Nghiên cứu ứng dụng một số dạng thức khai cuộc cơ bản cho đội tuyển cờ vua nữ trường THPT Yên Dũng 2 - Bắc Giang - Pdf 29


1

T VN

S nghip xõy dng Ch ngha xó hi (CNXH) nc ta phỏt trin vi
tc ngy cng cao vi quy mụ ngy cng ln. Nú thỳc y mt cỏch sõu
sc ton din cỏc hot ng trong mi lnh vc nh: Kinh t, chớnh tr, vn
húa, xó hi, th dc th thao (TDTT) Trong ú phỏt trin TDTT chim mt
v trớ vụ cựng quan trng.
ng v nh nc ta luụn quan tõm n mc tiờu giỏo dc ton din
cho th h tr, trong ú giỏo dc v c, trớ, th, m c coi l vn h
trng nhm giỏo dc hỡnh thnh nhõn cỏch cho hc sinh, sinh viờn. Theo tinh
thn Ngh quyt i hi ng IX v Ch th 17/CT-TW ra ngy 23/10/2002
ca Ban Bớ th Trung ng ng v: Chin lc phỏt trin ngnh TDTT n
nm 2010[2] và đã khẳng định rõ GDTC trong trờng học là cực kỳ quan
trọng, vn giỏo dc th cht cho th h tr cn giỏo dc ton din: c,
trớ, thể, m, và lao động cho thế hệ trẻ, thế hệ tơng lai của đất nớc. Tại
Hội Nghị TW 4 khóa VIII về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo trong Nghị
quyết có ghi: "Con ngời Phát triển cao về trí tuệ, cờng tráng về thể chất,
phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức [1]. Điều đó khẳng định mục
tiêu GDTC là hình thành nhân cách, tăng cờng thể lực chung cho học sinh,
sinh viên, rèn luyện ý chí, tinh thần dũng cảm, ý thức tổ chức kỉ luật.
C vua l mt mụn th thao cú ngun gc t n , nú ó to c
hng thỳ, thớch hp vi mi la tui, c bit l thanh niờn, thiu nhi, hc
sinh, cỏc em u yờu thớch v say mờ. C vua c s dng rng rói trong cỏc
cuc vui chi, gii trớ, trong cỏc cuc thi u th thao.
L mt mụn th thao trí tuệ, lng vn ng trong c vua ch yu l
lng vn ng tõm lớ, tỏc ng trc tip vo quỏ trỡnh t duy ca ngi chi.
Chi c giỳp cho vic phỏt trin hi hũa cỏc phm cht o c ca mi cỏ
nhõn. Trong quỏ trỡnh tp luyn v thi u c vua thỡ kh nng t duy logic,

đoạn tiếp theo của ván đấu.

3

Xuất phát từ lí do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu
ứng dụng một số dạng thức khai cuộc cơ bản cho đội tuyển cờ vua nữ
trường THPT Yên Dũng 2- Bắc Giang”.
Mục đích nghiên cứu:
Nhằm đưa ra một số dạng thức khai cuộc cơ bản ứng dụng có hiệu quả
vào quá trình giảng dạy, huấn luyện cho ®éi tuyÓn cờ vua n÷. Đồng thời để
tiến hành kiểm nghiệm tính hiệu quả của các dạng khai cuộc cơ bản này trong
thực tiễn huấn luyện, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình
đào tạo cho ®éi tuyÓn cờ vua nước ta hiện nay.
nhau nh: Gambit vua, khai cuộc tợng, phòng thủ Pháp, [8]. Mỗi ván
dùng một loại khai cuộc khác nhau, trong mỗi khai cuộc có những nớc đi

