Lựa chọn các bài tập nhằm nâng cao hiệu quả giậm nhảy trong nhảy cao nằm nghiêng cho nam học sinh khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội - Pdf 29


1

Trờng Đại học s phạm hà Nội 2
Khoa giáo dục thể chất
Trơng Văn Binh Lựa chọn các bài tập nhằm nâng
cao hiệu quả giậm nhảy trong
nhảy cao nằm nghiêng cho nam
học sinh khối 11 trờng THPT
Nguyễn văn Cừ - Hà Nội
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Hà Nội - 2011


Hà Nội - 2011

3

Lời cam đoan
Tên tôi là Trơng Văn Binh
Sinh viên lớp K33 khoa GDTC trờng Đại học S phạm Hà Nội 2 cam
đoan kết quả nghiên cứu của đề tài là do tôi làm. Kết quả nghiên cứu này mang
tính thời sự, cấp thiết và phù hợp với điều kiện khách quan của trờng THPT
Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội. Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2011.
Sinh viên Trơng Văn Binh


5

Danh mục bảng biểu

Bảng 3.1 Thực trạng đội ngũ giáo viên trờng THPT Nguyễn Văn Cừ - Gia Lâm
- Hà Nội
Bảng 3.2. Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy và học tập môn
GDTC
Bảng 3.3. Kết quả quan sát s phạm các bài tập của học sinh khối 11 trờng
THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội
Bảng 3.4. Kết quả phỏng vấn các thầy cô giáo việc sử dụng bài tập trong giảng
dạy kỹ thuật nhảy cao nằm nghiêng cho học sinh khối 11 trờng
THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội (n= 15)
Bảng 3.5. Kết quả học tập môn nhảy cao nằm nghiêng của nam học sinh khối 11
trờng THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội
Bảng 3.6. Kết quả phỏng vẫn những sai lầm thờng mắc và nguyên nhân dẫn tới
những sai lầm khi học kỹ thuật giai đoạn giậm nhảy của kỹ thuật
nhảy cao nằm nghiêng (n = 15)
Bảng 3.7. Kết quả phỏng vấn các bài tập trong giảng dạy kỹ thuật giậm nhảy của
kiểu nhảy cao nằm nghiêng ( n = 16)
Bảng 3.8. Kết quả phỏng vấn đội ngũ giáo viên TDTT về việc lựa chọn các test
đánh giá bài tập bổ trợ nhằm nâng cao hiệu quả giậm nhảy cho đối
tợng nghiên cứu (n = 14)
Bảng 3.9. Tiến trình giảng dạy
Bảng 3.10. Kết quả kiểm tra 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng trớc thực
nghiệm (n
A
= n
B
= 35).

2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu 19
2.2. Phơng pháp nghiên cứu 19
2.3. Tổ chức nghiên cứu 21
Chơng 3. Phân tích kết quả nghiên cứu 24
3.1. Đánh giá thực trạng công tác GDTC và việc sử dụng bài tập chuyên môn
trong giảng dạy kỹ thuật giậm nhảy trong nhảy cao nằm nghiêng cho nam
học sinh khối 11 trờng THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội. 24
3.2. Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập chuyên môn nâng cao
hiệu quả giậm nhảy trong nhảy cao nằm nghiêng của nam học sinh khối 11
trờng THPT Nguyễn Văn Cừ - Gia Lâm - Hà Nội 32
Kết luận và kiến nghị 45
Tài liệu tham khảo 47
Phụ lục
8

ĐặT VấN Đề

Trong xu thế hội nhập kinh tế, Quốc tế, sự bùng nổ của công nghệ thông tin
truyền thông cùng với sự phát triển mạnh mẽ ở đất nớc ta. Nó càng phải đòi hỏi
mỗi chúng ta phải không ngừng cố gắng để đáp ứng với sự nghiệp của thời đại.
Chính vì vậy, TDTT là một hoạt động không thể thiếu trong đời sống xã hội loài
ngời. Ngay từ khi mới ra đời nó đã trở thành một bộ phận hữu cơ của nền văn
hoá xã hội, là phơng tiện giáo dục thể chất góp phần phát triển toàn diện nhân
cách, nâng cao sức khoẻ phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Hoạt động TDTT không chỉ đem lại sự thoả mãn về nhu cầu tinh thần và thể
chất mà thông qua TDTT chúng ta có thể đánh giá đợc sự phát triển văn hoá thể
chất của mỗi địa phơng, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, nó còn là phơng tiên giao

