Nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho nam vđv cầu lông lứa tuổi 17 18 tỉnh thái nguyên - Pdf 30

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở Việt Nam Cầu lông chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động văn hoá
TDTT của quần chúng nhân dân lao động. Môn Cầu lông được mọi người yêu
thích, tích cực tham gia tập luyện. Chính vì vậy môn thể thao này đã được Đảng,
Nhà nước, xã hội quan tâm và phát triển.
Tuy nhiên, hiện nay thành tích đỉnh cao về môn Cầu lông của nước ta còn
một khoảng cách khá xa so với các nước trong khu vực Đông Nam á.
Thực tế đó do nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân có tính
chủ quan là không xây dựng được một quy trình đào tạo VĐV mang tính khoa
học, công tác huấn luyện VĐV còn tuỳ tiện, nhiều chắp vá, thiếu sự thống nhất
trên toàn quốc, mỗi nơi làm theo một cách, còn xem nhẹ tính hệ thống, tính giai
đoạn của quá trình huấn luyện, việc lựa chọn phương tiện, phương pháp huấn
luyện thiếu tính khoa học, chưa tập chung giải quyết nhiệm vụ của từng giai
đoạn. Vì vậy mà ở một số nơi tuy đã đầu tư nhiều công sức, kinh phí mà chưa
đào tạo được VĐV có trình độ cao.
Ở Thái Nguyên môn Cầu lông là một môn thể thao không thể thiếu được
trong đời sống nhân dân, Phong trào tập luyện Câu lông phát triển trong các
trường học, cơ quan xí nghiệp, các câu lạc bộ.
Với sự phát triển của môn thể thao này, trong những năm qua các VĐV
của tỉnh đã tham gia các giải như: Các cây vợt mạnh, giải trẻ, hội khoẻ Phù
Đổng song VĐV Thái Nguyên vẫn chưa đạt được thành tích cao. Qua quan sát
các trận đấu của nam VĐV Cầu lông lứa tuổi 17-18 tỉnh Thái Nguyên, điều dễ
nhận thấy là họ thường chơi rất hay ở những hiệp đầu, như đến những hiệp sau
chất lượng đánh cầu giảm sút hẳn, trận đấu trở nên tẻ nhạt và rởi rạc.
Ở những cuộc đấu giữa nam VĐV tỉnh này với các đội tuyển khác, càng
bộc lộ rõ điểm yếu trên của các VĐV đội tuyển Thái Nguyên. Họ thường thắng
ở hiệp 1 nhưng những hiệp đấu sau lại dễ dàng để thua. Khi tìm hiểu kỹ hơn về
công tác huấn luyện ở đội tuyển này, chúng tôi cho rằng một nguyên nhân góp
phần dẫn đến kết cục trên là khả năng sức bền chuyên môn trong tập luyện và
1
thi đấu của VĐV trẻ Thái Nguyên còn ở mức hạn chế. Loại tố chất này có vai