5

thay đổi giăng bẫy cho đối phơng mắc lừa đi những nớc đi bất thờng, gây
hậu quả tâm lý khiến đối phơng nhất là đối phơng chỉ quen sách vở, bài tập
phi ngạc nhiên khó chịu hoang mang, dẫn tới xử lý không tốt sẽ mất u thế.
1.1.2. Các nguyên tắc khai cuộc
Các nguyên tắc này là những lý luận đã đợc rút ra từ thực tiễn thi đấu.
Nếu không tuân thủ chúng thì sẽ dễ dàng bị thất bại. Dù ý đồ chiến lợc có
khác nhau nh thế nào trong mỗi dạng thức, nhng trong giai đoạn khai cuộc
những ngời chơi cờ đều phải tuân thủ các nguyên tắc sau [8]:
- Nhanh chóng khống chế khu trung tâm.
- Phát triển quân nhanh và đầy đủ.
- Đa vua vào vị trí an toàn.
- Xây dựng phòng tuyến tốt an toàn.
1.1.3. Phân loại khai cuộc trong cờ vua
Thuật ngữ khai cuộc dùng để chỉ giai đoạn ra quân, có hàng loạt các
kiểu ra quân với tên gọi khác nhau nh: Khai cuộc tợng, khai cuộc bốn mã,
khai cuộc Anh và mỗi loại khai cuộc trên đều có nguồn gốc xuất xứ tên gọi
của nó.
Ngời ta chia khai cuộc ra thành 3 hệ thống: Hệ thống khai cuộc
thoáng, hệ thống khai cuộc nửa thoáng, hệ thống khai cuộc kín [8].
1.1.3.1. Những khai cuộc thoáng
Đó là quy ớc gọi tên chung của các khai cuộc mà với nớc đi ban đầu
của trắng là e4 thì bên đen đáp lại bằng nớc đi e5. Đối với khai cuộc này, nét
đặc trng chủ yếu là khuynh hớng chủ đạo của chiến lợc: Đó là nhanh
chóng giành khu trung tâm, đe dọa các vị trí hiểm yếu nhất trong thế trận đối
phơng, các ván cờ luôn sôi động với những đòn chiến thuật hay những thế

những thế biến khi ra quân có phải là những thế biến bắt buộc và duy nhất
không.
Một ván cờ chứa đựng muôn vàn khả năng khác nhau. Những trận biến
đó chỉ là những nớc đi tiếp tục đã đợc kiểm nghiệm trong thi đấu, trong

7

từng thế trận ra quân đều có thể tìm kiếm thêm những nớc đi hoàn toàn áp
dụng đợc. Do đó, việc học vẹt các tứ biến khai cuộc là điều không cần
thiết, thậm chí còn có hại vì nó hạn chế tính sáng tạo của vận động viên,
Laxke đã từng nói: Biết cách chơi cờ không chỉ là công việc của trí nhớ đơn
giản, vì việc ghi nhớ các thế biến không phải là điều thiết yếu. Trí nhớ là vũ
khí quý báu, không thể để phung phí cho những vụn vặt. Cần ghi nhớ không
phải những kết luận và các phơng pháp chơi, phơng pháp rất linh hoạt nó
có thể giúp ích trong mọi trờng hợp [3].
Trigorin đã từng phát biểu rất đúng đắn rằng: Trong mỗi trận khai
cuộc ta đều có thể áp dụng các phơng án bắt trớc sách vở mà vẫn đạt kết
quả, thậm chí có khi còn khả năng hơn [3].
Reti đa ra ý kiến còn khả quan hơn nữa, ông viết: Hiểu biết dựa trên
các phơng án có sẵn chỉ là ảo tởng [3]. Thực vậy, các phơng án khai
cuộc không thể là thứ gì đó vĩnh cửu, đứng nguyên tại chỗ, thực ra chúng chỉ
là mặt gơng phản ánh thực tiễn thi đấu, luôn luôn thay đổi và hoàn thiện.
Thay đổi cả cách đánh giá không chỉ riêng của từng phơng án mà của cả toàn
bộ từng hệ thống khai cuộc mà chúng ta đã thấy những nớc biến khác nhau
đã từng bị xóa bỏ, nhng sau lại khôi phục đợc ý nghĩa của mình nhờ tìm ra
những cách di chuyển kín đáo mà trớc kia ngời ta cha nhận ra. ý thức nắm
vững và hiểu biết các nguyên tắc chung của chiến lợc khai cuộc cũng nh nội
dung t tởng các hệ thống khai cuộc, do đó chính là điều cần thiết đối với
mỗi ai muốn hoàn thiện trình độ chơi cờ.
Cần thiết ghi nhận rằng, mặc dù các nguyên lý về sự triển khai nhanh

