1
ĐặT VấN Đề
Chúng ta đang sống trong thế kỉ XXI, thế kỉ của sự bùng nổ công nghệ
thông tin, truyền thông, khoa học công nghệ. Sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở nớc ta đòi hỏi mỗi ngời phải có sự nỗ lực cao để phù hợp
với sự phát triển của thời đại. Để đáp ứng yêu cầu đó Đảng và Nhà nớc ta đã
coi trọng vấn đề giáo dục đào tạo. Trong Hội nghị Ban Chấp hành Trung
ơng Đảng lần II (khóa VIII) năm 1996 đa ra nghị quyết quan trọng mang
tính chiến lợc đó là: Sự nghiệpgiáodục đào tạo là quốc sách hàng đầu[3].
Để phát triển đất nớc giáo dục đào tạo phải tạo ra những con ngời phát
triển toàn diện, có đủ trí lực và thể lực. Xuất phát từ nhiệm vụ đó, giáo dục
thể chất (GDTC) - một bộ phận trong hệ thống giáo dục chung đã góp phần
tạo ra những con ngời Phát triển cao về trí tuệ, cờng tráng về thể chất,
trong sáng về đạo đức, phong phú về tinh thần. [2]
Thể dục thể thao (TDTT) nói chung và GDTC nói riêng đã mang lại
cho thế hệ trẻ cuộc sống vui tơi lành mạnh và tác động mạnh mẽ đến các
mặt khác của giáo dục. Do tầm quan trọng và những lợi ích to lớn của TDTT
mà Đảng và Nhà nớc đã đặc biệt quan tâm tới lĩnh vực này.
Ngày nay cùng với sự phát triển của đất nớc, công tác TDTT có nhiều
bớc tiến mới. Chúng ta phấn đấu thực hiện kế hoạch củng cố, xây dựng và phát
triển phong trào TDTT trong những năm đầu thế kỷ XXI, đa nền thể thao nớc
nhà hoà nhập và đua tranh với các nớc trong khu vực và trên thế giới. Chính vì
vậy mà phong trào TDTT đã phát triển không ngừng, thu hút nhiều đối tợng
tham gia tập luyện.
Chỉ thị số 36- CT/ TW ngày 24 - 3 - 1994 của Ban Bí th TW Đảng
Cộng sản Việt Nam về công tác thể dục thể thao trong giai đoạn mới khẳng
định: Phát triển TDTT là bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh
phải biết kết hợp giữa các yếu tố này. Điền kinh có rất nhiều nội dung, trong
đó có nhảy xa - môn thể thao đợc rất nhiều ngời a thích tập luyện. Nhảy
xa là môn thể thao cá nhân không giống các môn thể thao thi đấu đồng đội,
nó đòi hỏi sự nỗ lực cao và khéo léo của bản thân ngời tập. Tập luyện và thi 3
đấu nhảy xa có tác dụng phát triển các tố chất vận động của con ngời nh:
sức mạnh, sức nhanh, sức bền, khả năng phối hợp vận động
Nhảy xa là một trong những nội dung của môn điền kinh đợc kết hợp
giai đoạn chạy đà và thực hiện động tác giậm nhảy đa cơ thể vợt qua chớng
ngại vật với khoảng cách xa nhất. Kĩ thuật nhảy xa gồm 4 giai đoạn: chạy đà -
giậm nhảy - trên không - tiếp đất. Trong đó giai đoạn chạy đà và giậm nhảy là
quan trọng nhất quyết định đến thành tích của nhảy xa. Muốn có thành tích cao
ở môn này yêu cầu đặt ra đối với VĐV không chỉ có thể hình tốt, sức mạnh, tốc
độ, sự khéo léo mà còn phải biết phối hợp nhịp nhàng liên tục các bộ phận trong
cơ thể: chân giậm, chân lăng và tay. Giậm nhảy phải có lực (sức mạnh) đa cơ
thể lên trên và ra trớc trong khoảng thời gian ngắn nhất vì giai đoạn này làm
thay đổi phơng hớng chuyển động của trọng tâm cơ thể, lợi dụng tốc độ nằm
ngang tạo ra tốc độ thẳng đứng để có đợc tốc độ bay ban đầu lớn nhất và góc
bay hợp lý.