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Khái niệm sức bền và các quan điểm về huấn luyện sức bền.
1.1. Khái niệm sức bền.
Theo lý luận phương pháp thể dục thể thao thì sức bền là: Năng lực thực
hiện một hoạt động với cường độ cho trước hay là năng lực duy trì khả năng vận
động trong thời gian kéo dài nhất mà cơ thể có thể chịu đựng được. Còn khái
niệm về sức bền chuyên môn thì được hiểu như sau: Sức bền chuyên môn là
năng lực duy trì khả năng vận động cao trong những loại hình bài tập nhất định.
Theo quan điểm của tiến sĩ Harre trình bầy trong học thuyết huấn luyện
thì sức bền được hiểu là khả năng chống lại mệt mỏi của VĐV, sức bền đảm bào
cho VĐV đạt được cường độ tốt nhất trong thời gian kéo dài thi đấu tương ứng
với khả năng huấn luyện của mình, sức bền phát triển tốt nhất là điểu kiện sức
khoẻ hồi phục nhanh. Cũng theo tiến sĩ Harre thì sức bền chuyên môn là sức bền
đặc trưng cho từng môn thể thao.
1.2. Các quan điểm về huấn luyện sức bền.
Có rất nhiều phương pháp huấn luyện sức bền bao gồm cả sức bền chung
và sức bền chuyên môn. Tuy vậy có thể chia thành bốn nhóm lớn như sau:
* Các phương pháp kéo dài
Các phương pháp kéo dài bao gồm phương pháp liên tục, phương pháp
thay đổi và phương pháp Farlekt. Nhóm phương pháp này được sử dụng chủ yếu
trong huấn luyện sức bền chung, tạo ra khả năng chịu đựng vận động chung và
cải thiện chức năng hồi phục sau các lượng vận động căng thẳng. Các phương
pháp này chủ yếu dùng trong thời kỳ chuẩn bị.
- Phương pháp liên tục: Phương pháp này thể hiện ở chỗ tốc độ bài tập
đựơc duy trì trong một thời gian dài.
- Tốc độ được xác định qua tần số nhịp tim và phải đạt từ 150-
170lần/phút tuỳ theo môn thể thao, trình độ tập luyện và nhiệm vụ huấn luyện.
3
- Phương pháp thay đổi:
Lượng vận động được tiến hành trong thời gian dài và tốc độ thì thay đổi

phương pháp mới có thể đem lại hiệu quả cao.
* Đặc điểm huấn luyện sức bền tốc độ.
Ngày nay khi các môn thể thao trong đó có Cầu lông đã phát triển tới đỉnh
cao thì ngoài thể lực chung, thể lực chuyên môn ngày càng đóng vai trò quan
trọng nhất là trong giai đoạn đi sâu – chuyên môn hoá.
Sức bền chuyên môn là một trong nhóm các tố chất thể lực chuyên môn
rất quan trọng cần được phát triển. Sức bền chuyên môn là năng lực duy trì khả
năng vận động cao trong mỗi hoạt động nhất định. Trong đó Cầu lông thì sức
bền chuyên môn gắn liền với tốc độ và tính linh hoạt đó là sức bền tốc độ
Sức bền tốc độ là khả năng chống lại mệt mỏi khi vận động với tốc độ gần
tối đa chủ yếu với sự tạo thành năng lực yếm khí. Một cách cụ thể, sức bền tốc
độ trong các môn không có chu kỳ như Cầu lông là khả năng có thể luôn luôn
thực hiện được động tác nhanh mặc dù thời gian thi đấu kéo dài.
Các nhân tốc chính chi phối đến sức bền tốc độ phải kể đến là:
- Kỹ thuật thể thao hợp lý.
- Năng lực duy trì trong thời gian dài trạng thái hứng phấn của trung tâm
thần kinh.
- Khả năng hoạt động của hệ tuần hoàn và hô hấp.
- Tính tiết kiệm của quá trình trao đổi chất.
- Sự phối hợp hài hòa trong các hoạt động của các chức năng sinh lý.
- Khả năng chịu đựng chống lại cảm giác mệt mỏi như nỗ lực ý chí.
Cầu lông là môn thể thao thì đấu cá nhân trong đó hoạt động không ngừng
thay đổi, các lượng vận động mang tính dãn cách.
Các bài tập thường sử dụng để huấn luyện sức bền tốc độ là các phương
tiện chuyên môn được kết hợp với các nhiệm vụ, chiến thuật, các bài tập có chỉ
số của lượng vận động gần giống với điều kiện thi đấu và phù hợp với điều kiện
thi đấu ở một vài nhân tố bên ngoài.
5
Đối với các vận động viên trẻ trong giai đoạn thể lực chuyên môn việc áp
dụng các bài tập chuyên môn hạn hẹp gây ra những ảnh hưởng xấu. Vì thế các