nào? Bạn hãy đi theo suy nghĩ lành mạnh, hãy nhanh chóng đa các quân tới
vị trí an toàn. Có thể bạn không thực hiện nớc đi nhanh nhất, nhng nhận
đợc các thất bại của mình nh các bài học và học tập theo cách học đó sẽ có
thể tránh chúng trong tơng lai. Nếu bạn cho nớc đi là hay thì bạn sẽ đi
nớc cờ đó, kinh nghiệm là ngời thầy tốt. Nhiều ngời sau khi tìm ra một

9

cách di chuyển tốt mà họ cho rằng rất khả quan lại không giám thực hiện nó.
Thật là đáng tiếc, cần thực hiện không do dự điều mà bạn cho là hay, là đúng
đắn[3].
Luôn ghi nhớ rằng, khai cuộc gắn bó với các giai đoạn khác nhau của
ván cờ và nhiều khi các phơng án của khai cuộc có thể dẫn tới các tình huống
thông dụng của ván cờ. Hơn thế nữa, nhiều khi xuất hiện cách bố phòng các
quân tốt theo một sơ đồ cụ thể và chúng có thể tác động đến cách chơi ở giai
đoạn tàn cuộc.
Trong một cuốn sách hớng dẫn chơi cờ của mình, Laxke đã viết: Tôi
đã đào tạo học trò biết cách suy nghĩ độc lập và biết cách phê phán các tài
liệu. Trong cờ vua, tôi muốn đa đến cho họ không phải là những khái niệm
trừu tợng hay những luận điểm chung mà muốn đem lại những kiến thức sôi
động [3].
Họ phải sẵn sàng trải qua những thử thách trong trận đấu bằng các khái
niệm, các quy luật và cách đánh giá một lần mà là nhiều lần một cách tự giác,
phấn khởi và cho đến nay đó vẫn là lời nói đúng.
1.2. Xu hớng huấn luyện khai cuộc cờ vua.
Qua nhiều năm thi đấu cùng với kinh nghiệm và trình độ phát triển. Tôi
nhận thấy, trình độ cờ của các vận động viên đợc phỏt triển và củng cố rất
nhiều năm trớc cũng nh sự phát triển của môn cờ vua ngày càng tăng. Hiện
nay, số lợng khai cuộc đợc tăng lên rất nhiều với nhiều thế biến và tình
huống phong phú. Số nớc đi trong khai cuộc, trớc kia thờng chỉ dừng lại ở

1.3. Đặc điểm tâm, sinh lí học sinh THPT.
Lứa tuổi học sinh trung học phổ thông bao gồm những em có độ tuổi từ
15 đến 17, 18 tuổi, lứa tuổi này còn gọi là lứa tuổi tiền thanh niên, nó có một
vị trí đặc biệt quan trọng trong thời kì phát triển của con ngời.
1.3.1. Đặc điểm tâm lý.
Đặc điểm tâm lý chung: Các em muốn chứng tỏ mình là ngời lớn,
muốn đợc mọi ngời tôn trọng mình, đã có trình độ hiểu biết nhất định, có