Những tố chất phát triển thể lực trong nhảy xa là sức mạnh, sức nhanh,
trong đó sức mạnh là yếu tố quyết định đến thành tích nhảy xa. Qua thực tế cho
thấy trờng THPT Nguyễn Văn Cừ là một trờng có bề dày truyền thống về
phong trào TDTT của Hà Nội. Tuy nhiên phong trào đó chỉ dừng lại ở trình độ
nhất định vì thế mà thành tích thi đấu của nhà trờng ở cấp tỉnh, thành phố cha
cao, do trình độ, phơng tiện tập luyện và công tác tuyển chọn còn nhiều hạn
chế.
Nh vậy, để nâng cao hiệu quả công tác GDTC nói chung và thành
5
CHƯƠNG 1
TổNG QUAN CáC VấN Đề NGHIÊN CứU
1.1. Cơ sở sinh lý, lí luận của tố chất sức mạnh trong nhảy xa
Sức mạnh là khả năng của con ngời sinh lực cơ học bằng sự nỗ lực
của cơ bắp, hay là khả năng khắc phục lực đối kháng bên ngoài bằng sự nỗ
lực của cơ bắp.
Sức mạnh cơ phát triển phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Số lợng đơn vị vận động tham gia vào căng cơ.
- Chế độ co của các đơn vị vận động đó.
- Chiều dài ban đầu của sợi cơ trớc lúc co khi số lợng sợi cơ co là tối
đa, các sợi cơ đều co theo chế độ co cứng và chiều dài ban đầu của sợi cơ là
chiều dài tối u thì cơ sẽ co với lực tối đa. Lực đó gọi là sức mạnh tối đa
thờng đạt đợc trong cơ tĩnh.
- Sức mạnh tối đa phụ thuộc vào số lợng sợi cơ và thiết diện ngang
(độ lớn) của cơ bắp.
- Sức mạnh tơng đối bằng sức mạnh tuyệt đối / trọng lợng cơ thể.
- Sức mạnh là khả năng sinh lực trong các động tác nhanh, nhóm sức
Đánh giá sức mạnh theo phơng pháp sau:
- Phát triển sức mạnh bột phát: Bài tập bật xa tại chỗ, bật cao, bật đổi
chân với bục có độ cao
- Phát triển sức mạnh ném đẩy: Số lần lặp lại 8 - 12 lần, nghỉ giữa các
tổ là 2 - 3 phút.
- Phát triển sức mạnh nhảy: Số lần lặp lại 10 - 15 lần/1 tổ, quãng nghỉ
giữa các tổ từ 3 - 4 phút.
Vì vậy chúng ta muốn phát triển sức mạnh phải có phơng pháp giảng
dạy và chế độ tập luyện hợp lý với khả năng chức phận và đặc điểm trình độ
phát triển thể lực của các em.
1.2. Những quan điểm về huấn luyện tố chất sức mạnh nhằm nâng cao
thành tích nhảy xa
1.2.1. Đặc điểm kĩ thuật giai đoạn giậm nhảy môn nhảy xa
Nhảy xa là phơng pháp đa cơ thể vợt qua một quãng đờng lớn nhất
(không chạm đất) mà không dùng bất cứ dụng cụ hỗ trợ nào. 7
Nhảy xa là hoạt động hỗn hợp, vừa có chu kì vừa không có chu kì bao
gồm nhiều động tác liên kết với nhau chặt chẽ và phức tạp từ chạy đà, giậm
nhảy, trên không và tiếp đất. Đặc điểm nổi bật của nhảy xa là cần phải kéo
dài quỹ đạo bay trên không do nỗ lực của ngời nhảy trong lấy đà và giậm
nhảy tạo nên. Kỹ thuật nhảy xa gồm 4 giai đoạn: Chạy đà, giậm nhảy, trên
không và tiếp đất.