khí có thể dùng phương pháp nghỉ giữa quãng phương pháp lặp lại. Tốc độ tập
luyện có thể dùng tốc độ đều, có thể chạy biến tốc.
6
Chạy cự ly trung bình 400m hoặc 800m.
Chạy cự ly trung bình và dài 1500m, 3000m. 5000m.
Chạy định giờ 6 phút hoặc 12 phút.
Chạy việt dã cự ly có thể dựa vào tình hình cụ thể của VĐV mà quyết định
- Bài tập di chuyển bước nghỉ giữa quãng.
Cho vận động viên dùng các bước cơ bản như
Bước đơn, bước đôi
Bước nhảy, bước đệm
Hoặc kết hợp các bước nhảy cơ bản với nhau trong mỗi lần tập
Cách sử dụng: Di chuyển lên xuống phải trái cự ly khoảng 3-5m, thời gian
tập di chuyển lặp lại 8-16 tổ, thời gian nghỉ giữa mỗi tổ 2-3 phút bài tập sử dụng
thời gian từ 3-30 giây trên mỗi tổ lặp lại từ 1-6 tổ, di chuyển bước với tốc độ
trung bình thời gian nghĩ giữa các tổ từ 2-3 phút.
- Bài tập nhiều cầu:
Khi tập các huấn luyện viên chuẩn bị từ 50-60 quả cầu sau đó dùng vợt
hoặc tay đánh hoặc tung cầu vào các vị trí khác nhau trên sân của người tập để
người tập, di chuyển đỡ cầu khi đỡ cầu người tập sử dụng kỹ thuật đơn lẻ hoặc
kỹ thuật tổng hợp đở 20 quả là một tổ nhỏ sau đó nghỉ giữa quãng 30 giây tiếp
tục tổ nhỏ thứ 2 di chuyển đỡ cầu 40 quả sau đó nghỉ giữa quãng 1 phút cuối
cùng tập tổ nhỏ thứ 3 di chuyển đỡ cầu 60 quả. 3 tổ ngày ( 20 - 40 - 60 ) là một
tổ lớn giữa các tổ lớn nghỉ 2-3 phút. Mỗi buổi tập có thể lặp lại 2-3 tổ lớn, yêu
cầu tốc độ giữa các tổ.
1.4. Đặc điểm tố chất sức bền của vận động viên Cầu lông.
Theo 2 tác giả người Trung Quốc là Bành Mỹ Lệ và Hậu Chính Khánh (2
tác giả của cuốn sách Cầu Lông dùng cho sinh viên thể dục thể thao ) thì sức bền
chuyên môn trong Cầu lông chủ yếu: Là sức bền tốc độ, hình thức cung cấp
năng lượng yếm khí mang tính philátcát là chủ yếu. Đồng thời còn có việc cung

