Ứng dụng bài tập phát triển sức bền tốc độj trong chạy 100m cho học sinh nữ khối 10 trường THPT nguyễn văn cừ hà nội - Pdf 31

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT

HOÀNG THỊ THƠM

ỨNG DỤNG BÀI TẬP PHÁT TRIỂN
SỨC BỀN TỐC ĐỘ TRONG CHẠY 100M
CHO HỌC SINH NỮ KHỐI 10 TRƢỜNG
THPT NGUYỄN VĂN CỪ - HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

HÀ NỘI, 2012


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT

HOÀNG THỊ THƠM

ỨNG DỤNG BÀI TẬP PHÁT TRIỂN
SỨC BỀN TỐC ĐỘ TRONG CHẠY 100M
CHO HỌC SINH NỮ KHỐI 10 TRƢỜNG
THPT NGUYỄN VĂN C - HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: CNKHSP TDTT – GDQP
Hƣớng dẫn khoa học
Th.S LÊ TRƢỜNG SƠN CHẤN HẢI

HÀ NỘI, 2012

VĐV

: Vận động viên

HLV

: Huấn luyện viên

CNH, HĐH

: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

GDTC

: Giáo dục thể chất

THPT

: Trung học phổ thông

ĐHSP

: Đại học sƣ phạm

XPT

: Xuất phát thấp

XPC


Bảng 3.5

Bảng 3.6

Bảng 3.7

Bảng 3.8

đƣợc các giáo viên sử dụng trong giảng dạy cho học sinh

25

nữ khối 10 Trƣờng THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội
Kết quả kiểm tra thành tích chạy 100m của học sinh nữ
khối 10 Trƣờng THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội (n = 40)
Kết quả phỏng vấn lựa chọn bài tập phát triển sức bền
tốc độ trong chạy cự ly 100m (n =25)
Kết quả phỏng vấn sử dụng test đánh giá sức bền tốc
độ trong chạy 100m (n =25)
So sánh mối tƣơng quan giữa thành tích các test với thành
tích chạy 100m (n = 40)
Kế hoạch tập luyện sức bền tốc độ cho học sinh nữ
khối 10 Trƣờng THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội

25

27

29


35

Bảng 3.9


MỤC LỤC
Trang
1. ĐẶT VẤN ĐỀ

1

Chƣơng 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

4

1.1. Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu

4

1.2. Xu hƣớng tập luyện sức bền tốc độ

6

1.3. Khái niệm và những quan điểm về sức bền tốc độ

8

1.4. Cơ sở lý luận và thực tiễn tập luyện sức bền tốc độ cho học sinh nữ
chạy cự ly 100m


22

3.2. Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập phát triển sức bền
tốc độ trong giảng dạy chạy cự ly ngắn cho học sinh nữ khối 10 Trƣờng 26
THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

36

TÀI LIỆU THAM KHẢO

38

PHỤ LỤC


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Một quốc gia hùng mạnh là một quốc gia có nền giáo dục phát triển. Vì
vậy, đầu tƣ cho giáo dục là đầu tƣ cho phát triển, đảm bảo xây dựng một thế
hệ kế tiếp có đủ phẩm chất, năng lực phục vụ cho đất nƣớc.
Đại hội VI của Đảng (1986) đã mở đầu sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam.
Theo đó nhân tố con ngƣời đƣợc xác định là quan trọng trong toàn bộ sự
nghiệp đổi mới, có tính quyết định đến sự phát triển kinh tế xã hội.
Hiện nay, đất nƣớc ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
(CNH, HĐH) mà nhân tố con ngƣời là động lực trung tâm của sự phát triển vì
vậy cần phát triển con ngƣời một cách toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần.
Để phát triển con ngƣời thì giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) là yếu tố
quan trọng. Mục tiêu của giáo dục phổ thông là “giúp học sinh phát triển toàn