11

khả năng phân tích tổng hợp hơn, muốn hiểu nhiều biết rộng, thích hoạt động
có nhiều hoài bão nhng còn nhiều nhợc điểm.
1.3.1.1. Đặc điểm tâm lý trong học tập.
Do nội dung và tính chất của hoạt động học tập ở THPT có sự khác biệt
với hoạt động ở THCS. Sự khác biệt đó chủ yếu ở chỗ hoạt động học tập ở
trờng THPT đòi hỏi học sinh tính năng động sáng tạo và tính độc lập ở mức
độ cao hơn nhiều, đồng thời cũng đòi hỏi phải phát triển t duy lý luận để nắm
đợc nội dung một cách sâu sắc. Học sinh càng trởng thành, kinh nghiệm
sống càng phong phú, các em càng có ý thức đợc rằng mình đang đứng trớc
ngỡng cửa của cuộc đời. Do vậy thái độ có ý thức của các em đối với học tập
ngày càng phát triển.
Thái độ của học sinh đối với môn học có lựa chọn hơn. Các em đã hình
thành những hứng thú học tập gắn liền với khuynh hớng nghề nghiệp. Cuối
bậc THPT các em đã xác định đợc cho mình hứng thú đối với môn học nào
đó, đối với lĩnh vực tri thức nhất định. Hứng thú này thờng liên quan tới việc
lựa chọn nghề nghiệp nhất định của học sinh. Hơn nữa, hứng thú nhận thức
của học sinh THPT mang tính chất rộng rãi hơn ở THCS.
Thái độ học tập của học sinh THPT đợc thúc đẩy bởi động cơ học tập
(ý nghĩa thực tiễn của môn học đối với cá nhân), động cơ nhận thức, và ý
nghĩa xã hội của môn học Các em thờng tỏ ra tích cực học một số môn các

Sự phát triển tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân
cách của học sinh THPT, có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển tâm lý của lứa
tuổi học sinh. Quá trình này rất phong phú, phức tạp và mang một số đặc điểm
nh sau:
Các em đã tri giác những đặc điểm cơ thể của mình một cách hoàn toàn
mới. Các em thờng chú ý đến hình dáng bên ngoài của mình (hay soi gơng,
chú ý sửa t thế, quần áo). Hình ảnh về thân thể là một thành tố quan trọng
của sự tự ý thức của học sinh THPT. Sự tự ý thức của học sinh là một quá trình
lâu dài, quá trình này phát triển tự ý thức diễn ra mạnh mẽ, sôi nổi và có tính

13

chất đặc thù riêng: Học sinh thờng có nhu cầu tìm hiểu và đánh giá những
tâm lý đặc điểm tâm lý của mình theo quan điểm về mục đích sống và hoài
bão của mình. Chính điều này khiến các em quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm
lý, phẩm chất nhân cách và năng lực riêng.
Sự tự ý thức của học sinh thờng xuất phát từ nhu cầu của cuộc sống và
hoạt động trong tập thể, những quan hệ với thế giới xung quanh buộc họ phải
ý thức đợc những đặc điểm nhân cách của mình. Các em thờng hay ghi nhật
ký, so sánh mình với nhân vật mà họ coi là tấm gơng. Nội dung của sự tự ý
thức cũng khá phức tạp. Các em không chỉ nhận thức về cái tôi của mình trong
hiện tại nh học sinh THCS, mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội,
trong tơng lai.
Đối với học sinh THCS có thể hiểu rõ mình ở những phẩm chất nhân cách
bộc lộ rõ (lòng yêu lao động, tính cần cù, dũng cảm), thì ở học sinh THPT còn
có thể hiểu rõ những phẩm chất phức tạp, biểu hiện những quan hệ nhiều mặt của
nhân cách (tinh thần trách nhiệm, lòng tự trọng, tình cảm nghĩa vụ).
Học sinh THPT là lứa tuổi quyết định của sự hình thành thế giới quan -
hệ thống quan điểm về xã hội, tự nhiên, về cách c xử Những cơ sở của thế
giới quan đã đợc hình thành dần dần từ rất sớm - hình thành ngay từ nhỏ.

bạn bè nhiều hơn là hớng vào cha mẹ. Nhng khi bàn đến những giá trị sâu
sắc hơn nh việc định hớng, thế giới quan, những giá trị đạo đức thì ảnh
hởng của cha mẹ lại mạnh mẽ hơn rõ rệt.
Về đời sống tình cảm học sinh THPT rất phong phú và nhiều vẻ. Đặc
điểm này thể hiện rất rõ trong tình bạn của các em, vì đây là lứa tuổi mà
những hình thức đối xử có lựa chọn đối với mọi ngời trở nên sâu sắc và mặn
nồng. ở lứa tuổi này nhu cầu về tình bạn tâm tình cá nhân đợc tăng lên rõ
rệt. Tuy tình bạn sâu sắc đã đợc bắt đầu từ lứa tuổi học sinh THCS, nhng
sang tuổi này tình bạn của các em trở nên sâu sắc hơn nhiều. Các em có yêu
cầu cao hơn đối với tình bạn (yêu cầu sự chân thật, lòng vị tha, tin tởng, tôn
trọng, giúp đỡ lẫn nhau). Trong quan hệ với bạn bè các em cũng nhạy cảm

