MỞ ĐẦU
Trong nhiều môn thể thao thì bóng đá là môn thể thao được nhiều người
ưa chuộng và yêu mến nhất. Tập luyện bóng đá không những mang lại cho
chúng ta sức khỏe tốt mà còn giúp người tập trau dồi những phẩm chất tốt đẹp
như lòng dũng cảm, tinh thần đoàn kết, tính quyết đoán, tình yêu thương đồng
đội…
Bóng đá là một môn thể thao mang tính tập thể và đối kháng, thời gian tập
luyện và thi đấu kéo dài đòi hỏi các vận động viên phải tập trung chú ý cao, có
khả năng thực hiện các hành động chuyên môn và khả năng duy trì thể lực trong
suốt thời gian tập luyện và thi đấu. Trong các nhân tố quyết định đến hiệu quả
thi đấu như: Tâm lý, kỹ - chiến thuật… thì thể lực có vai trò quan trọng, nếu cầu
thủ không được chuẩn bị tốt về mặt thể lực sẽ không thực hiện được các động
tác kỹ thuật bài tập, chiến thuật làm ảnh hưởng đến kết quả thi đấu như Seagame
24 đội tuyển bóng đá nữ không bảo vệ thành công được chiếc huy chương
vàng lần thứ 4 liên tiếp và tệ hại hơn là đội tuyển bóng đá nam Việt Nam.
Trong các tố chất thể lực thì sức bền tốc độ có vai trò quan trọng, nó là cơ
sở để đánh giá trình độ thể lực của vận động viên bóng đá, sức bền tốc độ được thể
hiện rất rõ ở các pha tranh đua tốc độ, tranh cướp bóng và di chuyển không bóng.
Sức bền tốc độ trong bóng đá là khả năng duy trì hoạt động trên sân của
các cầu thủ trong thời gian dài, tức là các cầu thủ thực hiện một hoạt động nào
đó, trong thời gian hoạt động mà khả năng duy trì tốc độ giảm không nhiều. Sức
bền tốc độ là cơ sở cho vận động viên nắm vững những kỹ thuật, kỹ xảo vận
động nâng cao thành tích thi đấu. Vì vậy nếu tố chất này không được đảm bảo sẽ
làm hạn chế khả năng thực hiện các ý đồ chiến thuật, thậm chí cả những pha
phối hợp đơn giản như: Khéo léo, mềm dẻo vốn là truyền thống của các cầu thủ
Việt Nam cũng không phát huy được vai trò tích cực của nó, làm ảnh hưởng đến
chất lượng thực hiện các động tác kỹ thuật phức tạp trong điều kiện đối kháng
quyết liệt.
1
Quảng Ninh là một tỉnh có phong trào TDTT phát triển mạnh, nhất là
bóng đá. Qua quan sát quá trình tập luyện và thi đấu của các cầu thủ trẻ lứa tuổi
Quảng Ninh.
+ Nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển sức bền tốc độ cho nam VĐV
bóng đá lứa tuổi 17 – 18 tỉnh Quảng Ninh.
+ Tiến hành thực nghiệm trên đối tượng nghiên cứu.
+ Đánh giá hiệu quả các bài tập đã lựa chọn trên đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu:
Các bài tập phát triển sức bền tốc độ cho nam VĐV bóng đá lứa tuổi 17 –
18 tỉnh Quảng Ninh.
Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 04/2010 đến tháng 05/2011 và
được chia làm 3 giai đoạn. Quá trình nghiên cứu được thực hiện trên 20 nam
VĐV bóng đá lứa tuổi 17 – 18 tỉnh Quảng Ninh và trường Đại học TDTT Bắc
Ninh.
Ý nghĩa luận văn:
Đề tài nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong việc đánh giá
thực trạng sử dụng các bài tập phát triển sức bền tốc độ cho nam VĐV bóng đá
lứa tuổi 17 – 18 tỉnh Quảng Ninh trong quá trình huấn luyện.