1.5. Ảnh hưởng của sức bền đối với tập luyện và thi đấu Cầu lông.
Cũng như một số môn thể thao khác sức bền chuyên môn trong tập luyện
và thi đấu có ý nghĩa quan trọng, nó quyết định đến thành tích của VĐV.
Cầu lông thi đấu đỉnh cao đòi hỏi VĐV có trình độ kỹ thuật cá nhân điêu luyện,
kết hợp với những năng lực vận động của con người trong đó có sức bền chuyên
môn chiếm một vị trí quan trọng, đặc điểm nổi bật của VĐV trong tập luyện và
thi đấu Cầu lông là đan xen giữa vận động và nghỉ ngơi, phán đoán di chuyển,
thực hiện đường cầu dài ngắn với tốc độ nhanh khác nhau từ ( 7-12 ) giây. Hoạt
8
động thi đấu cầu lông được tính theo hiệp với thời gian không cố định, trung
bình mỗi hiệp kéo dài từ 20-30 phút thời gian từng hiệp và trận đấu phụ thuộc
rất nhiều vào trình độ chuyên môn 2 bên. trong những trận đấu mà cả 2 đều có
trình độ chuyên môn cao và tương đương nhau, thường phải đánh cả 3 hiệp, trận
đấu có thể kéo dài 80 phút, thậm trí là cả 120 phút. Trong những trận đấu kéo
dài thì cường độ hoạt động cao và liên tục theo đặc tính tình huống của mỗi trận
đấu. Trong thi đấu Cầu lông các VĐV có thể phải thi đấu liên tục giữa các trận,
điều này đỏi hỏi các VĐV phải có trình độ chuẩn bị thể lực cao và đặc biệt là
sức bền chuyên môn trong Cầu lông thể hiện ở sự duy trì hoạt động của hầu hết
các cơ quan trong cơ thể đó là sự phối kết hợp liên tục của các hoạt động của tay
và chân trong các hoạt động di chuyển bật nhảy, đánh cầu qua lại di chuyển…
Do đặc điểm của tập luyện và thi đấu diễn ra như vậy nên hệ thống cung ứng
diễn ra tức thời để thích nghi với vận động, khi nghỉ ngơi tuần hoàn máu vận
chuyển hemoglobin được huy động cùng với lượng oxy dữ trự trong cơ thúc đẩy
nhanh quá trình hồi phục cho vận động viên tiếp theo. Trong hoạt động với sức
bền tốc độ, tốc độ di chuyển bật nhảy liên tục đánh cầu đòi hỏi khả năng hồi
phục nhanh hơn lượng oxy hấp thụ tối đa, các hoạt động bắt đầu tức thời đòi hỏi
được cung cấp từ hệ thống năng lượng ATP-CP khi nghỉ ngơi ATP được tái
tổng để phục vụ cho hoạt động tiếp theo, thời gian hồi phục trung bình là 10
giây, hệ ATP-CP cung cấp năng lượng cho vận động từ 5 đến 6 giây với cường
độ tối đa, tiếp đó là hệ lactic nhận vai trò cung cấp năng lượng cho VĐV tiếp

vừa sức với người tập. Lượng vận động vừa sức là lượng vận động không dễ quá
mà cũng không khó quá nhưng người tập phải có sự khắc phục ý chí để hoàn
thành bài tập thì đó mới là lượng vận động vừa sức, để biết được lượng vận
động phù hợp với các đặc điểm trên hay không thì thường xuyên phải có sự
kiểm tra y học và kiểm tra sức khoẻ của các bác sĩ trên cơ sở đó mà điều chỉnh
các phương pháp tập luyện sao phù hợp mà không ảnh hưởng tới sức khoẻ của
người tập.
1.6.1. Đặc điểm tâm lý lứa tuổi 17-18.
Đây là tuổi phát triển đầy đủ nhất về chức năng tâm lý. Các em đã tỏ ra là
người lớn thật sự và đòi hỏi mọi người xung quanh phải tôn trọng mình, đã có
sự nhận thức nhất định, các em muốn hiểu biết nhiều, thích công việc có hoài
bão lớn. Do quá trình hưng phấn chiếm ưu thế lớn hơn quá trình ức chế nên các
em tiếp thu cái mới nhanh hơn, nhưng lại chóng chán, hơn nữa các em dễ bị môi
10
trường xung quanh tác động tạo nên sự tự đánh giá cao về khả năng dù chỉ là
thất bại tạm thời cũng làm cho các em tự ti, điều đó không tốt cho quá trình huấn
luyện tập thể dục thể thao vì vậy khi tiến hành công việc gì đó cần uốn nắn nhắc
nhở, đảm bảo định hướng và động viên giúp đỡ các em luyện tập tốt.
- Sự phát triển trí tuệ của các em mang tính chất nhạy bén và phát triên
đến trình độ tương đối cao, tuổi này cũng là tuổi hình thành thế giới quan tự ý
thức, hình thành tính cách về tương lai, đây cũng là nét nổi bật của các em.
Chúng đang có khát vọng tiến lên phía trước đấu tranh cho một ngày mai tươi
sáng hơn, các em ở lứa tuổi này có một đời sống tình cảm phong phú và sâu sắc
hơn tất cả các lứa tuổi trước,tình cảm rộng lớn hơn, có cơ sở vị trí vững chắc,
nhạy cảm về đạo đức, họ phát hiện rất nhanh sự dối trá, bất công. Ngược lại, họ
rất công bằng và trung thực, các phẩm chất, tính kiên quyết, quả cảm là một nết
tiêu biểu của tính cách thanh niên, nó gắn liền với tính độc lập, nhờ đó mà các
em có thái độ dứt khoát trong hành động, tăng cường sự nỗ lực ý chí để vượt
qua mọi khó khăn.
- Tư duy của các em tỏ ra nhất quán và chặt chẽ, họ biết xoáy về những

