
sinh chiếm 2/3 tiết học. Như vậy có nghĩa là học sinh được chủ động trong việc nghe nói,
đẩy ngôn ngữ nói của các em lên một mức cao hơn.
2. Rèn luyện kĩ năng nói qua hình thức kể chuyện theo tranh:
a. Thế nào là kể chuyện theo tranh?
Chúng ta cần phân biệt kể chuyện theo tranh và sử dụng tranh minh hoạ cho
truyện. Tranh ảnh là đồ dùng trực quan có thể được sử dụng trong bất kì một môn học
nào. Nhưng các môn học khác, sử dụng tranh khi giới thiệu khái niệm hoặc nhằm minh
hoạ cho khái niệm, nhưng ở tiết dạy kể chuyện của chương trình cải cách giáo dục, giáo
viên sử dụng tranh vẽ để minh hoạ cho nội dung truyện, làm cho lời kể mẫu của mình
sinh động và hấp dẫn hơn. Còn hình thức kể chuyện theo tranh của chương trình mới thì
hoàn toàn khác. Giáo viên phải chuẩn bị đầy đủ tranh vẽ thể hiện nội dung, diễn biến của

- Ví dụ về lời kể có sáng tạo: Ngày xưa có một cậu bé làm gì cũng chóng chán. Cứ cầm
đến quyển sách, đọc được vài ba dòng là cậu đã ngáp ngắn ngáp dài, rồi gục đầu ngủ lúc
nào không biết. Lúc tập viết, cậu cũng chỉ nắn nót được mấy chữ đầu, rồi viết nguệch,
viết ngoạc cho xong chuyện.
* Kể theo tranh 2:
Câu hỏi gợi ý:
- Tranh vẽ bà cụ đang làm gì?
- Cậu bé hỏi bà cụ điều gì?
- Bà cụ trả lời thế nào?
-C ậu bé có tin lời bà cụ nói không?
* Kể theo tranh 3:
Câu hỏi gợi ý:
- Bà cụ trả lời thế nào?
- Sau khi nghe bà cụ giảng giải, cậu bé làm gì?
Học sinh có thể tách lời giảng giải của bà cụ thành nhiều câu ngắn:
Hôm nay bà mài. Ngày mai bà lại mài. Mỗi ngày thỏi sắt nhỏ lại một ít. Chắc chắn có
ngày nó sẽ thành cái kim
* Kể theo tranh 4:
Câu hỏi gợi ý:
- Em hãy nói lại câu tục ngữ.
- Câu tục ngữ khuyên em điều gì?
Như vậy, ta thấy: đối với những câu chuyện kèm theo lời gợi ý, sách giáo viên đã hướng
dẫn khá kĩ. Vì vậy, giáo viên nhìn hệ thống câu hỏi gợi ý này có thể điều hành một tiết kể
chuyện dễ dàng, còn học sinh thì dựa vào hệ thống câu hỏi đó có thể tự mình kể được câu
chuyện.
Vậy là hình thức kể chuyện theo tranh đã phát huy được tác dụng của nó, đó là việc rèn
luyện kĩ năng nói cho học sinh.
Để dạy được hình thức bài tập này đạt hiệu quả cao thì giáo viên không nên trao đổi tất cả
các tranh cùng một lúc. Kể đoạn nào giáo viên treo tranh đoạn đó để thu hút sự tập trung
của các em. Nếu nhìn tranh kể lại toàn bộ câu chuyện thì mới treo tất cả tranh cùng một