Quá trình nghiên cứu đề tài đã lựa chọn được các bài tập phát triển sức
bền tốc độ cho nam VĐV bóng đá lứa tuổi 17 – 18 tỉnh Quảng Ninh. Kết quả
nghiên cứu góp phần cải thiện đáng kể sức bền tốc độ của VĐV trong thi đấu và
nâng cao thành tích thể thao.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Đặc điểm sức bền và sức bền tốc độ trong bóng đá.
* Theo quan điểm lý luận:
Sức bền là khả năng thực hiện một hoạt động với cường độ cho trước hay
là năng lực duy trì khả năng vận động trong thời gian dài nhất mà cơ thể có thể
chịu đựng được. Do thời gian hoạt động đó cuối cùng bị giới hạn bởi sự xuất
hiện của mệt mỏi, nên cũng có thể nói sức bền là năng lực của cơ thể chống lại
bứt tốc độ loại hàng phòng ngự đối phương. Trong những pha ghi bàn, cầu thủ
ngoài kỹ thuật ổn định ra thì những pha bứt tốc độ đoạn ngắn phải thật tốt, vì
trong một trận đấu không phải khi nào cũng có cơ hội để ghi bàn, có thể những
cơ hội đó chỉ ở những thời điểm cuối trận đấu, việc di chuyển nhiều của hàng
tiền đạo sẽ gây khó khăn cho hậu vệ đối phương chỉ một giây phút sơ sểnh của
hàng hậu vệ sẽ phải trả giá bằng bàn thua. Qua đó chúng ta có thể thấy được tầm
quan trọng của sức bền tốc độ trong bóng đá, đó là sự di chuyển liên tục dù có
bóng hay không có bóng.
Trong công tác giảng dạy và huấn luyện sức bền tốc độ cho VĐV bóng đá
cần được tiến hành theo chương trình giáo án có quy củ và tiến hành song song
với việc huấn luyện kỹ - chiến thuật vì bóng đá là môn thể thao đối kháng, là
hoạt động không có chu kỳ, thời gian thi đấu kéo dài, do đó sức bền là nền tảng,
là cơ sở cho mọi hoạt động. Vì vậy huấn luyện sức bền tốc độ là một nhiệm vụ
hết sức quan trọng trong huấn luyện bóng đá do nó liên quan tới việc hình thành
và phát triển đồng đều các tố chất khác, đồng thời nâng cao khả năng phối hợp
thực hiện các ý đồ kỹ - chiến thuật.
Sức bền tốc độ trong bóng đá có hai mặt liên quan trực tiếp đó là: Sức bền
và tốc độ, trong đó muốn đánh giá sức bền mà VĐV có khả năng duy trì được
với cường độ định trước thì phương pháp huấn luyện sức bền riêng đều phải
5
nâng cao khả năng ưa khí và yếm khí, nâng cao giới hạn tâm - sinh lý để duy trì
tính bền vững của cơ thể với những biến đổi nội môi nhất định.
Tốc độ chính là biểu hiện ra các chỉ số tương đối hay riêng biệt. Vì vậy
khi huấn luyện sức bền tốc độ cho VĐV bóng đá thì phương pháp thay đổi,
phương pháp giãn cách là thích hợp nhất. Ngoài ra phương pháp tập luyện vòng
tròn có tác dụng tổng hợp, đặc biệt nếu lựa chọn bài tập một cách khéo léo và
sắp xếp thích hợp các nhân tố của lượng vận động.
* Theo quan điểm tâm lý học:
Bóng đá là môn tập thể đối kháng trực tiếp, do vậy VĐV ngoài sự chịu
đựng lượng vận động cao còn phải chịu đựng sự tác động tâm lý rất lớn và trong
- Hệ cơ là hệ sử dụng oxy được cung cấp.