trọng.[9]
Trong mục tiêu đào tạo con ngời toàn diện về: Đức, trí, thể, mĩ cho thế hệ
trẻ tơng lai của đất nớc. Tại Hội nghị TW4 khoá VIII về đổi mới công tác giáo
dục đào tạo, trong Nghị quyết có ghi: Phát triển cao về trí tuệ, cờng tráng về thể
chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức Đã khẳng định mục tiêu
giáo dục là nhằm giáo dục và hình thành nhân cách, tăng cờng thể lực cho học
sinh, sinh viên. Vì vậy, chúng ta phải phấn đấu thực hiện kế hoạch củng cố, xây
dựng và phát triển phong trào TDTT trong những năm đầu của thế kỉ XXI đa thể
thao Việt Nam hoà nhập, đua tranh với các nớc trong khu vực và thế giới[8].
Ngày 7/8/1995 Thủ tớng Chính phủ đã ra Chỉ thị 133/TTg nêu rõ yêu cầu đối
với Tổng cục TDTT cũng là UBTDTT - Việt Nam tỉnh thành và mã ngành có liên
quan: Ngành TDTT phải xây dựng định hớng phát triển có tính chiến lợc,
trong đó quy định rõ các hình thức hoạt động mang tính phổ cập đối với mọi đối
tợng lứa tuổi tạo thành phong trào tập luyện rộng rãi của quần chúng, khoẻ để
xây dựng và bảo vệ tổ quốc[6].
Trong đó GDTC là một bộ phận hết sức cần thiết nó gắn liền và góp phần
vào mục tiêu giáo dục và đào tạo, có vai trò quan trọng để chuẩn bị thể lực chung
cho học sinh, đồng thời GDTC còn giúp rèn luyện ý chí, tinh thần dũng cảm, ý

10

thức tổ chức kỉ luật và là một trong những nội dung đánh giá tiêu chuẩn rèn
luyện thân thể cho học sinh. Không chỉ vậy, GDTC trong nhà trờng THPT nhằm
từng bớc nâng cao trình độ văn hoá, thể chất và thể thao cho ngời học, góp
phần vào sự nghiệp TDTT của đất nớc trong khu vực và quốc tế.
Điền kinh là một môn thể thao đa dạng và phong phú. Nó bao gồm các hoạt
động tự nhiên của con ngời nh: Đi bộ, chạy, nhảy và nhiều môn phối hợp.
Điền kinh đợc coi là một bộ phận giảng dạy chính thức trong các trờng, các
cấp từ cơ sở đến cấp trung học trong các trờng dạy nghề, cao đẳng, đại học. Nó
vừa là môn học rất cơ bản và làm tiền đề cho các môn học khác, mặt khác nó

nhiệm vụ quan trọng trong quá trình huấn luyện, giảng dạy kỹ thuật nhảy cao
cho vận động viên và học sinh.
Thông qua một số buổi quan sát và kết quả nhảy cao của học sinh ở một số
trờng trong thành phố Hà Nội, chúng tôi nhận thấy thành tích và hiệu quả đạt
đợc cha cao. Nguyên nhân chính là do cha phát huy đợc hiệu quả kỹ thuật
giậm nhảy, tồn tại nguyên nhân đó là do cha có đủ dụng cụ sân bãi đáp ứng yêu
cầu tập luyện của môn học, đội ngũ giáo viên còn hạn chế, số học sinh nhiều. Vì
vậy, việc giảng dạy kỹ thuật còn hạn chế và kết quả cha cao.
Xuất phát từ lý do trên, để góp phần nâng cao chất lợng giảng dạy của nhà
trờng nói chung và một số trờng nói riêng, Tôi lựa chọn đề tài Lựa chọn các
bài tập chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả giậm nhảy trong nhảy cao nằm
nghiêng cho nam học sinh khối 11 trờng THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội.