xạ có điều kiện.
- Hệ hô hấp và tuần hoàn: Hệ hô hấp phát triển toàn diện. Tim phát triển
tương đối hoàn thiện, Khoang ngực nhỏt nên thường thở nhanh và không ổn
định. Dung tích sống, thông khí phổi còn ít đó là nguyên nhân làm cho tần số hô
hấp của các em tăng cao khi hoạt động chóng dẫn đến mệt mỏi, một trong những
chỉ số quan trọng nhất của cơ quan hô hấp là thông khí phổi tối đa, chỉ số này
cũng tăng theo lứa tuổi, trong hoạt động thể lực thông khí phổi của các em học
sinh tham gia tập luyện lớn hơn so với các em không tham gia tập luyện trong
cùng một tuổi, tuy nhiên trong tập luyện, trong hoạt động thể lực thông khí phổi
của các em tăng lên chủ yếu là do tần số hô hấp chứ không phải tăng độ sâu hô
hấp, việc tăng dần hô hấp là cho cơ thể các em nhận được ít oxy hơn so với
người lớn. Ở lứa tuổi này tần số hô hấp gần giống với người lớn, tuy nhiên các
cơ hô hấp còn yếu, nên sức co giãn của lồng ngực ít chủ yếu co giãn cơ hoành.
- Hệ tuần hoàn: đã phát triển hoàn thiện, phản ứng của hệ tuần hoàn trong
vận động tương đối rõ rệt: Nhưng sau hoạt động mạch và huyết áp hồi phục
tương đối nhanh chóng.
12
- Hệ tiêu hoá: Phát triển khá tốt, hiệu quả hấp thụ các chất dinh dưõng qua
đường tiêu hoá tương đối cao.
- Hệ bài tiết: Chịu sự tác động của tuyến nội tiết phát triển và có tác dụng
tốt đối với việc điều hoà thân nhiệt, do tiêu hoá và bài tiết tốt nên các em có khả
năng phục hồi rất tốt so với người lớn.
- Hệ sinh dục:Đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ, sự phân hoá giới
tính thể hiện rõ ràng, sự phát triển hệ sinh dục ở lứa tuổi này làm thay đổi tâm lý
của các em khi sử dụng các hình thức, phương pháp giáo dục, người huấn luyện
viên phải đặc biệt lưu ý đến vấn đề này.
- Nói tóm lại đây là giai đoạn thuận lợi nhất cho việc hoàn thiện các tố
chất thể lực. Do sức mạnh cơ bắp và sức bền đã được phát triển rất lớn, khả
năng phối hợp vận động tốt lên rõ rệt, vì vậy ở lứa tuổi này có thể áp dụng tất cả
các bài tập sức mạnh và sức bền chuyên môn và tham gia tập luyện thi đấu ở tất

14
2.1.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
Trong đề tài này chúng tôi sử dụng phương pháp thực nghiệm sư phạm để
đánh giá hiệu quả các bài tập bổ trợ chuyên môn cho việc nâng cao sức bền
chuyên môn cho các VĐV. Sau khi đã lựa chọn được các bài tập chúng tôi đã
lựa chọn đối tượng thực nghiệm, lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng
các bài tập dùng các chỉ tiêu này để kiếm tra phân nhóm trước thực nghiệm, sau
thực nghiệm. Sau đó xây dựng các tiến độ sử dụng bài tập cuối cùng lại sử dụng
các chỉ tiêu số kiếm tra ban đầu kiểm tra ở giai đoạn kết thúc thực nghiệm để lấy
số liệu tiến hành so sánh hiệu quả tập luyện của 2 nhóm.
2.1.5. Phương pháp toán học thống kê.
Các số liệu thu thập được sau thực nghiệm chúng tôi sử dụng các thuật
toán thống kê để xử lý nhằm giúp cho việc rút ra kết luận có độ tin cậy và có sức
thuyết phục cao hơn.
- Tính giá trị trung bình cộng
n
x
X
i