Trình độ sức bền được xây dựng trước hết bởi chức năng của hệ tuần
hoàn, hệ trao đổi chất, hệ thần kinh và sự phối hợp hoạt động của các cơ quan
trong cơ thể. Trong quá trình tập luyện để nâng cao sức bền thì sự thay đổi các
chức năng của các cơ quan trong cơ thể có vai trò cơ bản, việc vận dụng cao
nhất điều kiện sinh vận của VĐV cho thành tích sức bền phụ thuộc rất nhiều vào
tình trạng phối hợp vận động và các tính chất điều khiển tâm lý, đặc biệt là điều
khiển ý chí của VĐV. Nhờ có trình độ tập luyện sức bền tốt mà các chức năng
của hệ thống tuần hoàn, hệ hô hấp, điều hoà nhiệt và hệ thống thần kinh tốt hơn,
tạo điều kiện cho sự phát triển các tố chất khác. Do đó việc huấn luyện sức bền
phải hướng chủ yếu vào việc nâng cao sức bền ưa khí và năng lực hoạt động
yếm khí.
1.2. Đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi 17 – 18.
1.2.1. Đặc điểm tâm lý lứa tuổi 17 – 18.
Ở giai đoạn này các em có những bước phát triển nhảy vọt cả về thể chất
lẫn tinh thần. Biểu hiện là đã có những bước phát triển từ tuổi thơ ấu sang tuổi
trưởng thành, lứa tuổi này các em ở ngưỡng không hẳn là người lớn cũng không
hẳn là trẻ con.
Giai đoạn này các em đã hình thành những phẩm chất mới về trí tuệ, tình
cảm, đạo đức, phong cách. Sự phát triển của các em trong giai đoạn này tương
đối phức tạp, tâm lý của các em có biến đổi mâu thuẫn với nhau xuất hiện nhiều
đột biến.
7
Biểu hiện cơ bản nhất ở lứa tuổi này là giai đoạn dậy thì và quan trọng
hơn cả là sự hình thành và phát triển bộ máy sinh dục, các chức năng sinh lý mới
xuất hiện, tuyến sinh dục bắt đầu hoạt động mạnh mẽ. Sự phát triển này phần
nào ảnh hưởng mạnh mẽ đến cá tính của các em, tình cảm sâu sắc dễ bị kích
động, xúc động, không tự kiềm chế được bản thân. Đôi khi bản chất kích động
mạnh làm cho các em dễ dẫn tới quá trớn. Học tập rất miệt mài hăng say nhưng
hay chán nản khi không thực hiện, hoàn thành được nhiệm vụ.
tương đối ổn định. Khả năng hoạt động đã đạt tới mức tương đối cao. Sự phát
triển của cơ thể trong giai đoạn này phần nào phản ứng thích nghi với sự tăng
công suất hoạt động, sự hồi phục của tim tương đối nhanh, thể tích phút của
dòng máu giảm, thể tích tâm thu và thể tích phút của tim tăng cao (thể tích tâm
thu từ 120 – 140ml, thể tích phút từ 28 – 32 lít/phút).
Huyết áp tăng:
+ Huyết áp tối đa : 100 – 110 mmHg
+ Huyết áp tối thiểu : 80 – 95 mmHg
• Hệ máu:
Hoạt động mạnh mẽ của cơ bắp dẫn đến máu có sự thay đổi nhất định sau
thời gian tập luyện lâu dài và căng thẳng. Độ nhớt của máu tăng lên, khối lượng
máu tỷ lệ với trọng lượng của cơ thể tăng ở mức cao, lượng hồng cầu tăng lên
sau quá trình tập luyện làm cho cơ thể đầy đủ máu dẫn đến quá trình hồi phục
diễn ra mạnh mẽ và nhanh chóng sau lượng vận động.
• Hệ hô hấp:
Hệ hô hấp đã phát triển mạnh nhưng không đồng đều và chưa hoàn thiện,
quá trình hô hấp có sự thay đổi về chu kỳ, trong tập luyện và thi đấu các em
thường thở nông và không đều do phổi chưa to, lồng ngực còn hẹp. Về dung tích
sống và khả năng hấp thụ oxy tăng hơn lứa tuổi trước.
