1 sư phạm hà nội 2
Trường Đại học
Khoa giáo dục thể chất
Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số trò
chơi vận động nhằm nâng cao sức nhanh cho
học sinh nam khối 11 trường THPT
Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Cử nhân Khoa học Sư phạm GDTC – GDQP
Hướng dẫn khoa học
Người thực hiện
CN. Tạ Tất Viện
Hà thị phúc
Hà Nội - 2010
2
Trường Đại học sư phạm hà nội 2
Khoa giáo dục thể chất
Hà Thị Phúc
Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số trò
chơi vận động nhằm nâng cao sức nhanh cho
học sinh nam khối 11 trường THPT
7. NXB:
Nhà xuất bản
8. STT:
Số thứ tự
9. SL:
Số lượng
10. TG:
Thời gian
11: QN:
Quãng nghỉ
12. TN:
Thực nghiệm
13. ĐC:
Đối chứng
14. THCS: Trung học cơ sở
15. DD:
6
mục lụC
Trang
Đặt vấn đề
1
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
5
1.1. GDTC và TDTT trong xã hội hiện nay.
5
1.2. Thực trạng công tác GDTC cho học sinh trong các trường
6
THPT hiện nay.
1.3. Bản chất, phân loại và phương pháp giảng dạy trò chơi
8
vận động cho các em học sinh nam khối 11 trường THPT Nguyễn
Văn Cừ – Hà Nội.
Chương 2: Nhiệm vụ, phương pháp và tổ chức nghiên cứu
35
cho học sinh nam khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ – Hà Nội.
Kết luận và kiến nghị
42
Tài liệu tham khảo
44
Phụ lục
7
Đặt vấn đề
Thế hệ trẻ là những người kế tục sự nghiệp cách mạng và có vai trò
quyết định tới tương lai của đất nước. Chính vì vậy mà Đảng và Nhà nước ta
vẫn luôn đặc biệt quan tâm, bồi dưỡng con người mới phát triển toàn diện về
“ Đức - Trí - Thể - Mỹ”. Trong đó mục tiêu về thể chất ngày càng được quan
tâm hơn trong thời đại công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Nước ta đang trên đà phát triển và hội nhập, cuộc sống con người ngày
càng được nâng cao, đi cùng với sự phát triển về vật chất thì sức khỏe cũng là
một yếu tố luôn được quan tâm đặc biệt. Không thể phủ nhận những lợi ích,
thuận lợi của nền kinh tế phát triển mang lại cho chúng ta nhưng cũng không
thể tránh khỏi những khó khăn, những mặt trái của sự đi lên đó. Nhiều nhà
máy xí nghiệp mọc lên dẫn tới nhiều chất thải và khí độc, nguồn tài nguyên
khai thác phục vụ cho nền công nghiệp ngày càng cạn kiệt thì thiên tai, lũ lụt,
hạn hán xảy ra nhiều hơn. Khí hậu thay đổi, môi trường ô nhiễm cho đến hiện
Là một bộ phận của công tác giáo dục toàn diện, giáo dục thể chất
(GDTC) cũng là nội dung cực kỳ quan trọng để hình thành và phát triển nhân
cách cao đẹp, đồng thời nâng cao sức khỏe cho thế hệ trẻ. GDTC là một loại
hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động và phát triển có
chủ đích các tố chất vận động của con người. Dựa trên quan điểm đó, Đảng và
Nhà nước ta đã chủ trương đưa môn học GDTC vào trong các nhà trường. Tại
điều 41 của hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
quy định “ Nhà nước thống nhất quản lí sự nghiệp phát triển TDTT, quy định
chế độ GDTC bắt buộc trong trường học, khuyến khích giúp đỡ các hình thức
tổ chức TDTT chú trọng các tài năng TDTT”.
GDTC trong trường học hiện nay là một quá trình sư phạm nhằm giáo
dục và đào tạo thế hệ trẻ hoàn thiện những phẩm chất, nhân cách bên cạnh đó
còn trang bị cho các em những kĩ năng vận động cơ bản là cơ sở tiền đề cho
các giai đoạn phát triển thể chất của học sinh. Vì thế GDTC trong nhà trường
9
phổ thông là một bộ phận quan trọng trong nền giáo dục toàn diện góp phần
đào tạo con người mới: “Phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất,
phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”.
