“một số bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho nam sinh viên môn bóng chuyền trường đại học tây bắc - Pdf 24

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục thể chất là một nhiệm vụ cơ bản trong mục tiêu chiến lược
của sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta nhằm góp phần đào tạo những con
người phát triển toàn diện, hoàn thiện về nhân cách, phát triển về trí tuệ, nâng
cao thể chất để phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, giữ vững và tăng cường nền an ninh quốc phòng trong hoàn cảnh
đất nước ta đang trên con đường đổi mới, nền kinh tế xã hội mở cửa với các
nước trong khu vực và trên thế giới.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, đã quyết định “đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm mục tiêu dân giầu nước mạnh, xã hội công
bằng dân chủ văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Muốn vậy cần
phải phát triển mạnh giáo dục và đào tạo, phát huy nguồn lực con người, đó là
yếu tố cơ bản để phát triển nhanh và bền vững”[15]. Từ các quan điểm của
Đảng ta nói trên, cùng với luật giáo dục đã được ban hành, mục tiêu giáo dục
là “ Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, có tri thức,
có sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp trung thành với lý tưởng độc lập và chủ
nghĩa xã hội…”[1; 21].
Cũng như các môn thể thao khác, bóng chuyền là một trong những môn
thể thao được phát triển rộng rãi và khá phổ biến trên toàn thế giới. Nó chiếm
vị trí khá quan trọng trong việc giáo dục thể chất và giáo dục đạo đức con
người. Vì nó là một môn thể thao tập thể có tính đối kháng cao. Tập luyện và
thi đấu bóng chuyền có tác dụng mau chóng nâng cao các tố chất thể lực như:
Sức nhanh, Sức mạnh, Sức bền, độ mềm dẻo, khéo léo và khả năng phối hợp
vận động.
Hoạt động của các đấu thủ trên sân đòi hỏi người tập phải biết vận
dụng những giác quan của mình để phán đoán chuẩn xác các tình huống xẩy
2



nói chung và trong giảng dạy nói riêng ở trường Đại học Tây Bắc thì hầu hết
chưa thực sự được quan tâm và việc vận dụng vào công tác giảng dạy và huấn
luyện còn rất non kém. Đó cũng là nguyên nhân cơ bản dẫn tới kết quả học
tập chưa cao, thành tích thi đấu còn hạn chế, khả năng tiếp thu động tác, kỹ
chiến thuật của sinh viên còn gặp khó khăn hơn hoặc chưa theo kịp.
Đây là một vấn đề hết sức quan trọng và cấp thiết không thể thiếu trong
chương trình học tập và rèn luyện của sinh viên môn bóng chuyền khoa
TDTT trường Đại học Tây Bắc.
Qua tìm hiểu vấn đề phát triển sức bền chuyên môn cho nam sinh viên
môn bóng chuyền khoa TDTT trường Đại học Tây Bắc thấy rằng chưa có một
tác giả hay một công trình nghiên cứu nào được công bố
Do vậy, việc nghiên cứu, lựa chọn tìm ra một hệ thống bài tập phát
triển sức bền chuyên môn là một vấn đề cấp thiết hiện nay đối với nam sinh
viên môn bóng chuyền trường Đại học Tây Bắc, nhằm làm nền tảng cho việc
học tập cũng như nâng cao khả năng tiếp thu kỹ thuật động tác, và là cơ sở thể
lực vững chắc cho những năm tiếp theo.
Vì lý do nêu trên tác giả đi đến việc nghiên cứu đề tài.
“Một số bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho nam sinh viên môn
Bóng chuyền trường Đại học Tây Bắc”
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài đi tới việc nghiên cứu lựa chọn một số bài tập phát triển sức bền
chuyên môn cho nam sinh viên môn bóng chuyền trường Đại học Tây Bắc để
góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn bóng chuyền nói riêng và công
tác đào tạo trong những năm học tới ở trường, từ đó đáp ứng nhu cầu của xã
hội và đối với giáo viên thể dục thể thao trong trường học các cấp.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề nêu trên đề tài đặt ra 03 nhiệm vụ như sau.
Nhiệm vụ 1. Đánh giá thực trạng sức bền chuyên môn của nam sinh
viên (K49) môn bóng chuyền trường Đại học Tây Bắc.