• Hệ thần kinh:
Bộ não của các em trong thời kỳ này tiếp tục phát triển mạnh đi đến hoàn
thiện khả năng tư duy, nhất là tư duy trừu tượng hóa phát triển rất thuận lợi cho
9
sự hình thành phản xạ có điều kiện. Ngoài ra do sự phát triển của tuyến yên,
tuyến giáp làm cho hệ thần kinh có sự hưng phấn mạnh.
Kết luận:
Ở lứa tuổi này các em được hình thành những phẩm chất mới về trí tuệ,
tình cảm, đạo đức, phong cách và thái độ về công việc được giao. Sự phát triển
tương đối phức tạp, tâm lý của các em có nhiều biến đổi mâu thuẫn với nhau
xuất hiện nhiều đột biến. Do đó trong công tác huấn luyện phải nắm được đặc
bài tập, phải tập luyện liên tục trong nhiều năm thì các cầu thủ mới có thể thành
đạt và trở thành những VĐV đỉnh cao. Trong huấn luyện diễn biến tuần tự mục
tiêu của từng giai đoạn thường là không thể chuyển tiếp hết được, do vậy bất kỳ
một huấn luyện viên nào muốn VĐV vượt quá đặc điểm của quá trình huấn
luyện chuyên môn hóa quá sớm để đạt được thành tích nhất thời tất yếu sẽ dẫn
đến việc bắt buộc VĐV đạt thành tích khi chưa có thể đạt được và như vậy hậu
quả của nó là thời gian duy trì thành tích ngắn và có nhiều tác hại không thể
lường trước được.
Ngày nay các cường quốc bóng đá trên thế giới đều tích cực sử dụng
nhiều biện pháp tiên tiến, sử dụng nhiều phương pháp huấn luyện khoa học để
nâng cao trình độ thể lực cho VĐV và nó được thể hiện ở các mặt chính sau:
- Phương pháp huấn luyện có hệ thống.
- Nỗ lực nâng cao hiệu suất huấn luyện.
- Tăng cường công tác huấn luyện từ chiều hướng vận dụng các phương
pháp, phương tiện huấn luyện tiên tiến.
- Quá độ từ huấn luyện đơn lẻ sang huấn luyện tổng hợp.
- Coi trọng phần hồi phục sau huấn luyện.
1.3.2. Đặc điểm của một số phương pháp huấn luyện sức bền và sức
bền tốc độ trong bóng đá.
1.3.2.1. Phương pháp nâng cao khả năng ưa khí.
11
Khả năng ưa khí của cơ thể là khả năng tạo ra nguồn năng lượng cho hoạt
động cơ bắp thông qua quá trình oxy hóa các hợp chất giàu năng lượng trong cơ
thể. Để nâng cao khả năng ưa khí cần giải quyết ba nhiệm vụ:
- Nâng cao khả năng hấp thụ oxy tối đa.
- Nâng cao khả năng kéo dài thời gian duy trì mức hấp thụ oxy tối đa.
- Làm cho hệ tuần hoàn và hệ hô hấp nhanh chóng đạt được mức hoạt
động với hiệu suất cao.
Để giải quyết những nhiệm vụ trên, nguyên tắc chung của các phương
pháp tập luyện nâng cao khả năng ưa khí là sử dụng các bài tập trong đó hiệu
viên, dao động từ 45 – 120s, để cho lần lặp lại tiếp theo được bắt đầu trong lúc
thể tích tâm thu và mức hấp thụ oxy đang ở mức cao (tần số nhịp đập khoảng
120 – 140 lần/phút). Trong mọi trường hợp quãng nghỉ ngơi không nên vượt quá
5 – 6 phút khi mà hoạt động của hệ tuần hoàn và hô hấp giảm nhiều. Trong
quãng nghỉ nên tiếp tục hoạt động với cường độ thấp để tránh sự chuyển đột
ngột từ trạng thái động sang trạng thái tĩnh.