Trong những phương tiện của GDTC để tác động đến các đối tượng tập
luyện nhằm đạt được những mục đích của GDTC thì trò chơi vận động là một
phương tiện có hiệu quả cao. Trò chơi vận động được sử dụng đều mang tính
mục đích rõ ràng, nó cho phép hoàn thiện các năng lực vận động của các
em.Trong quá trình tham gia trò chơi, các em được tiếp xúc với nhau, mỗi cá
nhân phải cố gắng nỗ lực hết mình vượt khó khăn để hoàn thành trách nhiệm
của mình trước tập thể và mang lại thắng lợi cho toàn đội. Tập thể có trách
nhiệm giúp đỡ cá nhân hoàn thành nhiệm vụ của mình. Ngoài tác dụng vui
chơi giải trí, trò chời vận động còn mang ý nghĩa giáo dục tư tưởng lớn. Nó
vì vậy, là những thầy giáo GDTC có trách nhiệm tìm ra các biện pháp thu hút
các em quan tâm tới môn học, hướng các em vào lối sống lành mạnh để từ đó
nâng cao sức khỏe và phát triển ở các em tố chất vận động, tạo tiền đề cho sự
lựa chọn và bồi dưỡng nhân tài thể thao.
Trò chơi vận động là những hoạt động rất bổ ích, ngoài tác dụng vui
chơi giải trí nó còn được xem là một phương tiện quan trọng để phát triển tố
chất sức nhanh cho học sinh, đặc biệt là học sinh nam.
Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng và ý nghĩa nêu trên, chúng
tôi đã tiến hành đề tài “ Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số trò chơi vận
động nhằm nâng cao sức nhanh cho học sinh nam khối 11 trường THPT
Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội.
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lí của
học sinh nam khối THPT và những đặc điểm của phương pháp sử dụng trò
chơi vận động trong GDTC trường học, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này
với mục đích để lựa chọn và áp dụng một số trò chơi vận động nhằm nâng cao
sức nhanh cho học sinh nam khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ – Hà Nội.
Góp phần đưa ra một số ứng dụng có hiệu quả trong công tác GDTC trường
11
THPT Nguyễn Văn Cừ nói riêng và ở các trường THPT nói chung, làm cơ sở
lựa chọn và bồi dưỡng nhân tài thể thao cho đất nước.
12
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.GDTC và TDTT trong xã hội hiện nay.
Tác dụng nổi bật và chuyên biệt của TDTT thể hiện ở sự phát triển các
tựu về vật chất, tinh thần. TDTT còn là một bộ phần của nền văn hóa xã hội,
là một loại hình hoạt động mà phương tiện cơ bản là các bài tập thể lực thể
hiện cụ thể qua cách thức rèn luyện thân thể nhằm tăng cường thể chất cho
con người, nâng cao thành tích thể thao, góp phần làm phong phú sinh hoạt
văn hóa và giáo dục con người phát triển cân đối, hợp lí.
GDTC là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học
vận động và phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người,
GDTC là một mặt của giáo dục toàn diện trong trường THPT, nó góp phần
thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo theo tinh thần nghị quyết của Đại hội
Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII. “ Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,
bồi dưỡng dân tài, hình thành đội ngũ lao động trí thức, có tay nghề, có năng
lực thực hành, chủ động và sáng tạo.
Chỉ thị số 36CT/TW ngày 24/3/1994 của Ban Bí thư TW Đảng Cộng
sản Việt Nam đã xác định “ Mục tiêu cơ bản, lâu dài của công tác TDTT là
hình thành nền TDTT phát triển và tiến bộ, góp phần nâng cao sức khỏe, thể
lực, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của nhân dân”. Những chỉ thị thông
tư của Đảng và Nhà nước, cùng với sự phát triển của TDTT nước ta cả trên
lĩnh vực TDTT quần chúng, lẫn thể thao thành tích cao, cũng như trên các mặt
hoạt động TDTT khác đang đặt ra những đòi hỏi tất yếu đối với công tác
nghiên cứu khoa học, nhằm làm cho khoa học công nghệ trở thành động lực
và là nhân tố chủ yếu thúc đẩy sự nghiệp TDTT phát triển.
1.2. Thực trạng công tác GDTC cho học sinh trong các trường THPT
hiện nay.
14
1.2.1. Chương trình TD và hiệu quả GDTC ở các trường THPT trong
thời gian qua.
Trong những năm vừa qua hầu hết các trường THPT trong huyện Gia
giáo viên thể dục hiện nay còn xem nhẹ môn thể dục. Nhà trường còn thờ ơ,
cho đây là môn học phụ, học sinh không coi trọng vì môn TD không phải là
chỉ tiêu để đánh giá kết quả học tập của học sinh. Hoạt động đào tạo chỉ được
diễn ra trong giờ học, việc tự học tự tập luyện của học sinh gần như không có.
Hoạt động của giáo viên trong giờ học chỉ mang tính chất ổn định lớp học, ít
theo dõi việc tập luyện của học sinh. Đây là điều đầu tiên dẫn đến chất lượng
môn học thể dục không cao. Vậy nâng cao hiệu quả công tác GDTC là một
nhu cầu cấp bách đối với các cấp lãnh đạo và những người làm công tác
GDTC.