chuyền trong ngành của trường Đại học sư phạm Hà Nội, trường Đại học
TDTT - Bắc Ninh và trường Đại học Tây Bắc, ngoài ra còn trao đổi với một
số giáo viên ở các trường khác.
5.3. Phương pháp quan sát sư phạm(trong đó có kiểm tra sư phạm)
- Quan sát quá trình dạy học và hoạt động thi đấu bóng chuyền (nội,
ngoại khoá) của sinh viên, nhằm tổng kết các bài tập phát triển sức bền
chuyên môn, phân phối lượng vận động trong tập thể lực
- Đồng thời qua quan sát, đề tài cũng tiến hành đánh giá sức bền
chuyên môn của nam sinh viên bóng chuyền ở một số test như
Các Test sử dụng đánh giá sức bền chuyên môn
* Test thực hiện bài tập liên hoàn
- Đánh giá sức bền phối hợp động tác
- Đơn vị tính: số lần (l)
- Cách tiến hành: Khi có tín hiệu còi VĐV đỡ bóng ở vị trí số 1 lên vị
trí số 3 sau đó di chuyển đến vị tí số 6 đỡ bóng ở vị trí số 6 lên vị trí số 3 rồi
di chuyển ngang ra biên trái đón đập bóng ở vị trí số 4.
- Yêu cầu: Đỡ bóng vào đúng ô quy định, đập bóng qua lưới và
trong sân.
- Thực hiện liên tục trong 3 phút, số tổ thực hiện 3 tổ
- Quãng nghỉ giữa các tổ là 3' lấy thành tích tốt nhất.
* Test bật nhảy đập bóng tung ở vị trí số 3 liên tục
- Nhằm đánh giá sức bền bật có đà của nam sinh viên
- Đơn vị tính: số lần (l)
- Cách tiến hành: VĐV đứng ở vị trí số 3 cách lưới 3 bước đà khi có
người phục vụ tung bóng ở số 3 lên thì lấy đà 3 bước bật nhảy đập bón xong
rồi lại lùi xuống lấy đà, cứ như vậy đập liên tục trong 2 phút
- Yêu cầu: Đập bóng qua lưới và trong sân, được tính một lần, đập liên
tục trong 2 phút thực hiện 2 tổ nghỉ giữa các tổ là 3' lấy thành tích tốt nhất.
6


C B
A
Sơ đồ test chạy rẻ quạt.
5.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Trong đề tài này, phương pháp thực nghiệm sư phạm được sử dụng để
kiểm nghiệm sự phát triển sức bền chuyên môn thông qua việc áp dụng một
số bài tập đã lựa chọn. Thực nghiệm được tiến hành trên 40 nam sinh viên
(K49) môn bóng chuyền trường Đại học Tây Bắc.
- Nhóm thực nghiệm gồm 20 nam sinh viên bóng chuyền k49 Cao
Đẳng Thể dục
- Nhóm đối chứng gồm 20 nam sinh viên bóng chuyền K49 Cao Đẳng
Thể dục
5.5. Phương pháp toán học thống kê
Đề tài sử dụng phương pháp này nhằm mục đích xử lí số liệu đã thu
thập được và gồm các công thức toán sau.
8

* Sè trung b×nh:
1
n
i
Xi
X
n
=
=

1 1
( ) ( )
2
Na Nb
A A B B
i i
c
A B
X X X X
n n
σ
= =
− + −
=
+ −
∑ ∑

Trong đó:
X
A,
X
B
; Là kết quả quan sát từng chỉ tiêu ở mỗi cá thể của hai nhóm A, B.

