Nghiên cứu ứng dụng bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho đội tuyển nữ bóng chuyền bãi biển thành phố hải phòng - Pdf 30

MỞ ĐẦU
Thể thao là một bộ văn hóa-xã hội là một mặt quan trọng không thể thiếu
được trong hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN). Nó được coi là phương tiện hữu
hiệu giáo dục con người triển toàn diện về thể chất và tinh thần. Sự phát triển toàn
diện chế độ XHCN phát triển. Do đó có sự thống nhất giữa mục tiêu và hiệm vụ xã
hội cùng những khả năng kinh tế thực tại, Thể dục thể thao (TDTT) trong chủ
nghĩa xã hội mở rộng thêm những tiền đề và điều kiện cho sự phát triển nhân cách
hài hòa và toàn diện. Kết hợp với các mặt giáo dục khác TDTT góp phần xây dựng
con người mới XHCN, đáp ứng được yêu cầu xã hội hiện đại.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của TDTT trong cuộc sống đổi mới và xây
dựng đất nước, sự nghiệp TDTT được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Bên
cạnh những môn thể thao mũi nhọn phát triển và đạt thành tích cao trong các cuộc
thi ở khu vực và thế giới là việc khôi phục và phát triển rộng rãi các môn thể thao
khác, trong đó có Bóng chuyền nói chung và Bóng chuyền bãi biển(BCBB) nói
riêng, nhằm hướng tới một nền TDTT đại chúng toàn diện.
Bóng chuyền bãi biển từ tên gọi chính thức là Beach Volleyball xuất hiện lần
đầu tiên tại các bãi biển ở Stanta Monica thuộc bang California (Mỹ). Năm 1987,
giải Vô địch thế giới BCBB lần thứ nhất tổ chức tại Rio de Janneriro (Braxin) với 7
nước tham gia. Năm 1989 FIVB chính thức than lập Ủy ban chuyên môn về BCBB
để chăm lo, mở rộng môn thể thao này trên toàn thế giới. Năm 1996 BCBB đã
được đưa vào chương trình thi đấu Olympic ở Atlanta (Mỹ).
Ở Việt Nam, môn BCBB cũng đã phát triển khá nhanh trong vài năm trở lại
đây. Trong thi đấu,BCBB có tính đối kháng cao thể hiện rõ và mãnh liệt ở khâu tấn
công và phòng thủ. Tuy nhiên, trận đấu càng kéo dài thể lực của VĐV ngày càng
giảm sút, do đặc điểm của môn BCBB là hoạt động thi đấu đòi hỏi ở các VĐV phải
chịu sức cản lớn (là cát) trong di chuyển và thực hiện các kỹ thuật trong thời gian
1
dài. Chính vì vậy, vai trò của sức bền đặc biệt quan trọng, nó liên quan trực tiếp
đến thành tích của VĐV cũng như của đội bóng.
Những năm gần đây, phong trào BCBB thành phố Hải Phòng được phát triển
mạnh mẽ. Là một thành phố của Việt Nam, Hải Phòng có nhiều bãi biển đẹp như:

nữ VĐV BCBB
- Cơ sở thực tiễn sử dụng test trong kiểm tra và đánh giá sức bền chuyên
môn nữ VĐV BCBB
- Tiến hành phỏng vấn để lựa chọn test.
Mục tiêu 2: Lựa chọn và ứng dụng các bài tập phát triển sức bền chuyên
môn cho nữ VĐV BCBB.
Để giải quyết mục tiêu trên đề tài triển khai nghiên cứu các vấn đề sau:
- Lựa chọn các bài tập để phát triển sức bền chuyên môn cho nữ VĐV BCBB
- Sắp xếp các bài tập trong kế hoạch huấn luyện.
- Đánh giá hiệu quả bài tập đã lựa chọn để phát triển sức bền chuyên môn
cho nữ VĐV BCBB
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Đặc điểm hoạt động tập luyện và thi đấu Bóng chuyền bãi biển
1.1.1. Đăc điểm về kỹ thuật
Trong những năm gần đây phong trào tập luyện môn bóng chuyền nói chung
và bóng chuyền bãi biển nói riêng đã không ngừng phát triển nhanh chóng cả về số
lượng và chất lượng ở mọi đối tương trong cả nước và thế giới. Những trận thi đấu
bóng chuyền bãi biển ở trình độ cao đã thực sự hấp dẫn và lôi cuốn đông đảo khán
giả, chính vì vậy bóng chuyền bãi biển đã góp phần không nhỏ trong các hoạt động
văn hóa thể thao lành mạnh của quần chúng nhân dân
Bóng chuyền bãi biển là môn thi đấu tập thể, vì vậy để có thể tạo lên chiến
thắng chung của đội mỗi thành viên trong đội phải có đầy đủ phẩm chất và kỹ
thuật cơ bản tốt nhất.
Các chuyên gia đã khẳng định : Kỹ thuật của bài tập là cách thức sắp xếp tổ
chức và thực hiện hệ thống các động tác để giải quyết nhiệm vụ vận động.
Kỹ thuật thể thao chính là cách thức giải quyết nhiệm vụ vận động hợp lý,
hiệu quả nhất bằng chuỗi hành động, động tác của thân thể người
Nằm trong dòng chảy của môn bóng chuyền nói chung, bóng chuyền bãi
biển cũng mang sắc thái của bóng chuyền trong nhà về kỹ thuật, chiến thuật, đólà

bóng chuyền trong nhà, trong thi đấu BCBB các VĐV thi đấu trên sân cát ở ngoài
5
trời vì thế đồi hỏi VĐV có thể lực tốt, kỹ thuật cơ bản điêu luyện. Về kỹ thuật khi
chuyền bóng, VĐV phải có tư thế đúng (chân trước chân sau, hoặc hai chân rộng
bằng vai), hình tay chuẩn (các ngón trỏ và ngón cái tạo thành hình tam giác).
1.1.2. Đặc điểm về chiến thuật
1.1.2.1. Khái niệm
Chiến thuật là việc tổ chức phối hợp của đối tượng trong thi đấu với sự giúp
đỡ của các hoạt mang tính chất cá nhân và toàn đội.
Nhiệm vụ hàng đầu của chiến thuật là xác định các phương pháp, phương
tiện phối hợp và hình thức tiến hành thi đấu trong các tình huống cụ thể để chống
lại một đối thủ nào đó.Chiến thuật thi đấu dựa trên trình độ điêu luyện kỹ-chiến
thuật động tác của VĐV. Động lực chính của phát triển chiến thuật lạ việc đua
tranh giữa tấn công và phòng thủ. Sự xuất hiện những phương tiện và phương pháp
tấn công mới có hiệu quả thì buộc phải tìm kiếm những phương pháp và phương
tiện phòng thủ mới tương ứng.
Phương pháp tiến hành thi đấu là tất cả các động tác kỹ thuật và các phương
thức thực hiện chúng.
Biện pháp tiến hành thi đấu là tất cả những hoạt động chiến thuật của cá
nhân, của toàn đội được áp dụng tranh tài với đối phương.
Những hành động cá nhân là những hành động của mỗi VĐV nhằm giải
quyết nhiệm vụ chiến thuật nhất định trong một tình huống của trận đấu.
Những hành động của toàn đội là sự phối hợp hoạt động của tất cả các VĐV
trong đội nhằm thực hiện các nhiệm vụ nhất định trong tấn công và phòng thủ.
Hệ thống thi đấu là việc tổ chức cụ thể các hoạt động của toàn đội, trên cơ sở
chức năng của VĐV và sự sắp xếp đội hình trên sân.
6
Phối hợp hành động là sự phối hợp của các VĐV trong đội nhằm tạo ra một
trong các điều kiện để hoàn thành nhiệm vụ tấn công hoặc phản công.
Các hình thức thi đấu là đặc tính thể hiện các hoạt động của toàn đội trong