* Mục đích nghiên cứu: Dựa trên cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn chúng
tôi ứng dụng các bài tập chuyên môn sao cho phù hợp với điều kiện lứa tuổi, giới
tính nhằm nâng cao hiệu quả giậm nhảy trong nhảy cao nằm nghiêng cho nam
học sinh khối 11 trờng THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội.
12

Chơng 1

Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
1.1. Khái niệm về kỹ thuật, vai trò của kỹ thuật điền kinh


Từ trớc tới nay, khái niệm về bài tập chuyên môn đợc nhiều tác giả
khác nhau nêu ra nh:
Theo các nhà khoa học cho rằng: Bài tập chuyên môn là một trong những
biện pháp giảng dạy bao gồm các bài tập mang tính chuẩn bị cho vận động viên,
bài tập mang tính dẫn dắt, bài tập mang tính chuyển đổi và bài tập tăng cờng tố
chất thể lực.
Còn theo lý luận và phơng pháp giáo dục thể dục thể thao của Nguyễn
Toán và Phạm Danh Tốn và các cộng sự thì cho rằng: Bài tập chuyên môn là các
bài tập phức hợp các yếu tố của động tác thi đấu cùng các biến dạng của chúng
cũng nh các bài tập dẫn dắt tác động có chủ định và có hiệu quả ở chính ngay
môn thể thao đó[10].
Các khái niệm trên tuy có khác nhau về cách trình bày nhng luôn có sự
thống nhất về ý nghĩa. Nh vậy, có thể chốt lại về khái niệm bài tập chuyên môn
là các bài tập mang tính chất chuẩn bị, tính dẫn dắt, tính chuyển đổi và tính thể
lực chuyên biệt cho từng kỹ thuật và từng môn thể thao khác nhau.
1.2.2. Vai trò và tác dụng của bài tập bổ trợ chuyên môn.
Theo các nhà khoa học, các chuyên gia, huấn luyện viên thể thao thì các
bài tập chuyên môn là biện pháp quan trọng trong giảng dạy và huấn luyện kỹ
thuật.
Một kỹ thuật thờng đợc cấu trúc các chuỗi động tác gắn kết có trình tự,
có sự liên quan phối hợp lẫn nhau. Thúc đẩy hoặc hạn chế nhau để cùng thực
hiện yếu lĩnh kỹ thuật động tác nào đó, một kỹ thuật thờng gắn nhiều khâu,
nhiều cử động, nhiều giai đoạn nên cùng một lúc ngời học không thể hình
thành ngay các khái niệm cũng nh tạo ra các đờng mòn liên hệ trên vỏ đại não
các cử động đó. Do vậy, ngời ta phân chia nhỏ kỹ thuật phức tạp thành các giai
đoạn khác nhau.

14

Trong nhảy cao, ngời ta phân kỹ thuật ra thành 4 giai đoạn là: Chạy đà,

Nhìn chung, ngời ta có thể thấy các xu thế nghiên cứu sử dụng bài tập
chuyên môn sau:
* Nghiên cứu phát triển công cụ và phơng tiện để sử dụng cho các bài tập
chuyên môn
Các cuộc thi chính thức khởi nguồn lịch sử môn Nhảy cao lần đầu tiên có
từ hơn 100 năm trớc. Ngày đó môn Nhảy cao chủ yếu diễn ra trên hố cát và các
đờng chạy bằng đất nện hoặc sỉ than, các kỹ thuật còn nghèo nàn, công cụ và
phơng tiện tập luyện còn hạn chế. Do vậy, các hình thức của các bài tập chuyên
môn cũng đơn điệu, nghèo nàn. Nhờ có khoa học phát triển, nên có sự ra đời của
các dụng cụ và máy móc tập luyện khác nhau làm cho các bài tập càng đa dạng
phong phú hơn, đáp ứng các mục đích có yêu cầu chuyên biệt của các môn thể
thao.
* Tận dụng các phơng tiện về ánh sáng, âm thanh tăng hiệu quả các bài tập
chuyên môn
Hiện nay, các nhà khoa học đã phát hiện thấy mối quan hệ giữa các giác
quan thuộc xúc giác, thính giác, thị giác, khứu giác, vị giác, đều có tác động
quan trọng tới việc nắm bắt kỹ năng, kỹ xảo và phát triển các tố chất vận động.
Vì vậy, nhiều chuyên gia thể thao đã dùng ánh sáng hoặc âm thanh, tác động vào
tâm lí cũng nh quá trình hng phấn của ngời tập giúp cho tập luyện đạt hiệu
quả cao.
* Xu thế tập luyện bài tập chuyên môn theo nhịp sinh học của ngời tập.
Nhịp sinh học đợc hai nhà khoa học ngời Mỹ đề xuất vào thế kỷ 19.
Theo hai ông, nếu tính từ ngày sinh thì cứ 23 ngày là một chu kỳ thể lực, 28
ngày là một chu kỳ tình cảm và 33 ngày là một chu kỳ trí lực. Nếu tập luyện vào
nhịp sinh học cao nhất của thể lực, trí lực hoặc tình cảm thì hiệu quả sẽ cao hơn,
còn các ngày khác cần có sự tập luyện vào thời điểm nhịp sinh học cao sẽ có
hiệu quả cao.