,
A B
X X
: Là trung bình cộng các chỉ tiêu của hai nhóm A,B.

,

σ
: Lµ ph−¬ng sai chung
t : chỉ số so sánh hai số trung bình

9

* C«ng thøc so s¸nh hai sè trung b×nh

b
b
a
a
ba
tính
nn
xx
t
22
δδ
+

=
(n ≥ 30)
Trong ®ã:
X
: Lµ sè trung b×nh.

2
δ
: Lµ ph−¬ng sai

∑ ∑

i
yyxx
yyxx
r
il
ii
(n < 30)
Trong đó: x là chỉ số đo của từng cá thể nhóm A
y là chỉ số đo của từng cá thể nhóm B

X
,  là giá trị trung bình của hai nhóm tương ứng
* Hệ số tương quan thứ bậc.
)1(
6
1
2
2

−=

nn
d
r

Trong đó. d là hiệu số thứ bậc ở hai biến lượng của từng cá thể.
* Công thức so sánh tần số quan sát giữa 2 mẫu.



=

Trong đó: W: là nhịp tăng trưởng được tính bằng phần trăm
V
1
: Kết quả đo lần trước.
V
2
: Kết quả đo lần sau.
5.6. Kề hoạch tổ chức nghiên cứu
5.6.1 Thời gian nghiên cứu
* Giai đoạn 1. Từ tháng 01/ 2010 đến 08/2010
- Xác định tên đề tài nghiên cứu
- Xây dựng đề cương nghiên cứu và báo cáo trước hội đồng khoa học
* Giai đoạn 2. Từ tháng 08/2010 đến 12/2010
- Giải quyết nhiệm vụ 1.
+ Đánh giá thực trạng sức bền của nam sinh viên môn bóng chuyền
trường Đại học Tây Bắc.
- Giải quyết một phần nhiệm vụ 2.
+ Lựa chọn một số bài tập phát triển sức bền chuyên môn làm cơ sở
cho thực nghiệm sư phạm.
* Giai đoạn 3 Từ tháng 12/2010 đến 8/2011
- Giải quyết phần còn lại của nhiệm vụ 2
- Giải quyết nhiệm vụ 3, tiến hành thực nghiệm sư phạm.
- Hình thành kết cấu luận văn, viết hoàn chỉnh luận văn và bảo vệ luận
văn trước hội đồng khoa học.
5.6.2. Địa điểm nghiên cứu
- Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội.
- Trường Đại học Tây Bắc.

12

Gần đây, nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII
năm 1996 đã khẳng định: “ Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công
nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu ”.[15]
Để khẳng định vai trò tất yếu của TDTT đối với toàn xã hội, cũng như
nhằm thúc đẩy nhanh, mạnh hơn nữa phong trào TDTT quần chúng và phong
trào GDTC học đường, Đảng ta luôn có những chỉ thị, nghị quyết kịp thời, đề
ra những chủ trương đường lối đẩy mạnh tiến trình phát triển. Qua từng giai
đoạn cách mạng, tương ứng với những yêu cầu, tình hình và nhiệm vụ cụ thể,
Đảng ta ban hành các chỉ thị như.
- Chỉ thị 112/CT ngày 09/05/1989 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ
tướng Chính phủ) về công tác TDTT trong những năm trước mắt có ghi: “
Đối với học sinh, sinh viên, trước hết nhà trường phải thực hiện nghiêm túc
việc dạy và học môn TDTT theo chương trình quy định, có biện pháp tổ chức,
hướng dẫn các hình thức tập luyện và hoạt động thể thao tự nguyện ngoài giờ
học ”.[3]
- Chỉ thị 36/CT-TW ngày 24/03/1994 về công tác TDTT trong giai
đoạn mới đã nêu rõ: “ Cải tiến chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện
thân thể, đào tạo giáo viên TDTT cho trường học các cấp, tạo những điều
kiện cần thiết về cơ sở vật chất để thực hiện chế độ GDTC bắt buộc ở tất cả
các trường học ”.[2]
- Cũng trong năm 1996, Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị 133/TTg ngày
07/03/1996, về việc xây dựng và quy hoạch phát triển ngành TDTT, về
GDTC trường học đã ghi rõ: “ Bộ Giáo dục - Đào tạo cần đặc biệt coi trọng
việc GDTC trong nhà trường, cải tiến nội dung giảng dạy TDTT nội khoá,
ngoại khoá, quy định tiêu chuẩn về rèn luyện thân thể cho học sinh các cấp
học, có quy chế bắt buộc đối với các trường ”.[4]
Vì vậy, GDTC trường học là bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục -
đào tạo và thể dục ngành nghề là một mặt quan trọng trong hệ thống GDTC