được vị trí phòng thủ của mình sau khi đối phương nêu bóng lên, tất nhiên là phải
quan sát tổng hợp cả vị trí người chắn, kiểu đánh đối thủ. Trong đỡ phát bóng và đỡ
đập phòng thủ, việc đỡ bóng lên vùng đã dự định phối hợp là then chốt cho tổ chức
chiến thuật. Rõ ràng là không có chuyên môn hóa phòng thủ đỡ phát bóng và tấn
công được. Cả hai đấu thủ phải nắm được toàn diện mọi kỹ thuật để thực hiện chiến
thuât.
1.1.3. Đặc điểm về tâm lý
Trong thi đấu BCBB có tính đối kháng cao thể hiện rõ và mãnh liệt ở khâu
tấn công và phòng thủ. Tuy nhiên trận đấu càng kéo dài thể lực của VĐV ngày
càng giảm sút do đặc điểm thi đấu cuả môn BCBB là hoạt động thi đấu đòi hỏi ở
các VĐV phải chịu sức cản lớn (là cát) trong di chuyển và thực hiện các kĩ thuật
trong thời gian dài do đó đòi hỏi các VĐV phải chịu đựng nặng nề về mặt tâm lý,
bởi lòng khát khao chiến thắng, trách nhiệm đối với đồng đội, đôi khi thắng thua
còn gắn liền với sự nghiệp. Tâm lý tốt hay xấu chi phối hiệu quả thi đấu. Để có tâm
lý tốt liên quan tới trình độ chuẩn bị của VĐV BCBB cần phát triển cao các trạng
thái chức năng cơ thể, các chức năng điều hoà hệ thần kinh và tâm lý, các yếu tố
vận động và thể lực đảm bảo cho hoạt động chuyên môn.
8
Chuẩn bị sẵn sàng thi đấu là trạng thái của VĐV trong một thời điểm nhất
định tạo điều kiện thúc đẩy hay gây cản trở biểu hiện tối đa trình độ chuẩn bị. Trình
độ chuẩn bị sẵn sàng thi đấu cao của VĐV phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có
yếu tố thể lực, sức bền tốt thì tâm lý sẽ vững và ổn định hơn từ đó VĐV phát huy
hết khả năng kỹ chiến thuật của bản thân để giành thành tích cao nhất.
Sự đối kháng gián tiếp tâm lý hai chiều được thể hiện rõ nét trong môn
BCBB tiêu biểu hoạt tính tâm lý này là phải chống lại những hành động đa dạng và
luôn biến hoá về lực cũng như biến hoá về hình thức của đối phương, do đó VĐV
phải tính toán rất cẩn thận về kỹ thuật, chiến thuật của từng hành động để thích ứng
với hoạt động thi đấu. VĐV không chỉ nâng cao hiệu quả thi đấu của mình, đồng
thời luôn coi trọng năng lực khống chế và điều khiển bản thân ứng biến trước tình
huống biến đổi khác nhau, chống đỡ làm giảm khả năng ghi điểm của đối phương.

tố chất này đảm bảo cho VĐV BCBB duy trì cường độ thi đấu tốt nhất trong thời
gian thi đấu kéo dài, đồng thời đảm bảo chất lượng động tác cao và giải quyết hoàn
hảo các hoạt động kỹ chiến thuật tới cuối trận đấu.
1.1.4. Đặc diểm của sức bền chuyên môn trong tập luyện và thi đấu BCBB
1.1.4.1 Các quan điểm về sức bền
Trong công tác huấn luyện thể lực ở các môn thể thao nói chung cũng như ở
bóng chuyền nói riêng người ta đều trú trọng đến huấn luyện 5 nhóm tố chất thể lực
cơ bản: Sưc nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo và khéo léo, trong đó sức bền mà
đăc biệt là sức bền chuyên môn là một trong những tố chất thể lực quan trọng nhất
cần thiết để đảm bảo cho hoạt động thi đấu. Có rất nhiều quan điểm khác nhau
10
trong việc đánh giá sức bền. Tuy nhiên, sức bền được hiểu theo những quan điểm
cơ bản như sau:
* Theo quan điểm lý luận và phương pháp thể dục thể thao:
Sức bền là khả năng cơ thể chống lại sự mệt mỏi hay khả năng vận động
trong thời gian dài mà không làm giảm hiệu quả hoạt động. Sức bền có 2 loại: Sức
bền chung và sức bền chuyên môn.
Sức bền chyên môn: Là năng lực của cơ thể duy trì khả năng vận động cac
trong những loại hình tập luyện nhất định.
* Theo quan điểm sinh lý học.
Trong sinh lý học thể dục thể thao, sứ bền thường đặc trưng cho khả năng
thực hiện các hoạt động thể lực kaos dài liên tục từ 2-3 phút trở lên với sự tham gia
của số lượng lớn các nhóm cơ( từ 2/3 số lượng nhóm cơ trở lên) nhờ hấp thụ Oxi để
cung cấp năng lượng cho cơ thể chủ yếu hoặc hoàn toàn bằng con đường ưa khí.
Sức bền phụ thuộc vào:
- Khả năng hấp thụ Oxi tối đa của cơ thể.
- Khả năng duy trì lâu dài mức độ hấp thụ Oxi cao.
Nhờ có trình độ tập luyện sức bền chuyên môn tốt mà chức năng của các hệ
thống tuần hoàn, hô hấp, điều hòa thân nhiệt và hệ thống thần kinh tốt hơn, tạo điều
kiện cho phát triển các tố chất khác. Do vậy, việc huấn luyện sức bền chuyên môn