15

hơn: Không chỉ có khả năng xúc cảm chân tình, mà còn phải có khả năng đáp
ứng lại xúc cảm của ngời khác (đồng cảm). Tình cảm của học sinh THPT
thờng hay rất bền vững. Tình bạn ở tuổi này có thể vợt đợc mọi thử thách
và kéo dài suốt cuộc đời. Sự khác biệt giữa cá nhân trong tình bạn rất rõ. Quan
niệm học sinh la tuổi này về tình bạn và mức độ thân thiết trong tình bạn
cũng rất phong phú (vì phẩm chất tốt của bạn, vì tính tình, vì có cùng hứng thú
và sở thích).
Một điểm khác biệt rõ rệt giữa lứa tuổi học sinh THPT với lứa tuổi học
sinh THCS đó chính là phạm vi quan hệ bạn bè đợc mở rộng. Bên cạnh các
nhóm bạn cùng giới còn có khá nhiều nhóm bạn khác giới. Do vậy nhu cầu về
tình bạn với bạn khác giới đợc tăng cờng. Và ở một số em ã xuất hiện
những sự lôi cuốn đầu tiên khá mạnh mẽ, xuất hiện nhu cầu chân chính về
tình yêu và tình cảm sâu sắc. Đó là một trạng thái mới mẻ, nhng rất tự nhiên
trong đời sống tình cảm của thanh niên mới lớn.
1.3.2. Đặc điểm sinh lý.
ở lứa tuổi này cơ thể đã phát triển tơng đối hoàn chỉnh, các bộ phận cơ

tục phát triển để đi đến hoàn thiện. Số lợng dây thần kinh liên hợp tăng lên,
liên kết các phần khác nhau của vỏ não lại. Điều đó tạo tiền đề cần thiết cho
sự phức tạp hóa hoạt động phân tích tổng hợp Của vỏ bán cầu đại não trong
quá trình học tập, tuy nhiên tổng khối lợng của nó không tăng mấy chủ yếu
là cấu tạo bên trong não phức tạp hơn, do đó khả năng t duy nhất là khả năng
phân tích tổng hợp, trừu tợng hóa rất thuận lợi cho việc hình thành phản xạ
có điều kiện. Lứa tuổi này có sự phát triển cao về ngôn ngữ, t duy và các kỹ
xảo vận động, có ý nghĩa quan trọng.
Hệ vận động: ở lứa tuổi này, xơng bắt đầu gảm tốc độ phát triển về
chiều dài, chủ yếu là phát triển về độ dày. Sụn ở hai đầu xơng còn dài nhng
chuyển thành xơng ít. Mỗi năm nữ cao khoảng 0,5 đến 1cm, nam từ 1 đến
3cm. Các xơng nhỏ nh xơng bàn tay ã cốt hóa do hàm lợng chất hữu cơ
trong xơng giảm và hàm lợng phốt pho và can xi tăng. Cột sống đã ổn
định hình dáng, nhng vẫn cha đợc củng cố nên vẫn dễ cong veo.
Xơng chậu nữ to và yếu hơn nam, nếu bị chấn động mạnh dễ ảnh
hởng tới các cơ quan trong khung chu: Dạ con và buồng trứng. Vì vậy,
trong Giáo dục thể chất cần có sự phân biệt khối lợng và nhất là vận động
giữa nam và nữ.