Chạy đà: Đợc tính từ khi bắt đầu chạy đà đến khi đặt chân vào ván
giậm nhảy. Nhiệm vụ của giai đoạn này là tạo tốc độ nằm ngang lớn nhất và
chuẩn bị tốt cho động tác giậm nhảy.
Giai đoạn giậm nhảy: Giai đoạn này tính từ khi đặt chân vào ván giậm
nhảy đến khi chân giậm rời khỏi ván giậm. Nhiệm vụ của giậm nhảy là thay
cẳng chân, đùi của chân giậm gần nh nằm trên một đờng thẳng hơi ngả về
trớc với góc độ giậm nhảy khoảng 68 - 72
o
. Tay bên chân giậm đánh ra
trớc lên trên. Tay bên chân lăng gập ở khuỷu, đánh sang bên và hơi ra sau.
Thân ngời hơi ngả về trớc. Đầu giữ thẳng không đợc ngửa ra sau hay cúi
về trớc. Kết thúc động tác giậm nhảy, cơ thể ở t thế bớc bộ trên không.
Khi giậm nhảy lực tác động lên trọng tâm cơ thể hớng về trớc theo phơng
nằm ngang là 87% trong khi lực hớng lên trên theo phơng thẳng đứng chỉ
chiếm 13%. Tất cả các hoạt động phối hợp giữa chân giậm, chân lăng, tay,
thân ngời diễn ra một cách nhịp nhàng, hoạt động nọ phối hợp hoạt động
kia mục đích làm tăng tốc độ giậm nhảy. Chỉ cần phối hợp không đồng thời
của từng hoạt động cũng sẽ ảnh hởng tới thành tích nhảy xa của các em.
1.2.2. Yếu tố quyết định thành tích nhảy xa
Thành tích nhảy xa (S) về cơ bản phụ thuộc vào tốc độ bay ban đầu
(
0
V
) và góc bay của tổng trọng tâm (
) khi rời đất. Tốc độ bay phụ thuộc
vào tốc độ đà tối đa có đợc trớc lúc giậm nhảy và giậm nhảy.
Độ xa của lần nhảy đợc xác định theo công thức:
g
SinV
S
2.
2
động viên nhảy xa thì tố chất sức mạnh có vai trò đặc biệt quan trọng. Sức
mạnh trong nhảy xa đợc thể hiện nhiều nhất trong chạy đà và giậm nhảy. Ai
cũng biết nếu làm tốt giai đoạn này thì sẽ đạt đợc thành tích cao. Tuy nhiên
không phải ai cũng biết cách thực hiện giai đoạn đó. Về lí thuyết, độ xa của
lần nhảy đợc tính theo công thức nh đã nêu ở phần 1.2.2 cho ta thấy :
Thành tích nhảy xa cao nhất đòi hỏi tốc độ bay phải lớn và góc bay
đạt 45
o
. Tuy nhiên trong thực tế, góc độ bay chỉ đạt 18 - 25
o
. Ngay cả các
VĐV cũng không thể vợt quá đợc ngỡng này. Chúng ta có thể giải thích
điều này bởi trong thực tế độ xa khi nhảy của một ngời không thể giống nh
bắn đi một viên đạn, vì trọng tâm cơ thể ngời khi chạy đà và giậm nhảy
không ở trên một mặt phẳng mà có xu hớng thấp dần, tạo ra góc chênh lệch
là ngời ta gọi là góc địa hình và chính yếu tố này làm cho góc độ bay không
đạt đợc góc lí tởng là 45
o
. Chính vì vậy mà việc phát triển sức mạnh trong
nhảy xa là hết sức cần thiết nhằm tăng độ xa tạo ra và tốc độ bay ban đầu
lớn, góc bay hợp lí để nâng cao thành tích nhảy xa.