pháp tập luyện thể dục thể thao (TDTT), rèn luyện thân thể. Bên cạnh đó môn
học thể dục còn góp phần rèn luyện cho các em lối sống lành mạnh, tác phong
nhanh nhẹn, linh hoạt, tính tổ chức kỉ luật và tinh thần tập thể là tiền đề hình
thành nhân cách cho các em.
Hệ thống chƣơng trình GDTC ở trƣờng phổ thông hiện nay bao gồm
các môn: Điền kinh, Cầu lông, Bóng đá, Bóng chuyền, Đá cầu… Trong đó
Điền kinh là môn học bắt buộc và môn thi đấu chính tại Hội khỏe Phù Đổng
các cấp.
Trong những giải thi đấu tại các Đại hội thể thao toàn quốc, khu vực,
châu lục cũng nhƣ trên thế giới, Điền kinh là một môn thể thao cơ bản.
Môn Điền kinh đặc biệt là cự li 100m hội tụ đầy đủ những yếu tố về
khả năng phát triển thể lực, các chức năng cơ thể cũng nhƣ rèn luyện ý chí
kiên cƣờng, bền bỉ, tinh thần lạc quan cho ngƣời tập.
Trong môn Điền kinh, cự ly chạy 100m phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố:
sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo và mức độ hoàn thành kĩ thuật. Để
đạt đƣợc thành tích cao trong chạy 100m thì yếu tố sức bền tốc độ là rất quan
trọng. Bởi năng lực thể chất bao giờ cũng gắn chặt chẽ với chức năng của cơ


3
thể. Khi tập sức bền thì cũng đồng thời nâng cao đƣợc khả năng hoạt động lâu
dài của các hệ thống tim, mạch, hô hấp, cơ bắp. Thực tế qua khảo sát tại các
giải phong trào cũng nhƣ Hội khỏe Phù Đổng có thể thấy, các em có tốc độ
chạy sau xuất phát tƣơng đối đồng đều nhƣng càng về cuối cự li thì tốc độ
chạy càng giảm rõ rệt, nhất là trong chạy cự li 100m.
Điều này chứng tỏ, sức bền tốc độ của các em còn thấp nên không thể
duy trì đƣợc tốc độ trên toàn cự li. Do vậy việc phát triển sức bền tốc độ trong
chạy 100m là hết sức quan trọng.
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là hệ thống bài tập phát triển sức bền tốc
độ cho học sinh nữ khối 10 Trƣờng THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội. Qua quan

Sau quá trình thực hiện chỉ thị 36 CT/TW về thực hiện GDTC trong tất
cả các trƣờng học, sự nghiệp TDTT nƣớc ta đã có nhiều bƣớc phát triển, góp
phần tích cực vào thành tựu chung của đất nƣớc. TDTT đƣợc mở rộng tới mọi
đối tƣợng trong xã hội, mọi địa phƣơng trong cả nƣớc với nhiều hình thức,
phƣơng pháp. Đã có “13% dân số thường xuyên tập luyện TDTT, TDTT trong
trường học được chú trọng, thành tích các môn thể thao được nâng cấp, xây
mới, quan hệ quốc tế về thể thao được mở rộng” [4].
Trong đó, “TDTT quần chúng vẫn còn phát triển chậm, nhất là các
vùng nông thôn, miền núi, biên giới; chất lượng TDTT trong giờ học còn hạn
chế, thành tích nhiều môn thể thao còn thấp so với khu vực và trên thế giới;
hoạt động TDTT còn nhiều tiêu cực, công tác quản lý chưa đáp ứng nhu cầu
phát triển TDTT” [4].
Từ thực tế trên cho thấy, TDTT cần có sự thay đổi, Đại hội Đảng IX
xác định: “Đẩy mạnh hoạt động TDTT, nâng cao thể trạng và tầm vóc của
con người Việt Nam. Phát triển TDTT quần chúng với mạng lưới cơ sở rộng
khắp, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ vận động viên thành tích cao, đưa thể thao
Việt Nam lên trình độ chung trong khu vực Đông Nam Á và có vị trí cao trong


5
nhiều bộ môn. Đẩy mạnh xã hội hoá, khuyến khích nhân dân và các tổ chức
tham gia thiết thực, có hiệu quả các hoạt động văn hoá thể thao” [5].
TDTT là một bộ phận của nền văn hoá xã hội, mọi loại hình hoạt động
mà phƣơng tiện cơ bản là các bài tập thể lực (thực hiện cụ thể qua cách thức
rèn luyện thân thể) nhằm tăng cƣờng thể chất cho con ngƣời, nâng cao thành
tích thể thao, góp phần làm phong phú sinh hoạt văn hoá và giáo dục con
ngƣời phát triển cân đối, hợp lí.
Đảng và Nhà nƣớc ta xác định công tác TDTT phải góp phần thực hiện
các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh mở rộng quan hệ đối
ngoại của đất nƣớc, trƣớc hết góp phần nâng cao sức khoẻ, rèn luyện ý chí,