16



khác nhau của khả năng vận động đợc gọi là tố chất vận động hay tố chất thể
lực.
Năng lực vận động của con ngời đợc thể hiện qua 4 loại tố chất sau:
* Sức mạnh là khả năng khắc phục trọng tải bên ngoài bằng sự căng cơ.
Sức mạnh cơ bắp phụ thuộc vào đặc tính của quá trình thần kinh điều khiển.[7]
Sức mạnh mà cơ phát ra phụ thuộc vào:
- Số lợng đơn vị vận động (sợi cơ) tham gia vào căng cơ.
- Chế độ co của các đơn vị vận động đó.
- Chiều dài ban đầu của sợi cơ trớc lúc co.
Khi số lợng sợi co cơ là tối đa, các sợi cơ đều co theo chế độ co cứng và
chiều dài ban đầu của sợi cơ là chiều dài tối u thì cơ sẽ co với lực tối đa. lực đó
gọi là sức mạnh tối đa. Sức mạnh tối đa của một cơ phụ thuộc vào số lợng sợi
cơ và tiết diện ngang của các sợi cơ.
Trong thực tế, sức mạnh cơ của con ngời đợc đo khi co cơ tích cực,
nghĩa là co cơ với sự tham gia của ý thức. Vì vậy, sức mạnh mà chúng ta xem xét
thực tế chỉ là sức mạnh tích cực tối đa, nó khác với sức mạnh tối đa sinh lý của
cơ mà ta cũng có thể ghi đợc bằng kích thích điện lên cơ.
Sức mạnh tích cực tối đa (sức mạnh tuyệt đối) của cơ chịu sự ảnh hởng
của hai yếu tố chính là:
- Các yếu tố trong cơ ở ngoại vi: Nhóm này gồm: Điều kiện cơ học của sự
co cơ, chiều dài ban đầu của cơ, độ dày (tiết diện ngang) của cơ, đặc điểm cấu
tạo cả các loại sợi cơ chứa trong cơ.
- Các yếu tố thần kinh trung ơng điều khiển sự co cơ và phối hợp giữa
các sợi cơ và cơ.
Điều kiện cơ học của sự co cơ, chiều dài ban đầu của cơ là các yếu tố kỹ
năng của hoạt động sức mạnh, hoàn thiện kỹ thuật động tác chính là tạo ra điều
kiện cơ học và chiều dài ban đầu tối u cho sự co cơ. Do sức mạnh cơ phụ thuộc