- Số lần lặp lại cần tính toán sao cho đảm bảo duy trì được trạng thái ổn
định trong sự phối hợp hoạt động của các hệ thống cơ thể. Thể hiện ở khả năng
hấp thụ oxy ổn định ở mức tương đối cao. Cụ thể là khi có hiện tượng giảm mức
hấp thụ oxy thì đó là tín hiệu để ngừng bài tập.
1.3.2.2. Phương pháp nâng cao khả năng yếm khí.
Khả năng yếm khí là khả năng vận động của cơ thể trong điều kiện dựa
vào các nguồn cung cấp năng lượng yếm khí (các phản ứng năng lượng không
có sự tham gia của oxy).
Nâng cao khả năng ưa khí cũng là yếu tố quan trọng để nâng cao khả năng
yếm khí tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện những hoạt động yếm khí.
Bởi vì như chúng ta đã biết quá trình trả nợ oxy được diễn ra một phần ngay
trong lúc vận động và nếu khả năng ưa khí cao thì phần trả nợ oxy trong lúc vận
động đó sẽ lớn hơn và hiệu quả hoạt động của cơ thể sẽ tăng lên.
13
Tuy nhiên nhiệm vụ chính ở đây là tăng cường khả năng giải phóng năng
lượng nhờ các phản ứng phân hủy Photphocreatin và Glucoza, đồng thời nâng
cao khả năng chịu đựng trạng thái nợ oxy ở mức cao.
Các bài tập nhằm hoàn thiện cơ chế giải phóng năng lượng từ Photpho
creatin có những đặc điểm sau:
- Cường độ hoạt động gần mức tối đa hoặc thấp hơn một chút.
- Thời gian của bài tập (mỗi lần lặp lại) chỉ giới hạn từ 3 – 8s (chạy 30 –
60m) sau khi bắt đầu hoạt động.
- Thời gian nghỉ giữa quãng từ 2 – 3 phút, đó cũng là thời gian để phục hồi
Photphocreatin không tạo ra axit lactic, nên tốc độ trả nợ oxy diễn ra khá nhanh.
các phản ứng có oxy. Bằng cách chia ra các nhóm, mỗi nhóm gồm 3 – 4 lần lặp
lại, giữa các nhóm có thời gian nghỉ dài 15 – 20 phút, để thanh toán phần còn nợ
oxy.
Trên đây đã trình bày phương pháp tác động có chọn lọc đến những cơ
chế yếm khí riêng biệt. Trong thực tế, các phương pháp được áp dụng thường
mang tính chất tổng hợp hơn, kết hợp những tác động nhằm nâng cao khả năng
ưa khí với khả năng yếm khí. Bởi vì, khả năng ưa khí là cơ sở để phát triển khả
năng yếm khí, còn cơ chế Glucôphân là cơ sở để phát triển cơ chế
Photphocreatin.
1.3.2.3. Đặc điểm các phương pháp huấn luyện sức bền tốc độ trong bóng
đá.
Đặc trưng của bóng đá là cường độ hoạt động và hình thức di chuyển luôn
luôn thay đổi. Vì vậy nâng cao năng lực ưa khí bằng các bài tập có chu kỳ là rất
cần thiết để nâng cao sức bền chuyên môn, vì nhờ đó có thể bảo đảm được khả
năng phục hồi nhanh chóng những lúc không phải di chuyển với cường độ cao.
Ngoài ra để thích ứng với tính chất hoạt động thay đổi cần áp dụng nhiều
loại bài tập chạy tăng tốc độ có cường độ và độ dài khác nhau, các bài tập bật
nhảy kết hợp với chạy đổi hướng, vượt vật cản. Các hình thức biến dạng của
phương pháp đồng đều và giãn cách cũng được áp dụng rộng rãi có thể kéo dài
15
thêm hiệp đấu trong tập luyện, rút ngắn thời gian và cường độ đấu tập (VĐV ở
các vị trí luôn phải di chuyển).