đƣợc phát triển tốt sẽ nâng cao năng lực làm việc của hệ thống cơ quan cơ thể,
tạo điều kiện thuận lợi để ngƣời tập có thể tiếp thu, hoàn thiện nhanh chóng
và hiệu quả các hoạt động vận động. Phát triển các tố chất vận động là một
quá trình tổng hợp, liên quan mật thiết với quá trình tập luyện kĩ thuật thể
thao. Các tố chất vận động đƣợc chia thành 5 loại: sức nhanh, sức mạnh, sức
bền, sự khéo léo và độ dẻo. Học sinh nữ khối 10 Trƣờng THPT Nguyễn Văn
Cừ nói riêng và học sinh nữ khối 10 nói chung rất cần đƣợc sự quan tâm để
phát triển thể chất. Các em vừa bƣớc từ tuổi thiếu niên lên thanh niên, cơ thể
mới bƣớc đầu hoàn thiện. Do vậy, khả năng phối hợp động tác kém hơn nam,
sức bền cũng chƣa đƣợc duy trì nhiều. Vì vậy, cần có sự quan tâm, tìm ra
những phƣơng pháp GDTC phù hợp giúp các em hoàn thiện mình.
1.2. Xu hƣớng tập luyện sức bền tốc độ
Phƣơng pháp tập luyện sức bền chuyên môn có 2 đặc trƣng chung:
Nếu sức bền chung đƣợc phát triển chủ yếu là dùng các bài tập có chu
kỳ, trong quá trình phát triển sức bền chuyên môn ngƣời ta cần sử dụng các
bài tập chuyên môn là chính.
Các bài tập phát triển sức bền chuyên môn phải có cƣờng độ tƣơng đối
với lúc thi đấu nếu thấp hơn sẽ không có hiệu quả.


7
Nếu trong tập luyện nâng cao sức bền chung mà thời gian kéo dài và khối
lƣợng bài tập có ý nghĩa quyết định thì điều quan trọng đối với sức bền chuyên
môn là xác định tƣơng quan tối ƣu giữa cƣờng độ và khối lƣợng bài tập căn cứ
vào cự ly chuyên môn hoá, trình độ của học sinh trong thời kỳ tập luyện.
Tuy nhiên, khi đi sâu vào cự ly chuyên môn của học sinh nữ muốn phát
triển sức bền tốc độ thì trƣớc hết xây dựng nền tảng vững chắc là sức bền
chung sau đó mới phát triển sức bền chuyên môn.
Xu hƣớng tập luyện sức bền tốc độ trong chạy 100m.
Ở các môn thể thao có chu kỳ mà thời gian hoạt động dƣới 1 phút thì

3 - 4 phút; 100m: 4 - 6 phút; 300m: 6 - 8 phút. Số lần lặp lại ở các đoạn 60m
từ 6 - 10 lần; 100m từ 4 - 8 lần; 300m từ 3 - 5 lần. Tổng số mét chạy các đoạn
khoảng 1000m. Theo kết quả nghiên cứu thì những học sinh có thành tích tốt
ở cự ly 100m song lại không cao ở cự ly 200m, thƣờng do các đặc điểm là:
chiều cao trung bình và dƣới trung bình, trọng lƣợng tƣơng đối lớn so với
chiều cao, khả năng tăng tốc độ tốt, tần số bƣớc cao, song độ dài bƣớc ở mức
trung bình, khả năng duy trì tốc độ cực đại không tốt lắm. Còn những học
sinh đạt thành tích tốt ở cả hai cự ly thƣờng có đặc điểm: dáng ngƣời cao,
trọng lƣợng tƣơng đối nhỏ, độ dài bƣớc lớn, tốc độ cực đại cao và khả năng
duy trì tốc độ cực đại lâu. Chuyên môn hoá hẹp không có nghĩa là chạy 100m
chỉ tham gia thi đấu 100m, mà còn thi đấu cả cự ly 200m nhằm giúp hoàn
thiện các tố chất chuyên môn [3].
1.3. Khái niệm và những quan điểm về sức bền tốc độ
Theo quan điểm của các nhà khoa học TDTT đã phân loại sức bền
thành hai loại gồm:
- Sức bền chung
- Sức bền chuyên môn
+ Sức bền tốc độ
+ Sức bền mạnh