lực con người. Đặc trưng của GDTC là dạy học động tác (Giáo dưỡng thể
chất) và giáo dục các tố chất thể lực.[25]
- Khái niệm về bài tập thể chất.

Để đạt hiệu quả của giáo dục thể chất người ta sử dụng nhiều phương
tiện giáo dục thể chất. Các phương tiện này bao gồm các bài tập thể chất (còn
gọi là bài tập TDTT), các yếu tố của tự nhiên, môi trường như nước, ánh nắng
mặt trời, khí hậu, thời tiết, các yếu tố vệ sinh Trong đó bài tập thể chất được
coi là phương tiện chủ yếu và chuyên biệt của giáo dục thể chất.
Bài tập thể chất là hoạt động vận động được lựa chọn nhằm giải quyết
các nhiệm vụ giáo dục thể chất.[25].
Là phương tiện giáo dục thể chất, bài tập thể chất được thực hiện bằng sự
vận động cơ bắp một cách tích cực. Nói cách khác, bài tập thể chất là sự vận
động tích cực của cơ thể con người, phù hợp với qui luật giáo dục thể chất.
- Khái niệm sức bền: Là năng lực làm việc thời gian dài mà không suy
giảm hiệu quả công việc ( nói cách khác - năng lực chống mệt mỏi). Có 2 loại
sức bền.[25]
+ Sức bền chung. Là năng lực con người đối với hoạt động thể lực thời
gian dài với cường độ thể lực vừa phải với sự tham gia của phần lớn hệ cơ.
+ Sức bền chuyên môn: Đó là khả năng con người thực hiện các loại
hình công việc riêng, bất chấp sự tăng trưởng mệt mỏi. Ví dụ; Sức bền mạnh,
sức bền tốc độ, sức bền phối hợp vận động, sức bền trong các môn thể
thao.[25]
1.3. Đặc trưng của Bóng chuyền hiện đại
Nghiên cứu đặc trưng các môn thể thao có ý nghĩa quyết định tới việc
định hướng phát triển, lựa chọn nội dung, hình thức, phương pháp huấn luyện
môn thể thao đó để bồi dưỡng, đào tạo được người tài thi đấu thể thao phù
hợp yêu cầu phát triển của nó.
15