1.2.4. Về cơ sở vật chất và các điều kiện phục vụ giảng dạy thể dục và
hoạt động GDTC.
Qua thực tế giảng dạy trong quá trình thực tập, chúng tôi thấy hầu hết
các trường THPT nói chung và trường THPT Nguyễn Văn Cừ nói riêng chưa
đảm bảo được điều kiện cơ sở vật chất sân bãi dụng cụ tập luyện. Sân trường
còn chật hẹp, dụng cụ tập luyện tuy có nhưng chưa đầy đủ hoặc đã quá cũ khó
sử dụng… Giáo viên thể dục chưa sử dụng đúng trang phục dạy học. Những
vấn đề này ảnh hưởng lớn đến chất lượng giảng dạy thể dục cho học sinh.
1.3. Bản chất, phân loại và phương pháp giảng dạy trò chơi vận động cho
các em học sinh nam khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội
1.3.1. Bản chất của trò chơi
Như ta đã biết trò chơi là sản phẩm của văn hóa tinh thần của con
người. Nó gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người. Trong xã hội có
giai cấp, trò chơi bao giờ cũng mang tính giai cấp. ở chế độ xã hội chủ nghĩa,
16
TDTT nói chung và trò chơi vận động nói riêng là tài sản chung của mọi
người và phục vụ sức khỏe cho mọi tầng lớp nhân dân lao động.
Từ khi chủ nghĩa duy vật biện chứng ra đời, việc giải thích sự phát triển
tốt. Trò chơi tốt phải là trò chơi không những có ý nghĩa tích cực để phát
triển, cải tạo thể chất cho học sinh mà còn góp phần mở mang trí tuệ, góp
phần giáo dục phẩm chất đạo đức cho các em. Đó chính là tính giáo dục của
trò chơi, một khi trò chơi xa rời mục đích kể trên thì trò chơi ấy không còn ý
nghĩa gì nữa.
1.3.2. Phân loại trò chơi
Có rất nhiều tác giả có những quan điểm khác nhau về việc phân loại
trò chơi nói chung và trò chơi vận động nói riêng.
Kế thừa những quan điểm đó trò chơi vận động được phân loại dựa trên
cơ sở một số căn cứ sau:
- Phân loại căn cứ vào đặc điểm thao tác của hoạt động, ta phân trò chơi
thành các loại; đi bộ, chạy, ném, leo trèo, mang vác.
Cách phân loại này nhằm phát triển những kĩ năng cần thiết trong cuộc
sống.
- Căn cứ vào mục đích giáo dưỡng các tố chất thể lực như: sức nhanh,
sức mạnh, sức bền, mềm dẻo và tính khéo léo. Cách phân loại này nhằm củng
cố và phát triển những tố chất cần thiết riêng biệt tùy vào mục đích của người
hướng dẫn vui chơi, góp phần hoàn thiện những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết cho
cuộc sống.
- Căn cứ vào nghề nghiệp mà ta có các trò chơi bổ trợ cho một nghề
nghiệp hay một môn thể thao nào đó như: trò chơi bổ trợ bóng chuyền, bóng
rổ, điền kinh, v.v… trò chơi xây dựng, trò chơi quân sự.
- Căn cứ vào môi trường hoạt động mà có các trò chơi dưới nước, các
trò chơi trên cạn.
18
- Có nhiều tác giả lại căn cứ vào khối lượng vận động để phân chia các
nhóm trò chơi tĩnh, trò chơi vận động hoặc phân chia theo các nhóm chính,
sao cho trò chơi vận động đạt được mục đích ý nghĩa của nó như một phương
tiện để giáo dục thể chất và giải trí cho con người.
1.3.3. Phương pháp giảng dạy trò chơi vận động cho học sinh
Để giảng dạy trò chơi cho học sinh, việc đầu tiên của giáo viên là lựa
chọn trò chơi, khi lựa chọn cần chú ý đến sức khỏe của học sinh, xác định
mục đích và yêu cầu rõ ràng, phù hợp. Sau khi lựa chọn được trò chơi giáo
viên biên soạn thành giáo án giảng dạy, từng bước dạy cho các em từ chưa
biết đến biết, từ chỗ thụ động đến tích cực, sáng tạo trong khuôn khổ và quy
tắc, luật lệ.
Khi đã lựa chọn được trò chơi, giáo viên cần chuẩn bị phương tiện,
dụng cụ phục vụ cho việc giảng dạy, chuẩn bị địa điểm vui chơi và tổ chức
cho học sinh vui chơi. Công việc tổ chức được quy định trong một số nhiệm
vụ: tập hợp học sinh theo đội hình, phân chia đội, chọn vị trí của giáo viên
thích hợp để giải thích và điều khiển trò chơi, chọn đối tượng cho từng đội
hoặc phân vai trong khi chơi. Tùy theo tính chất của trò chơi, giáo viên có thể
tổ chức trò chơi theo nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên phải tuân theo các
nguyên tắc sao cho học sinh phải nghe rõ lời giáo viên phổ biến, nhìn rõ giáo
viên làm mẫu, giáo viên phải quan sát được toàn bộ học sinh và tiến trình
cuộc chơi nhưng không gây cản trở tiến trình cuộc chơi. Khi tổ chức chơi giáo
viên nói ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu làm cho tất cả học sinh đều nghe được và
nắm được cách chơi, luật chơi.