18


Dạng phức tạp của sức nhanh là thời gian thực hiện các hoạt động thể thao
phức tạp khác nhau, nh chạy 100m, tốc độ đấm trong quyền Anh, tốc độ dẫn
bóng trong bóng đá
Các dạng đơn giản của sức nhanh liên quan chặt chẽ với kết quả của sức
nhanh của dạng phức tạp. Thời gian phản ứng, thời gian của một động tác đơn lẻ
hoặc tần số động tác cục bộ càng cao thì tốc độ thực hiện các hoạt động phức tạp
sẽ càng cao. Song các dạng biểu hiện sức nhanh đơn giản lại phát triển tơng đối
độc lập với nhau. Thời gian phản ứng có thể rất tốt, nhng động tác đơn lẻ lại
chậm hoặc tần số của động tác lại thấp. Vì vậy sức nhanh là yếu tố tổng hợp của
ba yếu tố cấu thành, là thời gian phản ứng, thời gian của động tác đơn lẻ và tần
số hoạt động.
Yếu tố quyết định tốc độ của tất cả các dạng sức nhanh nêu trên là độ linh
hoạt của các quá trình thần kinh và tốc độ co cơ.
Độ linh hoạt của quá trình thần kinh thể hiện ở khả năng biến đổi nhanh
chóng giữa hng phấn và ức chế trong các trung tâm thần kinh. Ngoài ra, độ linh
hoạt thần kinh còn bao gồm cả tốc độ dẫn truyền xung động trong các dây thần
kinh ở ngoại vi. Sự thay đổi nhanh giữa hng phấn và ức chế làm cho các nơron
vận động có khả năng phát xung động với tần số cao và làm cho đơn vị vận động
thả lỏng nhanh, đó là các yếu tố tăng cờng tốc độ và tần số của động tác.
Tốc độ co cơ phụ thuộc trớc tiên vào tỷ lệ sợi cơ nhanh và sợi cơ chậm
trong bó cơ. Các cơ có tỷ lệ sợi cơ nhanh cao, đặc biệt là sợi cơ nhóm II - A có
khả năng tốc độ cao hơn. Tốc độ co cơ chịu ảnh hởng của hàm lợng các chất
cao năng ATP và CP. Vì vậy khi hàm lợng ATP và CP trong cơ cao thì khả
năng co cơ nhanh cũng tăng lên. Tập luyện sức nhanh làm cho hàm lợng ATP
và CP trong các sợi cơ, nhất là sợi cơ nhanh II - A và II - B tăng lên, tốc độ co cơ
còn phụ thuộc vào hoạt tính của men phân giải và tổng hợp ATP và CP.
Trong các hoạt động TDTT, tốc độ và sức mạnh có liên quan mật thiết với
nhau. Mức độ phát triển sức mạnh ảnh hởng rõ rệt đến sức nhanh. Kết quả hoạt



21

môi trờng bên ngoài và vận chuyển ôxy đến cơ và các cơ quan của cơ thể, hệ cơ
là hệ sử dụng ôxy đợc cung cấp.
Hệ vận chuyển ôxy bao gồm hệ hô hấp ngoài, máu và tim - mạch. Chức
năng của mỗi bộ phận trong cả hệ thống này, cuối cùng đều quyết định khả năng
vận chuyển ôxy của cơ thể.
Hệ hô hấp là khâu đầu tiên của hệ vận chuyển ôxy. Hệ hô hấp đảm bảo việc
trao đổi khí giữa không khí bên ngoài và máu, tức là làm cho phân áp ôxy trong
máu động mạch đợc duy trì ở mức cần thiết để cung cấp cho cơ và các cơ quan.
Công suất và hiệu quả của hệ hô hấp ngoài tăng lên. Sự tăng công suất và
hiệu quả của hô hấp ngoài xảy ra trớc tiên là do lực và sức bền của các cơ hô
hấp đều tăng lên. Điều đó làm cho độ sâu hô hấp tăng lên đáng kể và tần số hô
hấp, ngợc lại, giảm đi. Các biến đổi nêu trên cuối cùng làm cho thông khí phổi,
tức là lợng không khí ra vào phổi một phút tăng lên.
Hệ máu. Thể tích máu và hàm lợng hemoglobin quyết định khả năng vận
chuyển ôxy của cơ thể, vì nh ta đã biết ôxy đợc vận chuyển từ phổi đến các tổ
chức bằng cách kết hợp với hemoglobin của hồng cầu.
Trong quá trình tập luyện sức bền hàm lợng axit lactic trong cơ và máu
khi thực hiện các bài tập a khí dới dạng tối đa giảm đi. Hàm lợng axit lactic
trong máu của VĐV luyện tập sức bền dới tối đa nh vậy thấp hơn so với ngời
thờng và VĐV các môn thể thao khác hàm lợng axit lactic thấp của VĐV tập
luyện sức bền do các yếu tố sau đây quyết định:
- Cơ bắp của VĐV tập luyện sức bền có khả năng trao đổi chất ở điều kiện
hàm lợng ôxy cao, vì vậy, chúng ít sử dụng cách cung cấp năng lợng yếm khí,
có nghĩa là ít tạo ra axit lactic hơn ở ngời thờng.
- Hệ vận chuyển ôxy (hô hấp, máu, tuần hoàn) của VĐV sức bền thích
nghi với vận động nhanh hơn do đó cung cấp ôxy đầy đủ cho cơ thể.
- Các VĐV tập luyện sức bền có tỷ lệ các sợi cơ chậm cao và cơ tim phát