1.3. Phơng pháp phát triển sức mạnh
Để phát triển sức mạnh, quá trình tập luyện phải giải quyết những
nhiệm vụ sau:
Tăng cờng số lợng đơn vị vận động tham gia vào quá trình hoạt
động đặc biệt là đơn vị vận động nhanh (sợi cơ nhanh). 10
11
-Bài tập có sức cản của ngời cùng tập đối kháng cá nhân
- Bài tập khắc phục trọng lợng bản thân.
- Bài tập mô phỏng động tác
1.4. Đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi THPT
1.4.1 Đặc điểm tâm lý
Về tâm lý các em tỏ ra mình là ngời lớn. ở lứa tuổi này các em tự ý
thức, hình thành tính cách và hớng vào tơng lai, đó cũng là tuổi lãng mạn
ớc mơ độc đáo và mong cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Độ tuổi nhu cầu đầy
sáng tạo, khát vọng khám phá bí ẩn của cuộc sống và tò mò trong những
hành vi của mình. Tuy vậy các em cha định hớng rõ nên mọi định hớng
vẫn còn miên man cha có hiệu quả.
- Hứng thú: Các em đã có thái độ tự giác tích cực trong học tập xuất
phát từ động cơ đúng đắn và hớng tới việc chọn nghề sau này khi đã học
xong THPT. Song hứng thú học tập vẫn còn nhiều động cơ khác nh: Đôi khi
do tự ái, hiếu danh nên hứng thú các em còn nhất thời. Các em tỏ ra mình
là trởng thành nên thờng hay bắt trớc hành vi của ngời lớn. Chính điều
này thúc đẩy các em hứng thú khám phá và tìm hiểu xung quanh.
- Tình cảm: Giáo viên gây đợc thiện cảm và sự tôn trọng của học sinh
đó là một trong những bớc thành công. Điều đó giúp giáo viên thuận lợi
trong quá trình giảng dạy thúc đẩy các em tích cực, tự giác trong tập luyện và
ham thích môn thể thao. Do vậy giáo viên phải là ngời mẫu mực, công
bằng, biết động viên kịp thời và quan tâm đúng mực với học sinh gần gũi
thân mật với các em nắm đợc đặc điểm tính cách mỗi học sinh. Học sinh
nam không giống nh nữ phải khích lệ các em nhiều hơn là dùng hình phạt
cứng rắn. Giáo viên biết quan hệ với học sinh một cách có phơng pháp s
phạm và tế nhị. Hiểu biết quan hệ s phạm cô trò sẽ tránh khỏi đợc những
biểu hiện hành vi quan hệ không tôn trọng học sinh kém hoặc thiếu yếu tố tổ
chức kỷ luật trong giờ học TDTT, đặc biệt những học sinh cá biệt.
Hệ thần kinh tiếp tục phát triển đi tới hoàn thiện. Khả năng t duy,
phân tích, tổng hợp và trừu tợng hóa đợc phát triển tạo thuận lợi việc hình 13
thành nhanh chóng phản xạ có điều kiện. Đây là đặc điểm thuận lợi để các
em nhanh chóng tiếp thu và hoàn thiện kĩ thuật động tác. Tuy nhiên đối với
một số bài tập mang tính đơn điệu không hấp dẫn cũng làm cho các em
nhanh chóng mệt mỏi. Cần thay đổi nhiều hình thức tập luyện một cách
phong phú, đặc biệt tăng cờng các hình thức thi đấu trò chơi để gây hứng
thú và tạo điều kiện hoàn thành tốt các bài tập chính. Ngoài ra do sự vận
động mạnh của tuyến giáp, tuyến yên, tuyến sinh dục làm cho tính hng
phấn của hệ thần kinh chiếm u thế giữa hng phấn và ức chế không cân
bằng đã ảnh hởng phát triển thể lực.