Sức bền chung là sức bền trong các hoạt động kéo dài với cường độ thấp có
sự tham gia của 2/3 nhóm cơ trở lên.
Dưới góc độ tâm lý, Phạm Ngọc Viễn cho rằng tri giác chuyên môn của tố
chất sức bền thể hiện dưới cảm giác sức bền tốc độ, sức bền - mạnh, sức bền -
mạnh tốc độ. Vì cấu trúc tâm lý của tố chất sức bền không biểu hiện rõ nét, vì thế
phân chia sức bền chỉ mang tính chất tương đối. Tuy nhiên trong mỗi môn thể thao
tri giác chuyên môn tố chất sức bền có cấu trúc tâm lý riêng và khác nhau. Tổng
hợp các quan điểm về phân loại sức bền trên cho thấy: Dưới góc độ khác nhau có
cách phân loại khác nhau. Tuy nhiên, dù ở góc độ nào thì sức bền đều liên quan tới
lượng vận động và cơ chế mệt mỏi. Vì thế phân chia sức bền chỉ mang tính chất
tương đối.
Trong BCBB, do đặc điểm nổi bật các hoạt động bật nhảy và di chuyển liên
tục để thực hiện các miếng phối hợp trong tổ chức tấn công và phòng thủ nên yêu
cầu VĐV phải có sức bền bật nhảy và sức bền tốc độ ở mức độ cao. Như vây trong
SBCM trong BCBB có thể chia làm 2 loại sức bền bật nhảy và sức bền tốc độ.
- Sức bền bật nhảy: Là khả năng thực hiện động tác bật nhảy nhiều lần trong
tập luyện và thi đấu với sự nỗ lực co cơ tốt nhất.
- Sức bền tốc độ: Là khả năng VĐV thực hiện các động tác kỹ thuật và di
động với tốc độ cao trong suốt thời gian thi đấu.
1.2. Phương tiện và phương pháp phát triển sức bền chuyên môn cho
VĐV BCBB
1.2.1. Phương tiện phát triển sức bền chuyên môn
13
Để phát triển năng lực thể thao người ta sử dụng nhiều phương tiện khác
nhau. Những phương tiện cơ bản là:
- Các bài tập thể chất.
- Các phương tiện tâm lý
- Các biện pháp vệ sinh
- Các yếu tố lành mạnh của thiên nhiên
Trong các phương tiện kể trên các bài tập thể chất là phương tiện chuyên