Qua theo dõi và quan sát các trận thi đấu bóng đá, chúng tôi nhận thấy các
VĐV phải di chuyển và chạy nước rút rất nhiều bởi khuynh hướng của bóng đá
hiện đại là đẩy nhanh tốc độ trận đấu gây bất ngờ cho đối phương bằng phản
công nhanh, đẩy hậu vệ vào các hoạt động tấn công, tiền đạo vào các hoạt động
phòng thủ. Do đó vai trò của sức bền tốc độ trong bóng đá là hết sức quan trọng,
mà cơ sở để phát triển sức bền tốc độ trước hết là phát triển khả năng sức bền
tốc độ không bóng (tức là các bài tập chạy được lặp lại với cường độ ở mức xấp
xỉ tới hạn với quãng nghỉ ngắn). Ngoài ra VĐV phải duy trì được khả năng đó
đối với tính chất và phương hướng tác động của bài tập đối với cơ thể. Trong
những bài tập có tốc độ tới hạn và dưới tới hạn, nếu thời gian nghỉ đủ dài để các
chức năng sinh lý hồi phục tương đối đầy đủ, thì trong mỗi lần lặp lại tiếp theo
các phản ứng của cơ thể sẽ diễn ra giống như lần thực hiện bài tập trước đó, đầu
tiên là cơ chế giải phóng năng lượng từ Photphocreatin, tiếp đến là quá trình
Glucophân.
Trong những bài tập lặp lại với tốc độ trên tới hạn với quãng nghỉ không đủ
để thanh toán nợ oxy, thì các lần lặp lại tiếp theo sẽ diễn ra trên nền nợ oxy chưa
được thanh toán và lượng nợ oxy sẽ tích luỹ và tăng lên nhanh chóng sau mỗi
lần lặp lại. Những bài tập như vậy có tác động rất mạnh tới cơ thể.
* Tính chất nghỉ ngơi: Có thể là nghỉ ngơi thụ động, có thể là nghỉ ngơi tích
cực, nói chung sau mỗi lần thực hiện bài tập không nên nghỉ ngơi một cách thụ
động, mà cần phải kết hợp giữa nghỉ ngơi tích cực và nghỉ ngơi thụ động.
Nghỉ ngơi tích cực sẽ tránh được sự chuyển đột ngột từ trạng thái động
sang trạng thái tĩnh và ngược lại, tạo điều kiện thuận lợi cho lần tập tiếp theo
cũng như thúc đẩy nhanh quá trình hồi phục.
* Số lần lặp lại: Trong các bài tập ưa khí, khi thời gian của mỗi lần thực
hiện bài tập tương đối ngắn, thì số lần lặp lại phải tương đối lớn. Ngược lại trong
các bài tập yếm khí, việc tăng số lần lặp lại phải hết sức thận trọng và chỉ giới
17
hạn trong một phạm vi nhất định. Như vậy số lần lặp lại là một trong những yếu
tố quy định lượng vận động, tạo lên kết quả tổng hợp của bài tập. Việc xác định
số lần lặp lại tuỳ thuộc vào mục đích của bài tập, cường độ và thời gian thực
hiện bài tập trong mỗi lần lặp lại, trình độ tập luyện của VĐV.
Qua đây ta thấy được ý nghĩa và tác dụng của các yếu tố lượng vận động
làm thay đổi cơ chế diễn biến sinh lý trong cơ thể, nó có tác dụng trực tiếp đến
việc thay đổi thành tích. Chính vì vậy chúng tôi dựa vào 5 yếu tố trên sẽ đưa ra
được những bài tập có lượng vận động phù hợp trong quá trình giáo dục sức bền
tốc độ cho VĐV.
18
độ cho VĐV bóng đá trẻ. Trong quá trình thực nghiệm với 20 VĐV bóng đá lứa
tuổi 17 – 18 tỉnh Quảng Ninh.