9
Trong đó sức bền chung là sức bền trong các hoạt động kéo dài với cƣờng
độ trung bình thu hút toàn bộ các cơ quan trong cơ thể tham gia hoạt động.
Sức bền chuyên môn là năng lực duy trì khả năng vận động cao trong
những loại hình bài tập nhất định [14].
Sức bền tốc độ: là khả năng chống lại mệt mỏi trong hoạt động về tốc độ.
Matveep khái niệm rằng: Sức bền chuyên môn là khả năng đối kháng
lại sự mệt mỏi dƣới nhiều điều kiện của LVĐ với tốc độ cao và tối đa trong
điều kiện thiếu dƣỡng [1].

hợp với mục đích và nhiệm vụ của quá trình tập luyện, việc sử dụng hợp lý và
có hiệu quả của mỗi bài tập trong tập luyện có tác dụng nhằm phát triển thành
tích môn thể thao chuyên biệt [1].
Một số quan điểm khác cho rằng: Nhiều bài tập đƣợc sắp xếp tăng dần
về yêu cầu LVĐ nhằm thích ứng cao dần và độ khó cũng nhƣ có tính hệ thống
thì đều đƣợc coi đó là hệ thống bài tập. Hệ thống bài tập vận động vào tập
luyện thực tế tạo cơ sở nền tảng cho việc phát triển thành tích đến thành tích
đỉnh cao trong quá trình tập luyện cho VĐV là những bài tập thể lực chung và
thể lực chuyên môn. Trong đó những bài tập thể lực chung luôn có tác dụng
hỗ trợ cho việc phát triển thể lực chuyên môn và chỉ khi phát triển thể lực
chuyên môn tốt mới đủ điều kiện để phát triển thành tích đến đỉnh cao [1].
1.4. Cơ sở lý luận và thực tiễn tập luyện sức bền cho học sinh nữ chạy cự
ly 100m
1.4.1. Các yếu tố chi phối sức bền tốc độ
Sức bền tốc độ đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu nhƣng
nổi trội hơn cả là các nhà khoa học nhƣ: Hare (Đức), Ozolin (Nga), Phùng
Thiếu Phạm (Trung Quốc), các ông đều nhận định sức bền tốc độ bị chi phối
bởi bốn yếu tố sau:
- Trình độ phát triển chung của cơ thể VĐV, các hệ thống cơ quan của
cơ thể đặc biệt là hệ thống thần kinh, tim mạch, hô hấp có mối quan hệ chặt
chẽ với sức bền tốc độ.


11
- Phẩm chất, ý chí của VĐV.
- Năng lực hoạt động của nhóm cơ lớn và các nhóm cơ chủ yếu tham
gia vào các tác động hay còn gọi là mức độ hoàn thiện kĩ thuật.
- Sự hoàn thiện về năng lực sức bền tốc độ đƣợc hình thành và phát
triển về trình độ luyện tập.
Trình độ tập luyện của VĐV càng cao thì sức bền chuyên môn càng