* Trong sách giáo khoa:
Qua khảo sát sách giáo khoa lớp 2 chương trình mới ta thấy, đây cũng là một hình thức
phổ biến của phân môn kể chuyện lớp 2 chương trình tiểu học mới. Hình thức này không
có yếu tố tranh ảnh phụ trợ. Song mỗi đoạn truyện thường có 3-4 câu gợi ý ngắn, mỗi câu
gợi ý chứa đựng nội dung tổng hợp của đoạn truyện. Những câu gợi ý đó lại gợi lại trí
nhớ, trí tưởng tượng của học sinh một cách dễ dàng. Lệnh của hình thức kể chuyện bằng
hội thoại, giao tiếp thường là: “Dựa vào các gợi ý sau kể lại từng đoạn của câu chuyện
mới học”. Sau khi phát lệnh, giáo viên ghi gợi ý của từng đoạn lên bảng và cho học sinh
nhìn vào gợi ý đó để các em có thể kể lại. Tuy nhiên, để cho hình thức này phát huy hiệu
quả rèn kĩ năng nói cho học sinh thì giáo viên không nên ghi những gợi ý đó lên bảng
ngay, mà cần đưa ra câu hỏi cho học sinh trả lời. Những câu hỏi này phải đảm bảo tính
logic của truyện.
Như vậy, ở hình thức này, sách giáo khoa có những dạng bài tập cụ thể sau:
- Dạng 1: Sách giáo khoa đưa ra gợi ý hoặc dàn ý tương đối cụ thể để hướng dẫn học sinh
kể lại câu chuyện. Ví dụ: bài Chim sơn ca và bông cúc trắng (Tiếng Việt2-tuần 21). Có
một số bài thay dạng bài tập này bằng dạng bài tập “Dựa vào tóm tắt sau kể lại câu
chuyện”. Ví dụ: Người làm đồ chơi (Tiếng Việt 2-tuần 34).
- Dạng 2: Nêu những nhân vật trong câu chuyện, kể lại sự xuất hiện của nhân vật, nhắc
lại lời nhân vật. Ví dụ truyện Người thầy cũ (Tiếng Việt 2 - tập 1), Bạn của Nai
nhỏ(Tiếng Việt 2-tập 1),
- Dạng 3: Tóm tắt nội dung của từng đoạn bằng một câu và đặt tên cho từng đoạn truyện.
Ví dụ truyện Một trí khôn hơn trăm trí khôn (Tiếng Việt 2 –tuần 22).
* Trong sách giáo viên:
Thứ nhất: Dạng bài tập nhắc lại lời nhân vật trong truyện.
Ví dụ truyện “Bạn của Nai nhỏ” (Tiếng Việt 2-tập 1), yêu cầu: nhắc lại lời của Nai bố khi
Nai nhỏ kể về bạn, sách giáo viên đã hướng dẫn như sau:
- Giáo viên cho học sinh nhìn lại tranh, nhớ và nhắc lại lời của Nai cha với Nai nhỏ. (Có
thể gợi ý: nghe Nai nhỏ kể lại hành động hích đổ hòn đá to của bạn, cha Nai nói thế nào?
Nghe Nai nhỏ kể chuyện người bạn đã nhanh trí kéo mình chạy trốn khỏi con thú dữ, cha
Nai đã nói gì? Nghe xong chuyện bạn mình húc ngã lão Sói để cứu Dê non, cha Nai đã

dưới đây, kể lại từng đoạn câu chuyện trên bằng lời của em; sách giáo viên đã hướng dẫn
như sau:
Trước khi kể từng đoạn, giáo viên cho học sinh đọc thầm toàn bộ dàn ý câu chuyện trong
sách giáo khoa, trả lời:
- Truyện có mấy đoạn? Nôị dung chính của từng đoạn?
Truyện có 4 đoạn:
+ Đoạn 1: Cuộc sống tự do, sung sướng của Sơn Ca và Cúc.
+ Đoạn 2: Sơn Ca bị cầm tù.
+ Đoạn 3: Trong tù.
+ Đoạn 4 : Sự hối hận muộn màng.
- Giáo viên viết nội dung từng đoạn lên bảng.
Qua đây ta thấy: ở dạng bài tập này, sách giáo viên cũng đã hướng dẫn khá kĩ. Điều đó
giúp giáo viên rất nhiều trong giờ lên lớp tiết kể chuyện. Bởi giáo viên không mất nhiều
thời gian trong việc chuẩn bị giáo án, hơn nữa lại giúp học sinh rèn kĩ năng nói tốt.
4. Rèn luyện kĩ năng nói qua hình thức kể chuyện phân vai:
a.Thế nào là kể chuyện phân vai?
Đây là hình thức thu hút được đông đảo học sinh tham gia. Không chỉ các em tham gia đóng
vai có thể hiện tính cách của nhân vật mà các em ngồi dưới theo dõi, cổ vũ hết sức nhiệt tình.
Chính sự hứng thú của học sinh là điều kiện tốt để giáo viên rèn luyện kĩ năng nói, giao tiếp
cho các em trong giờ kể chuyện.
Ví dụ khi phân vai dựng lại câu chuyện Quả tim khỉ (Lớp 2-tập 2) gọi 3 em: một em đóng
vai người dẫn chuyện, một em đóng vai Khỉ, và một em đóng vai Cá sấu. Giọng người
dẫn chuyện chậm rãi, nhẹ nhàng; giọng Khỉ ân cần lúc hỏi han Cá Sấu và bình thản khi
biết âm mưu của Cá Sấu; giọng Cá Sấu buồn một cách giả dối, đặc biệt là con mắt của Cá
Sấu thỉnh thoảng lại liếc sang Khỉ để dò thái độ. Sau khi hướng dẫn xong, có thể giáo
viên làm mẫu cho học sinh xem.
Như vậy, những dạng bài tập hình thức kể chuyện phong phú đã thu hút, lôi cuốn các em
trong giờ kể chuyện, làm cho các em như sống lại với những nhân vật trong truyện. Với
niềm say mê của học sinh cũng như sự dạy dỗ tận tình của giáo viên và phương pháp dạy
học phù hợp thì giờ kể chuyện sẽ là một môi trường tốt để rèn luyện kĩ năng giao tiếp, kĩ