nhau trên sân để tìm cách thay đổi hình thái vận động như: biến tốc, biến tầm,
biến vị trí, biến lực, biến đường, biến hình tay, biến đổi động tác.
Biến do năng lực thần kinh linh hoạt và trữ lượng kỹ năng, kỹ xảo
phong phù được hình thành, tích luỹ qua huấn luyện. Biến và nhanh kiết hợp
chặt chẽ với nhau và là cơ sở tác động lẫn nhau phát triển; trong nhanh có
biến, muốn biến phải có nhanh. Qua đó thấy việc yêu cầu vận động viên Bóng
chuyền phải có năng lực sáng tạo ở mức cao đồng thời phải phát triển toàn
diện các tố chất thể lực thành phần của vận động viên Bóng chuyền.
1.4. Sức bền và sức bền trong bóng chuyền
1.4.1. Quan điểm về sức bền
Quan điểm về sức bền trong các tài liệu, sách báo có những thể hiện và
nhìn nhận khác nhau. Qua phân tích và tổng hợp tài liệu chúng tôi thấy có một
số cách tiếp cận sau:
Theo tác giả D. Harre: "Sức bền được hiểu là khả năng chống lại sự
mệt mỏi của VĐV. Sức bền đảm bảo cho VĐV đạt được một cường độ nhất
định (tốc độ, dùng lực, nhịp độ thi đấu, sử dụng sức lực) trong thời gian vận
động kéo dài của thi đấu tương ứng khả năng huấn luyện mình. Sức bền còn
đảm bảo chất lượng động tác và giải quyết hoàn hảo các hành vi kỹ - chiến
thuật tới cuộc thi đấu và vượt qua một khối lượng vận động lớn trong luyện
tập" . Theo tác giả D.Harre: "Sức bền là nhân tố xác định ảnh hưởng lớn đến
thành tích thi đấu và là nhân tố xác định thành tích tập luyện, khả năng chịu
đựng lượng vận động (LVĐ) của VĐV" [7].
Theo tác giả Diên Phong: "Tố chất sức bền chỉ là năng lực của cơ thể
khắc phục mệt mỏi sản sinh trong quá trình hoạt động "[20]
Ông cho rằng, sức bền là năng lực đa nhân tố, ngoài cấu trúc tổ chức cơ
thể ảnh hưởng đến sức bền ra nó còn có những nhân tố ảnh hưởng khác như:
17

Đặc trưng tâm lý VĐV, năng lực chức năng trao đổi và thu năng lượng khi cơ
thể vận động, tính ổn định chức năng cơ thể, sự tiết kiệm chức năng cơ thể…

+ Kỹ thuật thể thao hợp lý.
+ Năng lực duy trì trong thời gian dài trạng thái hưng phấn của các
trung tâm thần kinh.
+ Khả năng hoạt động cao của hệ tuần hoàn và hô hấp.
18

+ Tính tiết kiệm của các quá trình trao đổi chất.
+ Cơ chế có nguồn năng lực lớn.
+ Sự phối hợp hài hoà trong hoạt động của các chức năng sinh lý.
+ Khả năng chịu đựng chống lại cảm giác mệt mỏi nhờ những nổ lực ý chí.
Mặt khác việc nâng cao sức bền thực chất là quá trình làm cho cơ thể
thích nghi dần dần với LVĐ ngày càng lớn, đòi hỏi người tập phải có ý chí
kiên trì, chịu đựng những cảm giác mệt mỏi đôi khi rất nặng nề và cảm giác
nhàn chán do tính đơn điệu của tài tập [23].
Theo các tác giả và A.D Novicốp - L.P Mátvêép: Sức bền là năng lực
chống lại mệt mỏi. Hiện tượng mệt mỏi trong những hoạt động với LVĐ khác
nhau là không giống nhau. Nói một cách khác khi giáo dục sức bền không
phải chỉ chú ý đến chiều sâu của sự mệt mỏi mà cả tính chất của nó nữa [16].
Như vậy huấn luyện sức bền LVĐ được xác định đầy đủ nhờ 5 nhân tố sau:
- Cường độ bài tập
- Thời gian của bài tập
- Thời gian nghỉ giữa quãng
- Tính chất nghỉ ngơi
5 - Số lần lặp lại.
Tóm lại: Sức bền là năng lực thực hiện một hoạt động với cường độ cho
trước hay năng lực duy trì khả năng vận động trong thời gian dài nhất mà cơ
thể chịu đựng được.
Đối với môn Bóng chuyền thời gian thi đấu tương đối dài (thời gian
một trận đấu kéo dài ước chừng vài tiếng đồng hồ) do vậy mà trong huấn
luyện LVĐ của bài tập với cường độ rất cao và trong thời gian tương đối dài