chiếu khớp chậu đùi trên đƣờng khoảng 33 - 43cm. Tiếp đó chân đƣợc gập lại
ở khớp gối và cổ chân, góc gấp ở khớp gối lớn hơn khoảng 140 - 148o.
Khi chạy giữa quãng, các bƣớc chạy đƣợc thực hiện thông thƣờng
không bằng nhau, do bƣớc chân khoẻ thƣờng dài hơn. Để chạy có nhịp điệu
và tốc độ đều hơn nên tập để có độ dài bƣớc nhƣ nhau của mỗi chân bằng
cách lƣu ý phát triển sức mạnh cơ chân yếu.
Kỹ thuật chạy 100m sẽ bị ảnh hƣởng nếu nhƣ ngƣời chạy không biết
thả lỏng các nhóm cơ khi nó không cần tham gia tích cực vào hoạt động. Kết
quả phát triển tốc độ chạy ở mức độ đáng kể phụ thuộc vào việc biết chạy nhẹ
nhàng, thả lỏng và không có những căng thẳng thừa của ngƣời chạy.
* Về đích
Về đích là giai đoạn quyết định đến thành tích trong các môn chạy, đặc
biệt là chạy 100m. Bởi lẽ chỉ khi về đích ngƣời chạy mới đƣợc coi là kết thúc
cự ly chạy. Khi về đích trong chạy 100m hầu hết ở các ngƣời chạy đều giảm
tốc độ từ 10 - 20m trƣớc khi về đích. Ngƣời chạy thƣờng kết thúc bằng cách
đánh ngực, vai qua mặt phẳng thẳng đứng đi qua đƣờng đích để nhanh chóng
chạm vào dây đích, ngƣời chạy thực hiện động tác gập thân trên đột ngột về
phía trƣớc trong một số trƣờng hợp thì chạy băng qua đích với toàn bộ tốc độ
mà không cần nghĩ đến việc thực hiện động tác đánh đích.
Muốn đạt đƣợc thành tích tốt trong toàn cự ly, cần sử dụng và lựa chọn
những bài tập nhằm phát triển sức bền tốc độ, đặc biệt là trong giai đoạn chạy
về đích.


13
1.5. Cơ sở sinh lý của tố chất sức bền tốc độ
Sức bền tốc độ là hoạt động sức bền trong một thời gian ngắn đặc trƣng
cho các hoạt động kéo dài liên tục từ 10 giây đến 2 phút với sự tham gia của
một khối lƣợng cơ bắp lớn, năng lƣợng cung cấp chủ yếu cho hoạt động này
phụ thuộc vào nguồn năng lƣợng yếm khí. Các hoạt động này đòi hỏi sự nỗ

sở sinh lý học của sức bền và tốc độ.
1.5.1. Cơ sở sinh lý của sức bền yếm khí
Sức bền yếm khí là chỉ khả năng duy trì hoạt động với cƣờng độ cao
trong điều kiện trao đổi chất không có oxy. Năng lƣợng cung cấp chủ yếu là
các chất giàu năng lƣợng dự trữ trong cơ nhƣ ATP - CP hoạt động yếm khí
thông thƣờng diễn ra khoảng 20” - 30” với cƣờng độ hoạt động cực đại.
Hệ cung cấp năng lƣợng ở vùng cƣờng độ cực đại chủ yếu là hệ
photphogen tức là phân giải ATP - CP. Hoạt động của hệ cung cấp năng
lƣợng không phụ thuộc vào trình tự phức tạp của các phản ứng hóa học và
việc cung cấp oxy cho cơ thể. Vì vậy, hệ photphogen là nguồn cung cấp năng
lƣợng nhanh nhất mà trung bình sử dụng đầu tiên.
Theo Giáo sƣ T.G Mkok (Liên Xô cũ) thì công suất của hệ photphogen
gấp 9 lần so với oxy hoá mỡ [276] (sinh lý vận động). Song trên thực tế lƣợng
của photphogen không lớn do lƣợng dự trữ của CP và ATP trong cơ không
lớn. Vì vậy, nó chỉ duy trì đƣợc khoảng 20”, nếu tiếp tục hoạt động thì cần
thêm cả hệ năng lƣợng lactic hay gluco phân tham gia.
Hoạt đông của hệ gluco phân đảm bảo tái tổng hợp ATP và CP kết quả
các phản ứng này là giải phóng năng lƣợng để tái tổng hợp ATP.
Sự phân giải gluco yếm khí trong tế bào cơ tạo ra năng lƣợng nhiều hơn
so với năng lƣợng từ glucoza. Mỗi phân tử glucozen trong cơ phân giải cung
cấp năng lƣợng để tái tổng hợp đƣợc phân tử ATP, còn glucogen đƣợc 2 phân
tử ATP.
Trên thực tế, sự phân giải glucoza xảy ra ngay khi bắt đầu hoạt động.
Vì vậy, hàm lƣợng axit lactic lớn nhất trong cơ chỉ có thể gặp trong hoạt động