thiếu một khâu nào đó thì nhiệm vụ vận động không được giải quyết.
+ Khâu chính của kỹ thuật( khâu cơ bản) là phần quan trọng nhất, nó quyết
định cách thức thực hiện nhiệm vụ vận động là khâu bắt buộc. Nếu thiếu hoặc làm
sai một khâu nào đó hoặc mối liên hệ nào đó thì sẽ không hoàn thành được nhiệm
vụ vận động.
Khâu chi tiêt của kỹ thuật là khâu thứ yếu của động tác, không gây phá vỡ
cơ chế cơ bản của động tác.
* Các giai đoạn của động tác.
Là các phần của động tác được chia ra theo những dấu hiệu nào đó, phần
này nối tiếp phần kia theo thời gian.
- Giai đoạn chuẩn bị: Có tác dụng tạo thuận lợi để thực hiện động tác ở giai
đoạn chủ yếu.
15
- Giai đoạn chủ yếu bao gồm: Các động tác nhằm trực tiếp giải quyết nhiệm
vụ vận động chúng có vị trí quan trọng nhất của bài tập.
- Giai đoạn kết thúc: Các động tác được buông thả một cách thụ động hoặc
chủ động hãm người để giữ thăng bằng.
1.2.1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của bài tập phát triển thể
chất
Hiệu quả tác động của bài tập thể chất không chỉ phụ thuộc vào nội dung và
hình thức của nó mà còn phụ thuộc vào hàng loạt các điều kiện khác như:
- Bản thân bài tập: Các bài tập khác về cấu trúc,LVĐ, độ phức tạp và tính
mới lạ sẽ gây ra phản ứng khác nhau cho cơ thể người tập.
- Bản thân người tập: Cùng một bài tập ( chạy 1500m) nhưng những người
có lứa tuổi, giới tính, trạng thái sức khỏe khác nhau sẽ chịu tác động khác nhau.
- Đặc điểm điều kiện bên ngoài để thực hiện bài tập: Thời tiết, địa hình, dụng
cụ tập luyện sẽ làm thay đổi hiệu quả tác dụng của bài tập.
- Phương pháp tập: Phương pháp tập quyết định chủ yếu đến tác động của
bài tập.
1.2.2. Phương pháp huấn luyện sức bền chuyên môn

Trong giáo dục sức bền tốc độ, sự phân định của LVĐ như sau:
17
Thời gian thực hiện 1 lần lặp lại từ 20-30 giây, cường độ vận động tối đa,
nghỉ giưa quãng 1-3 phút, số lần lặp lại 4-10 lần.
- Sức bền bật nhẩy: Các bài tập bật nhảy có mang trọng lượng ( nhỏ) và
không mang trọng lượng, các bài tập mô phỏng bật nhảy, các bài tập kỹ thuật cơ
bản là biện pháp chính để rèn luyện sức bền bật.
Thời gian thực hiện một lần lặp lại từ 1-3 phút, cường độ thực hiện liên tục
không nghỉ giữa các lần lặp lại từ 1-4 phút.
1.3. Các công trình nghiên cứu có liên quan
Hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề sức bền cho một số
môn thể thao ở các đối tượng khác nhau như: Nguyễn Hữu Thắng (1998): “
Nghiên cứu ứng dụng phương pháp rèn luyện sức bền cho đơn vị bộ binh sau giai
đoạn huấn luyện tân binh”. Kết quả đề tài đã cung cấp cho các nhà chuyên môn
phương pháp huấn luyện vòng tròn ứng dụng huấn luyện nâng cao sức bền cho
chiến sỹ. Nguyễn Danh Hoàng Việt (2004): “Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng hệ
thống bài tập nhằm phát triển sức bền chuyên môn cho Nam vận động viên Bóng
bàn lứa tuổi 12-14”. Cùng một số luận văn thạc sỹ nghiên cứu về vấn đề sưc bền ở
một số môn thể thao khác như: Phạm Đông Đức(1998): “Nghiên cứu lựa chọn một
số bài tập sức bền cho vân động viên vật tự do Việt Nam”.
Tóm lại, những công trình nghiên cứu trước đây về tố chất thể lực nói chung
và sức bền nói riêng đã có những đóng góp quý báu trong công tác huấn luyện.
18
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiêm vụ của đề tài chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau:
2.1.1. Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu.
Dựa vào những tài liệu lý luận và phương pháp giáo dục thể thao,
những tài liệu chuyên môn như: Sách Bóng chuyền bãi biển, giáo trình gảng

Dựa trên cơ sở chọn lọc các phương pháp, bài tập huấn luyện áp dụng chúng
tôi tiến hành thực nghiệm cho đối tượng nghiên cứu.
2.1.6. Phương pháp toán thống kê
Áp dụng phương pháp này để tổng hợp các số liệu trước và sau thực nghiệm.
Chúng tôi đã sử dụng công thức:
Tính trị số trung bình:
n
x
x
n
i
i