=
(n<30)
- Tính phương sai:
( )
1
2
2


=

−+
−+−
=
∑ ∑
BA
BBAA
c
nn
XXXX
δ
15
2.2. Tổ chức nghiên cứu.
2.2.1 Thời gian nghiên cứu.
Đề tài được chúng tôi tiến hành nghiên cứu từ tháng 12/2009 đến 05/2011
và được chia làm 3 giai đoạn.
Giai đoạn 1: Từ tháng 12/2009 đến tháng 04/2010. Chọn đề tài và xây
dựng đề cương nghiên cứu thông qua đề cương nghiên cứu.
- Giai đoạn 2: Từ tháng 05/2010 đến tháng 02/2011: Giải quyết nhiệm vụ
1 và 2 của đề tài.
- Giai đoạn 3: Từ tháng 03/2011 đến tháng 05/2011: Hoàn chỉnh việc xử
lý số liệu, viết dự thảo kết quả nghiên cứu, sửa chữa hoàn thiện luận văn, chuẩn
bị bảo vệ luận văn.
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu.
Nghiên cứu được chúng tôi tiến hành tại trung tâm huấn luyện VĐV tỉnh
Thái Nguyên.
2.2.3. Đối tượng nghiên cứu.
Các bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho nam VĐV Cầu lông tuổi
17 - 18 tỉnh Thái Nguyên.
2.2.4. Phạm vi nghiên cứu:
Các nam VĐV Cầu lông tuổi 17 - 18 tỉnh Thái Nguyên.

giai đoạn trước thi đấu.
TT
Khối lượng tập luyện
Nội dung bài tập
Tổng số lần
tập trong 24
buổi
Thời gian
mỗi bài tập
1 Chạy cự ly ngắn 400-800m
1 lần 400m
(1 lần 800m)
3
,
- 6
,
2 Chạy cự ly trung bình 1500-3000m 1 lần 5
,
- 15
,
3 Đánh cầu qua lại trên lưới tốc dộ cao 12 lần 3
,
- 5
,
4
Thự hiện di chuyển trên dưới trái phải thời
gian 1
,
30
,,

,
30
,,
, mặt
khác đã chú ý gắn huấn luyện sức bền chuyên môn với thực tế thi đấu. Song trên
thực tế một số bài tập sử dụng còn quá đơn điệu điều đó dẫn tới một mặt VĐV
giảm hứng thú tập luyện, mặt khác quan trọng hơn là không thể đảm bảo phát
triển các mặt khác nhau trong sức bền chuyên môn của VĐV cầu lông: Sức bền
trong các hoạt động đủ khí và yếm khí, sức bền mạnh, sức nhanh tại các động
tác di chuyển và đánh đỡ cầu.
3.2.1. Khảo sát khả năng sức bền chuyên môn của nam VĐV cầu lông
lứa tuổi 17-18 tỉnh Thái Nguyên.
3.1.2.1. Lựa chọn test kiểm tra
18
Với thực trạng sử dụng các bài tập phát triển sức bền như vừa nói năng
lực sức bền chuyên môn của VĐV cầu lông lứa tuổi 17-18 tỉnh Thái Nguyên
đang ở mức độ nào?
Để giải quyết vấn đề trên việc trước tiên phải lựa chọn được test kiểm tra
cho phù hợp.
Yêu cầu đối với test kiểm tra là:
Yêu cầu 1: Test phải đảm bảo và phản ánh đúng năng lực các mặt sức bền
chuyên môn trong cầu lông.
Yêu cầu 2: Test đảm bảo độ tin cậy và tính thông báo cần thiết về đối
tượng nghiên cứu.
Yêu cầu 3: Test phải có chỉ tiêu đánh giá cụ thể và ổn định về điều kiện
kiểm tra.
Yêu cầu 4: Test lựa chọn phải phù hợp và đặc trưng dựa trên đặc điểm
tâm sinh lý của lứa tuổi 17-18.
Thông qua khảo sát tư liệu và ý kiến chuyên gia, bước đầu chúng tôi có
được các test dưới đây:

Mục đích: Nhằm đánh giá tổng hợp sức bền tốc độ và sức bền mạnh của
nhóm cơ chi dưới.
Cách tiến hành: Cho VĐV đứng ở vị trí cuối sân thực hiện 3 bước bật
nhảy đập cầu nhanh chóng lùi về vị trí xuất phát, cứ như vậy thực hiện hết 20
lần tính thời gian thực hiện test.
Xác định độ tin cậy và tính thông báo của các test trên đối tượng
nghiên cứu.
Nhằm xác định độ tin cậy của test trên đối tượng nghiên cứu đề tài cho
tiến hành xác định hệ số tương quan (r) giữa 2 lần lập test. Việc kiểm nghiệm
được tiến hành trên 14 VĐV nam cầu lông của tỉnh Thái Nguyên.
20
Các điều kiện giữa 2 lần kiểm tra như nhau sau đó tính hệ số tương quan
kết quả giữa 2 lần lặp test. Nếu test có hệ tương quan chặt chứng tỏ độ tin cậy
cao, và ngược lại. Kết quả được trình bày tại bảng 3.2 dưới đây.
Bảng 3.2: Hệ số tin cậy của các test vừa lựa chọn.
TT Các test
Kết quả (giây)
R
Lần 1 Lần 2
1
2
3
4
5
Di chuyển ngang sân đơn 20 lần (giây)
Di chuyển zích zắc nhặt cầu 5 lần 6 điểm trên
sân (giây)
Di chuyển tiến lùi ném cầu qua lưới 10 lần (giây)
Di chuyển chéo ba bước sang hai bên phải trái
đẩy cầu 15 lần (giây).

2
3
4
5
Di chuyển ngang sân đơn 20 lần (giây)
Di chuyển zích zắc nhặt cầu 5 lần 6 điểm trên sân (giây)
Di chuyển tiến lùi ném cầu qua lưới 10 lần (giây)
Di chuyển chéo ba bước sang hai bên phải trái đẩy cầu 15
lần (giây).
Ba bước bật nhảy đập cầu 20 lần (giây)
0,72
0,71
0,75
0,73
0,71
Các chỉ số r cũng đều cho thấy tất cả các test vừa chọn đều đảm bảo tính
thông báo.
3.1.2.2. Khảo sát khả năng sức bền chuyên môn của nam VĐV cầu
lông tuổi 17 – 18 tỉnh Thái Nguyên.
Khi đã lựa chọn được các test chúng tôi tiến hành kiểm tra đối với 14
VĐV cầu lông lứa tuổi 17-18 của tỉnh.
Kết quả thu được chúng tôi trình bày ở bảng 3.4
Bảng 3.4. Thực trạng sức bền chuyên môn của nam VĐV cầu lông
lứa tuổi 17-18 tỉnh Thái Nguyên.
TT
Test kiểm tra (n=14)
Thành tích
δ
±X
1 Test 1: Di chuyển ngang sân đơn 20 lần (s). 64