17

Hệ cơ: Các tổ chức cơ phát triển, phát triển muộn hơn xơng. Cơ bắp
la tuổi này cơ co vẫn còn tơng đối yếu, các bắp cơ phát triển tơng đối
nhanh (cơ đùi, cơ cánh tay) các cơ co phát triển nhanh hơn các cơ duỗi. Các tổ
chức mỡ dới da của phụ nữ phát triển mạnh.
Hệ tuần hoàn: Hệ tuần hoàn của học sinh THPT đã đợc phát triển và
hoàn thiện, nhịp tim nam khoảng 70 - 80 lần/ phút, nhịp tim n khoảng 75 -
85 lần/ phút và cung cấp lợng máu gần tơng ứng với lứa tuổi trởng thành.
Lợng máu tỷ lệ với trọng lợng cơ thể. Khối lợng máu, hồng cầu, tiểu cầu
và bạch cầu đã tăng.


Nhim v 1: Thc trng s dng cỏc dng thc khai cuc trong tp
luyn v thi u ca i tuyn c vua n trng THPT Yờn Dng 2- Bc
Giang.

Để giải quyết nhiệm vụ 1, ti tiến hành theo hai bc sau:

Bc 1: Thu thập tài liệu liên quan đến những vấn đề nghiên cứu của
đề tài, tổng hợp, xác định cơ sở lựa chọn các test ứng dụng về mặt sinh lý.

Bc 2: Khảo sát, phỏng vấn các HLV, giáo viên của các trờng về
thực tiễn công tác huấn luyện khai cuộc cho đội tuyển cờ vua nữ.
Nhim v 2: Nghiờn cu ng dng mt s dng thc khai cuc c
bn cho i tuyn c vua n trng THPT Yờn Dng 2 - Bc Giang.

Lựa chọn các dạng khai cuộc cơ bản, các test xác định mức độ phù hợp
của test sẽ ứng dụng trong thực tiễn để huấn luyên khai cuộc cho đội tuyển cờ
vua nữ trờng THPT Yên Dũng 2 - Bắc Giang.
2.2. Phơng pháp nghiên cứu.

2.2.1. Phng phỏp phõn tớch v tng hp ti liu.
L phng phỏp thu thp thụng tin bng cỏch tỡm đc v phõn tớch tng
hp ti liu tham kho v cỏc vn cú liờn quan n ti nh: Cỏc ti
khoa hc, khúa lun, sỏch, bỏo chuyờn ngnh, Nghị quyt ca ng v Nh
nc, xỏc nh c s lý lun ca ti nghiờn cu. Việc sử dụng phơng
pháp này trong quá trình nghiên cứu là phục vụ chủ yếu cho việc giải quyết
các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
2.2.2. Phng phỏp phng vn.
õy l phng phỏp c s dng thu thp thụng tin qua vic phng
vn cỏc giỏo viờn, hun lun viờn v cỏc em hc sinh nhm iu tra thc trng sử


20

Nhóm thực nghiệm: Gồm 10 em học sinh tập luyện theo bài mà chúng
tôi đưa ra.
Nhóm đối chứng: Gồm 10 em học sinh tập luyện theo bài cũ.
Chương trình được thực nghiệm trong 6 tuần, nhóm đối chứng sử dụng
các dạng khai cuộc được HLV đang sử dụng, còn nhóm thực nghiệm sử dụng
các dạng khai cuộc do đề tài lựa chọn. Với thời gian 3 buổi mỗi tuần và mỗi
buổi tập 50 – 55’.
2.2.6. Phương pháp toán học thống kê
Là phương pháp được tôi sử dụng trong quá trình xử lý các số liệu đã
thu thập được của quá trình nghiên cứu. Sử dụng các công thức sau:
x
, 
2
, t, r
1. Số trung bình:
n
i
i 1
x
x
n




2. Phương sai:
2

(x x) (y y)
r
(x x) . (y y)
  

 

 

2.3. Tæ chøc nghiªn cøu.
2.3.1. §èi tîng nghiªn cøu.
- Đối tượng chủ thể là một số dạng thức khai cuộc cơ bản cho đội tuyển
cờ vua nữ trường THPT Yên Dũng 2 - Bắc Giang.
- Đối tượng khách thể là 20 học sinh nữ đội tuyển cờ vua trường THPT
Yên Dũng 2 - Bắc Giang.
21

2.3.2. Thêi gian nghiªn cøu. Thời gian
Giai
đoạn
Nội dung
Bắt
đầu
Kết thúc

đề tài.
- Thực trạng sử dụng các
d¹ng thøc khai cuộc trong tập
luyện và thi đấu của đội tuyển
cờ vua nữ Trường THPT Yên
Dũng 2 - Bắc Giang.
- Nghiên cứu ứng dụng một
số dạng thức khai cuộc cơ
bản cho đội tuyển cờ vua nữ
trường THPT Yên Dũng 2 -
Bắc Giang.