1.4.2. Phân loại sức bền
Việc phân loại sức bền có rất nhiều quan điểm khác nhau, mỗi một
trường phái khác nhau lại căn cứ vào đặc điểm khác nhau để phân loại. Qua
phân tích và nghiên cứu tài liệu chúng tôi thấy có một số cách phân loại sức
bền như nhau:
Căn cứ vào thời gian hoạt động chia sức bền ra thành:
20

- Sức bền trong thời gian dài (trên 11'): Thành tích phụ thuộc vào khả
năng hoạt động ưa khí.
- Sức bền trong thời gian trung bình (2' - 11'): Thành tích phụ thuộc vào
yếm khí lẫn ưa khí
- Sức bền trong thời gian ngắn (45" - 2'): Thành tích phụ thuộc vào khả
năng hoạt động yếm khí và sự phát triển sức mạnh - bền và sức nhanh bền [23].
Trong sinh lý TDTT căn cứ vào hệ cung cấp năng lượng người ta chia
sức bền ra 2 loại.
- Sức bền ưa khí: Là khả năng hoạt động lâu dài của cơ thể trong điều
kiện sử dụng nguồn năng lượng thông qua quá trình ôxy hoá hợp chất hữu cơ
giàu năng lượng trong cơ thể.
- Sức bền yếm khí: Là khả năng hoạt động lâu dài của cơ thể trong điều
kiện dựa vào các nguồn cung cấp năng lượng yếm khí (các phản ứng giải
phóng năng lượng không có sự tham gia của O
2
) [10].
Sức bền ưa khí và sức bền yếm khí được coi là bộ phận chính của
chương trình huấn luyện đối với VĐV Bóng chuyền.
- Theo lý luận và phương pháp GDTC căn cứ vào số lượng các nhóm
cơ tham gia hoạt động, phân chia thành 3 loại.
+ Sức bền cục bộ: Là sức bền có dưới 1/3 khối lượng cơ quan tham gia
hoạt động.

- Sức bền là một tố chất thể lực, là năng lực chống lại mệt mỏi trong
hoạt động vận động, sức bền phụ thuộc vào các yếu tố sau.
+ Năng lực hoạt động của hệ thống tim mạch.
+ Quá trình trao đổi chất.
+ Sự tiết kiệm hóa trong vận động (khả năng thả lỏng, kỹ thuật hoàn hảo).
+ Các phẩm chất tâm lý chuyên môn.
22

Sức bền phát triển tốt là tiền đề quan trọng để con người có thể sẵn
sàng lao động, học tập với năng xuất cao, đồng thời hình thành những phẩm
chất tốt đẹp như; tính kiên trì, tinh thần bền bỉ, ý chí quyết tâm
Tập luyện sức bền sẽ nâng cao khả năng làm việc của cơ thể, đặc biệt là
hệ thống tuần hoàn, hô hấp và hệ thống vận động.
Trong thể thao, sức bền là yếu tố quyết định đến thành tích thi đấu, sức
bền phát triển tốt sẽ nâng cao khả năng chịu đựng lượng vận động tập luyện
và là tiền đề quan trọng để người tập có thể hồi phục nhanh chóng sau quá
trình tập luyện và thi đấu.
Dựa trên những yêu cầu cụ thể của thi đấu thể thao người ta chia sức
bền thành sức bền cơ sở và sức bền chuyên môn.
+ Sức bền cơ sở là năng lực chống lại mệt mỏi trong hoạt động vận
động kéo dài với cường độ trong vùng năng lượng có oxi. Cơ sở sinh lý của
năng lực sức bền này là sự “ tiết kiệm hóa” trong hoạt động của các chức
năng cơ thể ( tuần hoàn, hô hấp, trao đổi chất) và sự thuần thục kỹ thuật.
Phát triển sức bền cơ sở trước hết phải nâng cao năng lực hấp thụ oxi
và các năng lực chuyển hóa oxi cũng như các phát triển các phẩm chất tâm lý
chuyên môn.
+ Sức bền chuyên môn là năng lực của vận động viên nhằm chống lại
mệt mỏi trong hoạt động của môn thể thao chuyên sâu.
Trong các môn thể thao có chu kỳ, căn cứ vào yêu cầu thi đấu (thời
gian thi đấu) người ta chia sức bền chuyên môn thành bốn loại: sức bền tốc độ,