,,
= 86
,,
80.64
±
3.09
5 Test 5: Ba bước bật nhảy đập cầu 20 lần: 65
,,
= 80
,,
72.42
±
5.08
Từ kết quả thu được về thực trạng sức bền chuyên môn của nam VĐV cầu
lông lứa tuổi 17-18 tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi đã tiến hành tham khảo ý kiến
22
của các huấn luyện viên và đặc biệt là các thầy cô giáo bộ môn cầu lông trường
đại học TDTT Bắc Ninh nhằm đánh giá trình độ sức bền chuyên môn của các
VĐV. Tất cả những người được chúng tôi phỏng vấn đều khẳng định rằng kết
quả kiểm tra trên của các VĐV cầu lông là còn thấp, điều này chứng tỏ sức bền
chuyên môn của các VĐV chưa cao.
Để đánh giá chính xác hơn trình độ sức bền chuyên môn của các VĐV
cầu lông lứa tuổi 17-18 tỉnh Thái Nguyên chúng tôi so sánh sức bền chuyên môn
của các VĐV cầu lông lứa tuổi 17-18 Hà Nội.
Thông qua kết quả so sánh để có một cái nhìn rõ ràng về thực trạng sức
bền chuyên môn của các VĐV cầu lông lứa tuổi 17-18 tỉnh Thái Nguyên.
Chúng tôi sử dụng 5 test kiểm tra trên đối với VĐV cầu lông lứa tuổi 17-
18 của thành phố Hà Nội và đem so sánh với kết quả mà chúng tôi thu được ở
bảng 3.4. của các VĐV cầu lông tỉnh Thái Nguyên. Kết quả thu được trình bày ở
bảng 3.5.

72.42
±
4.65 68.14
±
4.5 2.53 2.145 <0.05
3
Test 3: Di chuyển tiến lùi
ném cầu qua lưới 10 lần
(s).
72.42
±
5.08 68
±
4.28 2.45 2.145 <0.05
4
Test 4: Di chuyển chéo 3
bước sang 2 bên phải trái
đập cầu 15 lần (s).
80.64
±
3.09 77.35
±
2.12 3.29 2.145 <0.05
5
Test 5: Ba bước bật nhảy
đập cầu 20 lần:
61.78
±
3.33 56.35
±

(tính)
= 3,47 > t
(bảng)
= 2,145 (p < 0,05)
Như vậy sức bền chuyên môn của 2 nhóm VĐV là có sự khác biệt ở
ngưỡng xác suất p < 5%. Nói cách khác sức bền chuyên môn của VĐV cầu lông
tuổi 17-18 Thái Nguyên kém hơn Hà Nội.
3.2. Nhiệm vụ 2: Lựa chọn và đánh giá hiệu quả ứng dụng các bài tập
phát triển sức bền chuyên môn cho nam VĐV cầu lông lứa tuổi 17-18 tỉnh
Thái Nguyên.
3.2.1. Xác định phương hướng lựa chọn bài tập.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và các sách chuyên môn như: lý luận và
phương pháp thể dục thể thao của Nguyễn Toán, Phạm Danh Tôn học thuyết
huấn luyện của Harre, sinh lý học TDTT của Lưu Quang Hiệp, Phạm Thị Uyên,
24
Tâm lý học của Ngọc Viễn, Lê Văn Xem, Nguyễn Thị Nữ, các tài liệu giảng dạy
cầu lông của bộ môn chúng tôi bước đầu xác định phương hướng lựa chọn bài
tập phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Yêu cầu 1: Các bài tập lựa chọn phải nhằm phát triển cả hai dạng sức bền
ưa khí và sức bền yếm khí, chủ yếu là phát triển sức bền yếm khí philáctát.
Yêu cầu 2: Các bài tập phải có tính khả thi trên đối tượng và điều kiện tập
luyện của tỉnh Thái Nguyên.
Yêu cầu 3: Các bài tập phải có định lượng (khối lượng, thời gian, cường
độ, mật khẩu).
Yêu cầu 4: Các bài tập nhằm phát triển sức mạnh chuyên môn phải gắn
liền với kỹ thuật và thi đấu của VĐV cầu lông.
Sau khi chúng tôi đã phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia, các nhà khoa
học, các giáo viên có kinh nghiệm (tổng cộng 15 người) với nội dung hỏi là: Xin
ông (bà) cho biết tầm quan trọng của 4 yêu cầu lựa chọn đã xác định.
Kết quả cho thấy: Có 14/15 vị được hỏi chiếm tỷ lệ 93,33% có ý kiến cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status