+ Nhóm thực nghiệm là 10.
+ Nhóm đối chứng là 10.
2.1.5. Phương pháp kiểm tra sư phạm.
Phương pháp này nhằm mục đích kiểm tra, đánh giá sức bền tốc độ của
nam VĐV bóng đá lứa tuổi 17 – 18 tỉnh Quảng Ninh một cách chính xác và
khách quan thông qua những test đã lựa chọn. Trên cơ sở đó có nhận xét, kết
luận về hiệu quả các bài tập đã lựa chọn trong việc phát triển sức bền tốc độ cho
đối tượng nghiên cứu.
2.1.6. Phương pháp toán học thống kê.
Mục đích là xử lý các số liệu thu thập nhằm làm rõ độ tin cậy và sự khác
biệt giữa các bài tập đã lựa chọn. Các công thức đã được sử dụng như: Công
thức tính trung bình cộng, công thức tính phương sai (n < 30), công thức tính độ
lệch chẩn, công thức so sánh hai số trung bình.
- Số trung bình cộng:
n
x
x
i
n
i 1
=
Σ
=
- Tính độ lệch chuẩn:
2
x
δδ
=
c
nn
XXXX
δ
(với n <30)
20
- So sánh 2 số trung bình quan sát:
BA
BA
nn
XX
t
22
δδ
+
−
=
(Với n < 30 sẽ dùng δ
2
chung)
- Tính hệ số tương quan:
22
)()(
))((
yyxx
yyxx
r
ii
ii
−Σ−Σ
các trung tâm TDTT Quảng Ninh, Hải Phòng… Thu thập số liệu, xử lý số liệu,
xác định các test, lựa chọn bài tập…
- Giai đoạn 3: Từ tháng 02/2011 đến tháng 05/2011, phân tích các kết quả
nghiên cứu, viết và hoàn thiện đề tài nghiên cứu. Chuẩn bị và bảo vệ kết quả
nghiên cứu trước Hội đồng khoa học.
21
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1. Giải quyết mục tiêu 1.
Đánh giá thực trạng sức bền tốc độ của nam vận động viên bóng đá
lứa tuổi 17 – 18 tỉnh Quảng Ninh.
Để giải quyết mục tiêu này chúng tôi triển khai theo các bước sau:
3.1.1. Nghiên cứu lựa chọn test đánh giá sức bền tốc độ của nam vận
động viên bóng đá lứa tuổi 17 – 18 tỉnh Quảng Ninh.
a. Nguyên tắc lựa chọn test đánh giá:
- Các test được lựa chọn phải có tính khả thi đảm bảo độ tin cậy và tính
thông báo trên đối tượng nghiên cứu.
- Các test phải đơn giản, dễ thực hiện, dễ kiểm tra.
- Thời gian thực hiện các test phải phù hợp với thời điểm kiểm tra.
b. Lựa chọn test đánh giá sức bền tốc độ cho vận động viên bóng đá.
Thông qua việc phân tích tổng hợp, tham khảo các tài liệu chuyên môn đề
tài xác định được 5 test để đánh giá năng lực sức bền tốc độ của VĐV bóng đá
lứa tuổi 17 – 18 tỉnh Quảng Ninh thường được các HLV, giáo viên sử dụng đó
là test:
Test 1. Chạy 5 x 30m (s).
Test 2. Dẫn bóng sút cầu môn 5 quả liên tục (s).
Test 3. Chạy sút bóng cầu môn 10 quả liên tục (s).
Test 4. Dẫn bóng tốc độ 30m lặp lại 3 lần (s).
Test 5. Dẫn bóng luồn cọc 30m x 2 lần (s).