12/2010

03/2011
- Thông tin số liệu
về khả năng ứng
dụng các dạng
thức khai cuộc cơ
bản cho đội tuyển
cờ vua nữ.
- Thực trạng sử
dụng các dạng
thức khai cuôc
trong tập luyện và
thi đấu của đội
tuyển cờ vua nữ
trường THPT Yên
Dũng 2 - Bắc
Giang.

Khai cuộc Anh x x x
Gambit vua x x
Khai cuộc bốn mã x x x
Ván cờ Xcôt - len. x x
Phòng thủ hai mã x x
Phòng thủ Xi - xi - lia x

23

Từ kết quả ở bảng 3.1 cho thấy:
1. Số lợng khai cuộc là rất lớn nh khai cuộc tợng, khai cuộc tốt,
phòng thủ Pháp, khai cuộc Anh, Gam bit vua, khai cuộc 4 mã, đang đợc sử
dụng vào quá trình huấn luyện cho đội tuyển cờ vua nữ trẻ.
2. Thực trạng sử dụng các dạng khai cuộc cơ bản trong quá trình giảng
dạy cho đội tuyển cờ vua nữ đã cho thấy, số lợng các đơn vị thờng xuyên sử
dụng các thế trận điển hình là rất ít.
Mặt khác, khi tìm hiểu các đn vị trực tiếp thờng xuyên sử dụng các
dạng khai cuộc nhận thấy các giáo viên, HLV sử dụng các hình thức này cha
đa dạng, cha mang tính hệ thống và cha thực sự vừa sức đối với đội tuyển.
Để tiếp nhận tốt các loại khai cuộc các em trong đội tuyển phải nắm
vững các phơng pháp huấn luyện khai cuộc sau:
- Kết hợp khả năng phân tích của máy tính với sự đúc rút kinh nghiệm
bằng những thế trận điển hình đa ra những phơng án, hệ thống khai cuộc
phù hp cho đội tuyển.
- Phối hợp kỹ chiến thuật - chiến lợc cần nắm trong từng ván đấu.
- Thờng xuyên rèn luyện không ngừng các dạng đòn phối hợp và các
dạng cờ tàn thực tế.


Các dạng thức khai cuộc
ván
đấu
n
i
%
ván
đấu
n
i
% n
i
%
1 Khai cuộc tợng 9 2 22.22 20 6 30.00 29 8 27.59
2 Khai cuộc tốt 3 1 33.33 0 - - 3 1 33.33
3 Phòng thủ Pháp 22 5 22.27 25 11 44.00 47 16 34.04
4 Khai cuộc Anh 23 6 26.09 26 10 38.46 49 16 32.65
5 Khai cuộc bốn mã 5 1 20.00 7 2 28.57 12 3 25.00
6 Gambit vua 2 0 0 5 1 20.00 7 1 14.28
7 Ván cờ Xcốt - len. 25 7 28.00 27 9 33.33 52 16 64.00
8 Phòng thủ hai mã 7 2 28.57 8 3 37.50 15 5 33.33
96 24 25.00 118 42 35.59 214 66 30.84

25

Kết quả tại bảng 3.2 cho thấy:
Số lợng sai lầm trong khai cuộc của đội tuyển cờ vua nữ tại các giải
là rất cao, cụ thể theo thống kê số lợng sai lầm trong khai cuộc của nữ thì
với 214 ván đấu thì có 66 sai lầm (chiếm tỷ lệ 30.84%). Nh vậy cứ 3 ván


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status