1.4.2.3. Hệ vận động
Hệ xơng đã bắt đầu giảm tốc độ phát triển mỗi năm nam cao thêm 1-
3cm. Tập luyện TDTT thờng xuyên liên tục làm bộ xơng khỏe mạnh hơn.
Các xơng hầu nh đã hoàn thiện nên các em có thể mang vác chèo chống
vật nặng mà không làm tổn hại, phát triển lệch lạc của cơ thể .
Hệ cơ: Các tổ chức cơ phát triển muộn hơn xơng nên cơ co vẫn còn
tơng đối yếu, các bắp cơ lớn phát triển tơng đối nhanh (cơ đùi, cơ cánh
tay) còn các cơ nhỏ (cơ bàn tay, ngón tay) chậm hơn. Các cơ co phát triển
sớm hơn các cơ duỗi. Nam ở thời kì 14-16 cơ bắp phát triển nhanh nhất 17 -
18 tuổi hoàn thiện dần dần.
1.4.2.4. Hệ tuần hoàn
Hệ tuần hoàn đang phát triển và đi đến hoàn thiện. Buồng tim phát
triển tơng đối hoàn chỉnh, phản ứng hệ tuần hoàn trong vận động tơng đối
rõ rệt. Cho nên lứa tuổi này có thể tập những bài tập dai sức, bài tập có khối
lợng cờng độ vận động lớn. Nhng phải thờng xuyên kiểm tra tình hình
15CHƯƠNG 2
NHIệM Vụ, PHƯƠNG PHáP, Tổ CHứC NGHIÊN CứU
2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đợc mục đích nghiên cứu, đề tài giải quyết 2 nhiệm vụ nh
sau:
Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng công tác giảng dạy môn GDTC nói
chung và việc giảng dạy môn nhảy xa nói riêng trong đó có việc phát triển
sức mạnh trong giai đoạn giậm nhảy của nhảy xa cho học sinh nam khối 11
trờng THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội.
Nhiệm vụ 2: Lựa chọn và ứng dụng một số bài tập phát triển sức
mạnh nhằm nâng cao thành tích nhảy xa cho học sinh nam khối 11 THPT
Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội.
2.2. Phơng pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tôi xác định các phơng
pháp nghiên cứu sau:
2.2.1. Phơng pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
làm 2 nhóm:
Nhóm A: Nhóm thực nghiệm gồm 35 em tập luyện theo bài tập và
phơng pháp mà chúng tôi đa ra.
Nhóm B: Nhóm đối chứng gồm 35 em tập luyện theo bài tập và
phơng pháp mà giáo viên trờng đa ra.
Thực nghiệm s phạm đợc tiến hành theo phơng pháp so sánh
thành tích cho cả 2 nhóm.
2.2.6. Phơng pháp toán học thống kê
Sau khi thu thập số liệu chúng tôi đã sử dụng phơng pháp toán học
thống kê để sử lí số liệu nghiên cứu :
- Số trung bình cộng :
n
i
i 1
X
n
x
17
Trong đó :
X
:Số trung bình
x
A
A
BA
nn
xx
22
( n>30)
Trong đó:
x
A
: Là số trung bình của nhóm A
x
B
: Là số trung bình của nhóm B
2
: Phơng sai
n
A
: Kích thớc tập hợp mẫu nhóm A
n
B
: Kích thớc tập hợp mẫu nhúm
11/ 2010 1/2011
- Đề cơng
nghiên cứu
khoa học
2
- Thu thập tài liệu có liên
quan, viết tổng quan của
đề tài
- Hoàn thành tổng quan đề
tài
- Điều tra đánh giá tố chất
sức mạnh trong giai đoạn
giậm nhảy nhằm nâng cao
thành tích nhảy xa cho học
sinh nam khối 11 trờng
THPT Nguyễn Văn Cừ -
Hà Nội
- Lựa chọn hệ thống bài
Văn Cừ - Hà
Nội
- Hệ thống bài 19
tập
- ng dụng và đánh giá hệ
thống bài tập.