=
=
1
Tính phương sai trung:
20
( ) ( )
2
22
2
−+
−+−
=
∑ ∑
BA
BBAA
nn
xxxx

- Trường Đại học TDTT Bắc Ninh
- Sở TDTT Thành phố Hải Phòng.
21
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1. Nghiên cứu các chỉ tiêu, test để đánh giá sức bền chuyên môn cho nữ
VĐV bóng chuyền bãi biển.
3.1.1. Cơ sở lý luận để lựa chọn test
Đối với các môn thể thao mang tính đối kháng cao và các môn bóng, đặc biệt
là môn Bóng chuyền, việc xác định các tố chất trội là rất phức tạp vì nó phụ thuộc
vào các vấn đề sau:
- Động tác kỹ thuật phức tạp
- Chiến thuật biến hóa
- Tính đối kháng
BCBB là môn thể thao đối kháng gián tiếp được ngăn cách bởi lưới, thời
gian chạm bóng ngắn, đòi hỏi VĐV phải linh hoạt, nhanh nhẹn dựa trên cơ sở kỹ
thuật điêu luyện, vận dụng chiến thuật nhiều loại xử lý tình huống với trạng thái
tâm lý, ý thức chiến thuật cá nhân và đồng đội ăn ý… nên phải có trình độ thể lưc
tốt vè sức nhanh, sức mạnh, sức bền, di chuyển, khả năng điều khiển, khống chế,
xử lý thông tin hiệu quả đối với bóng chuyền, quá trình giảng dạy, huấn luyện là
giai đoạn phát triển toàn diện các tố chất thể lực đặc thù chuyên môn, các tri thức,
kiến thức chuyên môn, các phương pháp giảng dạy huấn luyện…và tập các kỹ thuật
là chính, do đó xác định các tố chất thể lực đặc trưng và các bài tâp chuyên môn,
giảng dạy kỹ thuật căn cứ vào:
- Mối quan hệ giữa các yếu tố thể lực và kỹ thuật.
- Mức độ phát triển của từng tố chất thể lực.
- Mối tương quan giữa các tố chất thể lực.
22
- Mối tương quan giữa các thể lực và chuyên môn.
Phát triển thể lực nhằm giúp VĐV nắm vững kỹ thuật nhanh hơn. Ngược lại
kỹ thuật cũng có tác dụng tích cực đến nhóm có nhất định, giúp VĐV phát triển thể

Đồng thời qua tìm hiểu thực trạng công tác tuyển chọn và huấn luyện VĐV
BCBB tại một số trung tâm trên toàn quốc: Vũng Tàu, Tân Bình_ TPHCM, Hải
Dương.
* Đội Vũng Tàu: Đánh giá SBCM cho nữ VĐV BCBB thường sử dụng
các test sau:
1. Nhóm test đánh giá sức bền bật nhảy.
- Bật nhảy lên bục cao
- Mô phỏng kỹ thuật chắn bóng trong 1 phút
- Bật nhảy với bóng treo
2. Nhóm test đánh giá sức bền tốc độ.
- Chạy 200m
- Phòng thủ lăn ngã cứu bóng trong phạm vi cả sân
24
* Đội Tân Bình-TPHCM: Đánh giá SBCM cho nữ VĐV BCBB thường sử
dụng các test sau:
1.Nhóm test đánh giá sức bền bật nhảy
- Bật với bằng 2 chân tại chỗ.
- Đập bóng theo phương lấy đà vị trí số (4;2).
2. Nhóm test đánh giá sức bền tốc độ.
- Chạy 9 điểm
- Chạy 400m
Đội Hải Phòng: Đánh giá SBCM cho nữ VĐV BCBB thường sử dụng các
test sau:
1. Nhóm test đánh giá sức bền bật nhảy.
-Di chuyển bật nhảy với bóng treo
-Đập bóng theo phương lấy đà ở vị trí số 4 và 2
2. Nhóm test đánh giá sức bền tốc độ
- Chạy 9 điểm
- Phòng thủ lăn ngã cứu bóng trong phạm vi nửa sân.
Qua tham khảo và tìm hiểu thực trạng ở một số CLB chúng tôi đã thống kê


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status