- Khéo léo là khả năng thực hiện những động tác phối hợp phức tạp và khả
năng hình thành những động tác mới phù hợp với yêu cầu vận động. Cơ sở sinh lí

23

của tố chất này là các phản xạ phối hợp phức tạp. Vì vậy mức độ phát triển khéo
léo phụ thuộc trạng thái hệ thần kinh trung ơng.[7]
Sự khéo léo có thể đợc biểu hiện qua ba hình thái chính sau:
- Trong sự chuẩn xác của động tác về không gian.
- Trong sự chuẩn xác của động tác khi thời gian thực hiện động tác bị hạn
chế.
- Khả năng giải quyết nhanh và đúng những tình huống xuất hiện bất ngờ
trong hoạt động.
- Khéo léo thờng coi là tố chất vận động loại hai, phụ thuộc vào mức độ
phát triển của các tố chất khác, nh sức nhanh, sức mạnh, sức bền. Mức độ phát
triển khéo léo liên quan chặt chẽ với trạng thái chức năng của hệ thần kinh trung
ơng.
Tập luyện phát triển sự khéo léo lâu dài làm tăng độ linh hoạt của các quá
trình thần kinh, làm cho cơ hng phấn và thả lỏng nhanh hơn. Tập luyện các bài
tập chuyên môn có thể làm tăng sự phối hợp hoạt động giữa các cũng nh cơ đối
kháng.
1.5. Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh THPT
Các em học sinh THPT là lứa tuổi đã và đang phát triển để đi đến hoàn
thiện. Do đó, ở lứa tuổi này tâm sinh lí của các em cũng có các đặc điểm riêng
và khác so với các lứa tuổi trớc đó.
* Đặc điểm tâm lí:
Về mặt tâm lí các em thích chứng tỏ mình là ngời lớn, muốn để cho mọi
ngời tôn trọng mình, đã có một trình độ hiểu biết nhất định, có khả năng phân
tích, tổng hợp, muốn biết nhiều, có nhiều hoài bão nhng còn nhiều nhợc điểm
và thiếu kinh nghiệm trong cuộc sống.

- Hệ bài tiết: Điều hòa thân nhiệt hoạt động khá hiệu quả, đặc biệt là bài
tiết qua da. Vì vậy, hồi phục sau tập luyện diễn ra nhanh.
- Hệ vận động:
* Cơ: ở giai đoạn này cơ thể của các em phát triển khá nhanh, khối lợng
cơ tăng nhanh đáng kể do hoạt động thể lực đa dạng nên các nhóm cơ nhỏ đã

25

phát triển. Đặc biệt ở lứa tuổi này nếu tham gia tập luyện TDTT đều đặn thì
những nhóm cơ không những phát triển mạnh mà còn mang tính chuyên môn
cho từng môn thể thao riêng biệt.
* Xơng: Xơng của các em bắt đầu giảm tốc độ phát triển, cột sống đã
ổn định hình dạng nhng vẫn cha đợc củng cố, cha hoàn thiện nếu t thế sai
lệch vẫn bị cong vẹo cho nên tiếp tục bồi dỡng t thế chính xác thông qua các
bài tập nh: Đi, chạy, nhảy cho các em là rất cần thiết và không thể xem nhẹ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status