15
20 - 30s, còn các hoạt động ngắn hơn vai trò của hệ lactic không lớn. Theo
“Sinh lý hoạt động cơ” của I.M. Mkok thì hệ cung cấp năng lƣợng lactic có
công suất gấp 1,5 lần hệ oxy hoá song lại nhỏ hơn 3 lần so với hệ photphogen

bày rõ hơn cơ chế sinh lý của sức mạnh.
Tố chất sức mạnh đƣợc biểu hiện ra thông qua hoạt động cơ bắp, tố
chất này chịu ảnh hƣởng của các yếu tố sau:
Cƣờng độ và tần số xung động của hệ thần kinh trung ƣơng, hệ thần
kinh trung ƣơng có ảnh hƣởng trực tiếp đến sức mạnh của cơ bắp, một mặt hệ
thần kinh có thể điều động số lƣợng sợi cơ tham gia vào hoạt động, mặt khác
thần kinh vận động góc dƣới của cột sống phát ra xung động cƣờng độ lớn
hơn, tần số cao thì cơ đó sản sinh ra sức mạnh sẽ lớn hơn tần số xung động,
khi dùng lực lớn có thể đạt tới 45 - 50 lần/phút.
Cấu trúc hình thái tổ chức cơ bắp bao gồm loại hình cơ, tỷ lệ % loại hình
sợi cơ nhanh (màu sáng) và sợi cơ chậm (màu tối), số lƣợng trong cơ bắp, mật
độ phụ thuộc của sợi cơ, tổ chức gân và dây chằng, độ dài của sợi cơ.
Sự chuyển đổi nhịp nhàng bên trong của cơ bắp hay đặc tính phản ứng
của cơ bắp. Quá trình cung cấp năng lƣợng khi hoạt động cơ ảnh hƣởng của cơ
quan cảm thụ bên trong cơ bắp đối với hệ thần kinh trung ƣơng của gân và cơ.
Tóm lại, để phát triển đƣợc sức bền tốc độ ta cần nắm chắc, hiểu rõ cơ
chế sinh lý của sức mạnh để lựa chọn đƣợc các bài tập phù hợp với sự phát
triển cơ thể để phát triển sức bền một cách có hiệu quả.


17
Chƣơng 2
NHIỆM VỤ, PHƢƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để giải quyết đƣợc mục đích nghiên cứu, đề tài giải quyết 2 nhiệm vụ:
Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng sử dụng các bài tập tập luyện sức bền
tốc độ trong chạy 100m của học sinh nữ khối 10 Trƣờng THPT Nguyễn Văn
Cừ - Hà Nội.
Nhiệm vụ 2: Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập phát triển sức

Dùng phiếu hỏi để phỏng vấn các đối tƣợng có liên quan đến đề tài
nghiên cứu đó là giáo viên TDTT trong và ngoài trƣờng; học sinh khối lớp 10
của trƣờng.
Nội dung phỏng vấn các vấn đề có liên quan đến công tác dạy học môn
Điền kinh tại trƣờng.
2.2.4. Phƣơng pháp kiểm tra các test thể lực
Thông qua việc xây dựng nội dung, phƣơng pháp, hình thức tổ chức và
tiêu chuẩn đánh giá.
Mục đích của phƣơng pháp này nhằm đánh giá sức bền tốc độ trong
chạy 100m cho học sinh nữ khối 10 Trƣờng THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội
một cách khách quan chính xác thông qua một số test đã chọn. Trên cơ sở đó
có những nhận xét về việc phân nhóm trong quá trình thực nghiệm, cũng nhƣ
nhận xét hiệu quả các bài tập đã lựa chọn trong việc phát triển sức bền tốc độ
cho đối tƣợng nghiên cứu.
Thông qua phỏng vấn đã chọn đƣợc các test sau vào quá trình kiểm tra
sƣ phạm:


19
+ Chạy 100m XPT
+ Thời gian chạy 20m cuối
+ Chạy 150m XPC
2.2.5. Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm
Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm là phƣơng pháp chủ yếu để thực
hiện đề tài nghiên cứu.
Sau khi đã lựa chọn đƣợc các bài tập, tiến hành phân nhóm thực
nghiệm, trên hai nhóm học sinh nữ khối 10 Trƣờng THPT Nguyễn Văn Cừ Hà Nội bằng phƣơng pháp thực nghiệm song song và tự đối chiếu.
Nhóm A: nhóm thực nghiệm gồm 40 học sinh tập luyện theo bài tập đã
đƣợc lựa chọn để đƣa vào thực nghiệm.
Nhóm B: nhóm đối chiếu gồm 40 học sinh tập luyện theo giáo án của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status