thường sử dụng các bài tập phát triển sức nhanh được lặp lại nhiều lần, các
bài tập chạy có đổi hướng, các bài tập phối hợp kỹ thuật với di động có lăn
ngã cứu bóng để phát triển sức bền tốc độ. Thời gian để duy trì một lần tập
khoảng 20 - 30 giây, lặp lại từ 6 - 10 lần trong một nội dung tập. Có thể đưa
ra một số bài tập mẫu để phát triển sức bần tốc độ như.
24

- Chạy zíc zắc nhiều lần từ vạch biên ngang tới vạch giới hạn tấn công
- Di động chắn bóng nhiều lần dọc theo lưới.
- Bật nhảy đập, chắn bóng, khi rơi xuống thực hiện ngã lộn sau qua vai,
sau đó lặp lại 2 - 4 lần.
- Di động kết hợp lăn ngã theo tín hiệu của giáo viên.
- Đập bóng nhiều lần do giáo viên tung ở các vị trí khác nhau (4, 3, 2).
- Các bài tập phát triển sức bền tốc độ lên thực hiện ở cuối các buổi tập.
1.4.3.2. Sức bền bật
Sức bền bật là khả năng duy trì các hoạt động bật nhảy nhiều lần với sự
nỗ lực co cơ cao nhất. ví dụ: Bật nhảy đập bóng, chắn bóng và chuyền hai. Sự
nỗ lực cơ bắp ở mức độ tối đa trên lền mệt mỏi đòi hỏi cầu thủ bóng chuyền
phải có phẩm chất ý trí cao và được rèn luyện thường xuyên trong điều kiện
tập luyện và thi đấu căng thẳng. Người ta có thể sử dụng các bài tập với trọng
lượng phụ nhỏ để tập bật nhảy như: Bao cát, bao trì, tạ gánh 25 - 30 kg để
phát triển sức bền bật. Thời gian cho mỗi lần tập từ 1 - 3 phút, tùy thuộc vào
bài tập. cường độ tối đa liên tục không có nghỉ giữa các lần bật nhảy (khi chân
chạm đất là bật ngay), lặp lại từ 5 - 8 lần, quãng nghỉ từ 1 - 4 phút.
Có thể sử dụng các bài tập mẫu sau:
- Bật nhảy ở hố cát liên tục từ 25 - 30 lần.
- Bật chắn liên tục có đeo bao trì hoặc cát từ 3 - 5 kg.
- Gánh tạ từ 20 - 25 kg.
- Bật nhảy liên tục ở tư thế ngồi xổm (góc độ gập gối không nhỏ hơn 90
0

Trong quá trình tập luyện TDTT, tất cả các tố chất thể lực đều được phát
triển. Sự hoàn thiện của tố chất vận động này bao giờ cũng kèm theo sự hoàn
thiện tố chất vận động khác. Trong đó các bài tập nhằm phát triển sức bền có tác
dụng rõ rệt nhất đối với các tố chất khác. Vì vậy, các bài tập phát triển sức bền
chung được coi là bài tập cơ sở để phát triển các tố chất khác và nâng cao khả
năng vận động chung. Tuy nhiên sự hoàn thiện của tố chất sức bền nói chung và
sức bền chuyên môn nói riêng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố.

Trích đoạn Mức độ quan tõm của giảng viờn mụn búng chuyền tới việc sử Thực trạng việc sử dụng bài tập phỏt triển sức bền chuyờn mụn Nghiờn cứu lựa chọn cỏc bài tập phỏt triển sức bền chuyờn mụn Kết quả kiểm tra sức bền chuyờn mụn của hai nhúm trước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status