Việc giới thiệu và giải thích trò chơi hấp dẫn là một nghệ thuật của giáo
viên để lôi cuốn học sinh tham gia nhiệt tình. Vì vậy không nên coi thường
khâu giới thiệu và tổ chức trò chơi. Khi các em chơi giáo viên đóng vai trò
như một trọng tài, giải thích những tình huống phạm luật, phân định thắng
thua, giải quyết thắc mắc của học sinh.
20
chúng tôi tìm hiểu, tập hợp các tài liệu như các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị
của Đảng và Nhà nước, tư liệu giảng dạy TDTT và GDTC, các sách viết về
trò chơi vận động, về sức nhanh, sách giải phẫu sinh lí và từ nhiều nguồn tư
liệu khác. Chúng tôi thu thập những tài liệu gần với vấn đề nghiên cứu.
Phương pháp này được sử dụng trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài.
2.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Là phương pháp thu thập thông tin qua hỏi - trả lời giữa người nghiên
cứu với các cá nhân, tổ chức khác nhau về các vấn đề cần quan tâm.
Chúng tôi sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp, phỏng vấn gián
tiếp và trao đổi, tọa đàm.
22
Phỏng vấn trực tiếp là phương pháp thu thập thông tin qua hỏi - trả lời
miệng giữa người nghiên cứu và người được hỏi.
Phỏng vấn gián tiếp là phương pháp thu thập thông tin bằng phiếu hỏi,
phiếu điều tra,.. theo một hệ thống câu hỏi được chuẩn bị sẵn.
Trao đổi, tọa đàm là phương pháp thu thập thông tin nhiều chiều giữa
người nghiên cứu với một số cá nhân về vấn đề quan tâm.
2.2.3. Phương pháp quan sát sư phạm
Phương pháp quan sát sư phạm là phương pháp nhận thức đối tượng
nghiên cứu trong quá trình giáo dục, giáo dưỡng mà không ảnh hưởng tới quá
trình đó.
Trong thời gian chúng tôi thực hiện đề tài này việc quan sát sư phạm
được chúng tôi sử dụng trong quá trình dự giờ, quán sát quá trình học thể dục
và các hoạt động khác mà các em tham gia.
2.2.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp thực nghiệm sư phạm là phương pháp nghiên cứu mà
người ta đưa vào quá trình giảng dạy - huấn luyện, những nhân tố mới được
- Công thức tính phương sai:
n
( xi x)2
2 1
n
- Công thức tính độ lệch chuẩn: 2
- Độ tin cậy:
t
x x
A B
2 2
A B
n
n
B
A
2.3. Tổ chức nghiên cứu
2.3.1. Thời gian nghiên cứu
Thời gian được tiến hành từ tháng 11/2009 đến tháng 5/2010, chia làm
hai giai đoạn
24
Giai đoạn 1: Từ tháng 11/2009 đến tháng 12/2009
- Lựa chọn đề tài nghiên cứu
- Thu thập tài liệu
trúc bên ngoài của thao tác để đạt được mục đích giáo dục, giáo dưỡng của
mình.
- Tính tư tưởng của trò chơi vận động. Với ý nghĩa giáo dục, ngoài tác
dụng vui chơi, giải trí, trò chơi vận động đã góp phần hình thành nhân cách và
giáo dục các phẩm chất đạo đức quí giá như: tính tập thể, tính đoàn kết, tính
kỉ luật, lòng dũng cảm và ý chí quyết thắng trong hoạt động vui chơi. Trong
khi chơi làm nảy sinh tính sáng tạo, tính đồng đội và ý thức tự chủ rất cao.
- Tính thi đua. Tham gia vui chơi là biểu lộ đa dạng của tình cảm, của ý
chí và thể lực. Nhất là đối tượng ở lứa tuổi 15 – 16 sự ganh đua rất quyết liệt
và rõ ràng, tuy nhiên chính sự ganh đua này nên người điều khiển vui chơi
phải có phương pháp quản lí và giáo dục tính tự giác cho các em, tránh các
biểu hiện quá ham chơi dẫn đến quá sức hay ngược lại quá thờ ơ dẫn đến lười
biếng và trốn tránh trách nhiệm. Cả hai trường hợp: quá tích cực ( ham chơi)