tập
- Kết quả của
hệ thống các
bài tập
3
- Hoàn thiện khóa luận và
bảo vệ khóa luận
4/2011 5/2011
- Hoàn thành
khóa luận
2.3.2. Địa điểm nghiên cứu
- Trờng ĐHSP HN2 - Xuân Hòa - Phúc Yên - Vĩnh Phúc.
- Trờng THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội.
2.3.3. Đối tợng nghiên cứu.
Bài tập phát triển sức mạnh nhằm nâng cao thành tích nhảy xa cho học
sinh nam khối 11 trờng THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội.
năm/ 1 khối lớp, trong đó phải dành 1 tiết cho kiểm tra, 13 tiết cho tập kỹ
thuật và phát triển thể lực. Qua tìm hiểu về công tác GDTC đang thực hiện
tại trờng cho thấy rằng, môn nhảy xa đợc giảng dạy trong 20 giáo án và
đợc gộp cùng với 2 nội dung khác trong 1 tiết. Do vậy, trong các giờ học
chính khoá, công tác huấn luyện thể lực nói chung và kỹ thuật nhảy xa nói
riêng cho học sinh là không thể đạt đợc mục tiêu đề ra.
3.1.1.2. Thực trạng giảng dạy và tập luyện các giờ ngoại khoá.
Thời gian ngoại khoá không bắt buộc và phụ thuộc chủ yếu vào tính
tự giác, tích cực của học sinh. Qua quan sát và phỏng vấn các em học sinh
trong trờng thấy rằng, việc tập luyện ngoại khóa hầu hết các em cha quan
tâm mà chủ yếu dành cho thời gian học các môn khác mà các em cho là quan
trọng. 21
Và qua 2 mục 3.1.1.1 và 3.1.1.2 cho thấy rằng thể lực, kỹ thuật nói
chung và sức mạnh giậm nhảy trong nhảy xa nói riêng của học sinh trờng
Nguyễn Văn Cừ đang ở mức thấp.
3.1.2. Đánh giá thực trạng phát triển sức mạnh trong giậm nhảy môn
nhảy xa của học sinh nam khối 11 trờng THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà
Nội
Để điều tra thực trạng việc sử dụng bài tập phát triển sức mạnh trong
giậm nhảy của học sinh nam khối 11 trờng THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà
Nội, chúng tôi đã trực tiếp phỏng vấn các giáo viên thuộc bộ môn tin - thể
dục của nhà trờng và đợc biết tình hình tập luyện của các em.
Do đó việc chuẩn bị thể lực cũng nh về kĩ thuật của các em cũng chỉ
đợc tập luyện trong trờng học theo chơng trình của bộ môn tin - thể dục.
Vì vậy, việc chuẩn bị thể lực cũng nh kĩ thuật còn hạn chế. Trong những
năm gần đây, đợc phép của Ban giám hiệu nhà trờng và của bộ môn tin -
20 30 15 5 70
28,57 42,85 21,42 7,14 100%
Nhìn vào kết quả kiểm tra ở bảng 3.1 chúng tôi thấy đợc thành tích
của các em đa phần ở mức dới trung bình và trung bình. Nh vậy thành tích
vẫn còn ở mức thấp, hạn chế ở đây là sức mạnh trong giậm nhảy. Nguyên
nhân là do có nhiều em giậm nhảy không hết, chân giậm nhảy yếu, tốc độ
giậm nhảy chậm, còn có em giậm nhảy bị lao (góc độ giậm nhảy nhỏ quá), 4
bớc cuối hạ thấp trọng tâm ít quá (bớc ngắn quá) và lúc giậm nhảy thân
ngời gập trớc quá nhiều dẫn đến thành tích của các em không đạt hiệu quả
cao.