mọc thành cây, nhưng cây Bác muốn trồng
mọc uốn theo hình vòng tròn làm chỗ vui
chơi cho các cháu thiếu nhi.
- Giáo viên nhận xét việc học bài cũ của học
sinh.
2.Bài mới:
a. Giới thiệu bài (2 phút).
-Trong tiết Tập đọc trước, các con đã được
học bài tập đọc gì?
- Trong giờ kể chuyện hôm nay, các con sẽ
tập kể lại đoạn 1, đoạn 2 theo tranh, đoạn 3
theo gợi ý hướng dẫn trong sách giáo khoa.
Sau đó kể lại toàn bộ câu chuyện theo cách
mở đầu mới. Các con mở sách Tiếng Việt
trang 120 cho cô.
- Giáo viên ghi tên đầu bài lên bảng.
b.Bài mới:
* Dựa theo tranh, kể lại đoạn 1 và đoạn 2
của Chuyện quả bầu.
+ Kể lại đoạn 1
- Giáo viên treo tranh (thể hiện nội dung của
đoạn 1).
- Nhìn vào tranh, ai cho cô biết, tác giả vẽ
mấy nhân vật trong bức tranh này? Đó là
những nhân vật nào?

- Bài Chuyện quả bầu.

- Học sinh làm theo lời giáo viên.


cảnh gì? Hãy tả lại cảnh đó.

- Như vậy, hai vợ chồng họ đã làm cách nào
để thoát khỏi nạn lụt?
mật.
- Con Dúi mách: sắp có mưa to, gió lớn làm
ngập lụt khắp miền, khuyên hai vợ chồng
cách phòng lụt.
- Giọng kể khoan thai, chậm rãi.
- Hai học sinh kể.
-Học sinh nhận xét.
- Bức tranh vẽ cảnh sau nạn lụt. Tác giả vẽ
cảnh hai vợ chồng vừa bước ra từ qủa bầu.
Họ thấy cảnh vật xung quanh đều tàn tạ, héo
úa.
- Họ nghe lời khuyên của Dúi: lấy khúc gỗ
to, khoét rỗng, chuẩn bị thức ăn đủ bảy
ngày, bảy đêm, rồi chui vào đó, bịt kín
miệng gỗ bằng sáp ong, hết hạn bảy ngày
mới chui ra.
(Giáo viên ghi bảng: vào phần gợi ý ).
- Đoạn này chúng ta nên kể với giọng như
thế nào?
- Lên giọng khi kể về trận lụt xảy ra bất ngờ,
thấp giọng khi kể về cảnh vật sau trận lụt.
- Cô mời một bạn kể lại đoạn 2 theo gợi ý trên,
chú ý thể hiện đúng giọng kể.
- Hai học sinh kể lại
- Giáo viên gọi học sinh nhận xét bạn kể:
đúng, đủ ý chưa? giọng kể có phù hợp

- Giáo viên nhận xét cho điểm
- Vừa rồi các con đã được kể lại từng đoạn
truyện. Bây giờ cô mời 3 bạn kể nối tiếp 3
đoạn truyện.
- 3 học sinh kể nối tiếp 3 đoạn truyện
- Học sinh nhận xét bạn kể: ý, trình tự, giọng
kể.
- Học sinh nhận xét
- Ai cho cô biết, câu chuyện này muốn nói
với chúng ta điều gì?
- Câu chuyện giới thiệu nguồn gốc các dân tộc
anh em trên đất nước Việt Nam .
- Câu chuyện giúp chúng ta hiểu điều gì?
- Khẳng định các dân tộc anh em một nhà,
cùng một nguồn gốc.
* Kể lại toàn bộ câu chuyện theo cách mở
đầu mới (kể sáng tạo):
Đất nước ta có 54 dân tộc anh em. Mỗi dân
tộc có tiếng nói riêng, có cách ăn mặc riêng.

Nhưng tất cả các dân tộc ấy đều được sinh
ra từ một mẹ. Chuyện kể rằng
- Vừa rồi các con đã kể lại được toàn bộ câu
chuyện, bây giờ các con cũng sẽ kể lại câu
chuyện này nhưng với mở đầu mới. Khi kể,
các con có thể dùng phần chú giải trong bài
Tập đọc để thay thế, thêm bớt từ trong
truyện.
- Hai học sinh kể lại.
- Cô mời một bạn kể lại truyện theo cách cô


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status