Để đảm bảo tính khách quan đề tài đã tiến hành phỏng vấn các chuyên
Từ bảng 3.1 cho thấy: Có 3 test (1; 4; 5) đạt tỷ lệ lớn hơn 70% số phiếu
tán thành đề tài sử dụng để đánh giá sức bền tốc độ cho VĐV. Hai test còn lại
(2; 3) do không bảo đảm được tỷ lệ tán thành nên đề tài loại bỏ. 3 test đạt tỷ
lệ là:
1. Test: Chạy 5 x 30m (s).
2. Test: Dẫn bóng tốc độ 30m lặp lại 3 lần (s).
3. Test: Dẫn bóng luồn cọc 30m x 2 lần (s).
c. Kiểm tra tính thông báo của các test.
Để kiểm tra tính thông báo của các test có ba phương pháp là phương
pháp test lặp lại, phương pháp test gấp đôi và phương pháp test hình thức song
song. Ở đây sử dụng phương pháp test lặp lại để kiểm tra tính thông báo của test
(lặp lại 2 lần yêu cầu của test cách nhau 7 ngày), trên đối tượng là 20 nam VĐV
bóng đá tỉnh Quảng Ninh. Tuần tự lập test của các đối tượng và điều kiện lập
test được đảm bảo như nhau.
Các test phải thoả mãn các yêu cầu sau:
- Tiến hành trên cùng một đối tượng.
- Tiến hành trong cùng thời gian thực hiện.
- Tiến hành trên cùng đối tượng tập luyện.
Kết quả được trình bày tại bảng 3.2.
23
Bảng 3.2. Xác định tính thông báo của các test đánh giá sức bền tốc độ trên
đối tượng nghiên cứu.
TT Test
Kết quả kiểm tra
r p
1 Chạy 5 x 30m (s) 0.80 0.05
2 Dẫn bóng tốc độ 30m lặp lại 3 lần (s) 0.84 0.05
3 Dẫn bóng luồn cọc 30m x 2 lần (s) 0.87 0.05
Từ kết quả bảng 3.2 cho thấy 3 test có mối tương quan chặt chẽ với thành
tích của nam VĐV bóng đá lứa tuổi 17 – 18 được đề tài sử dụng.
4 Bật liên tục lên xuống bục cao 25 – 30cm 8 80 2 20
5 Dẫn bóng luồn cọc 30 x 2 lần 6 60 4 40
6 Chạy 200; 400m 6 60 4 40
7 Dẫn bóng chạy chéo nửa sân sút cầu môn 6 60 4 40
8 Dẫn bóng luồn cọc sút cầu môn 7 70 3 30
9 Chạy 4 lần 100m 6 60 4 40
10 Bật nhảy tại chỗ bằng 2 chân 7 70 3 30
11 Chuyền bóng xa giữa 2 người 5 50 5 50
12 Nhảy lò cò 1 chân 20m 7 70 3 30
Từ kết quả ở bảng 3.3 cho thấy: Có 12 bài tập thường được các HLV sử
dụng để phát triển sức bền tốc độ cho VĐV, cũng là các bài tập để phát triển sức
bền tốc độ cho nam VĐV bóng đá lứa tuổi 17 – 18 phần lớn là các bài tập đã
được sử dụng trong nhiều năm qua và cho đến nay những bài tập đó không còn
phù hợp với xu hướng phát triển của bóng đá hiện đại. Đây cũng là một trong
những nguyên nhân chính góp phần làm giảm sút thể lực của VĐV, trong đó có
sức bền tốc độ.
3.1.2.2. Đánh giá thực trạng huấn luyện sức bền tốc độ cho nam VĐV
bóng đá lứa tuổi 17 – 18 của tỉnh Quảng Ninh.
Tuy bóng đá là môn thể thao đã và đang được sự quan tâm và đầu tư của
lãnh đạo sở TDTT tỉnh nhà nhưng thành tích những năm gần đây vẫn còn rất
hạn chế. Nguyên nhân chính là khâu đào tạo trong quá trình huấn luyện không
đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao của bóng đá. Thực tế quan sát quá
trình huấn luyện bóng đá cho thấy:
25