Ngoài ra chúng tôi thấy còn nhiều bất cập trong việc sử dụng hệ thống
bài tập phát triển sức mạnh, nó vẫn cha đợc chú trọng về thời gian và trang
thiết bị dụng cụ tập luyện hạn chế.
Vì vậy, chúng tôi cần lựa chọn ứng dụng và đánh giá một số bài tập phát
triển sức mạnh để nâng cao thành tích nhảy xa cho học sinh nam khối 11
trờng THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội. 23
3.1.3. Lựa chọn test đánh giá sức mạnh giậm nhảy trong nhảy xa cho học
sinh nam khối 11 trờng THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội.
Quan điểm lựa chọn test của chúng tôi nh sau:
Thành tích nhảy xa về cơ bản là phụ thuộc vào tốc độ bay ban đầu và
góc độ bay hợp lý. Tốc độ bay ban đầu lại đợc tạo bởi tốc độ chạy đà và sức
mạnh giậm nhảy. Chính vì vậy các test đợc lựa chọn, phải đánh giá đợc
yếu tố tốc độ (trong chạy đà) và yếu tố sức mạnh (trong giậm nhảy). Qua
tham khảo tài liệu chúng tôi tiến hành đề xuất và chọn test nh sau:
- Bật xa tại chỗ (m).
90
2 Bật cóc 30m (m)
5
50
3 Chạy 30m tốc độ cao (s)
10
80
4 Chạy đạp sau 50m (m)
6
60
5 Nhảy xa toàn đà (m) 10 100 Qua bảng 3.2 cho thấy trong 5 test đa ra phỏng vấn có 3 test đợc giáo
viên, HLV trả lời có ý kiến tán đồng từ 80% số ngời đợc hỏi.
- Bật xa tại chỗ (m).
-Chạy 30m tốc độ cao (s)
-Nhảy xa toàn đà (m)
Từ kết quả trên chúng tôi đi đến kết luận sử dụng 3 test bật xa tại chỗ
(m) và chạy 30m tốc độ cao (s), nhảy xa toàn đà (m) để đánh giá sức mạnh
trong giậm nhảy cho học sinh nam khối 11 trờng THPT Nguyễn Văn Cừ -
Hà Nội.
3.1.4. Đánh giá sức mạnh giậm nhảy trong nhảy xa trớc thực nghiệm
của học sinh nam khối 11 trờng THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội
Trớc khi bớc vào lựa chọn và ứng dụng bài tập cho đối tợng nghiên
cứu, chúng tôi tiến hành kiểm tra bằng các test trớc thực nghiệm đánh giá
trình độ phát triển sức mạnh trong giậm nhảy nhằm nâng cao thành tích nhảy 25
X
2,22 2,20 4,36 4,40 4,55 4,60
0,11 0,2 0,14 0,1 0,17 0,2
t
tính
0,5 1,3 1,25
t
bảng
1,96
P > 0,05
Nhìn vào bảng 3.3 cho thấy thành tích trung bình bật xa tại chỗ của
nhóm đối chứng là 2,22 (m), của nhóm thực nghiệm 2,20 (m) với t
tính
= 0,5 <
t
bảng
= 1,96. Nh vậy sự khác biệt thành tích của 2 nhóm là không có ý nghĩa
ở ngỡng xác suất P > 0,05. Tơng tự, ta thấy thành tích trung bình của các
test còn lại: Chạy 30m tốc độ cao (s), nhảy xa toàn đà (m), của 2 nhóm trớc
thực nghiệm là không có ý nghĩa, thể hiện t
tính
< t
bảng
ở ngỡng xác suất P >
0,05.
Nh vậy, chúng tôi khẳng định trớc thực nghiệm trình độ thể lực