Lựa chọn hệ thống bài tập phát triển sức bền tốc độ cho nam sinh viên chuyên sâu bóng rổ năm thứ nhất trường đại học SP TDTT hà nội - Pdf 31

1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Thể dục thể thao là một bộ phận của nền văn hoá của mỗi dân tộc cũng
như văn minh nhân loại. Tập luyện TDTT quần chúng cũng như học tập và thi
đấu thể hiện trình độ vận động cao, đã trở thành nhu cầu của đông đảo quần
chúng. Các hoạt động đó không chỉ là những hình thức nghỉ ngơi, giải trí mà
còn nhằm nâng cao sức khoẻ để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Là một bộ phận của sự nghiệp cách mạng, các trường Đại học, Cao
đẳng thể dục thể thao đã đề ra nhiệm vụ chiến lược của mình nhằm phục vụ
mục tiêu chung của đất nước trong tình hình mới. Việc nâng cao chất lượng
đào tạo là nhiệm vụ trọng tâm, với những biện pháp và cách thức khác nhau
như áp dụng quy trình đào tạo mới cải tiến chương trình, nội dung giảng dạy,
trang thiết bị hiện đại hóa dụng cụ tập luyện, cơ sở vật chất và phòng thí
nhiệm, tổ chức biên soạn chương trình giáo dục, tài liệu, sách giáo khoa... tạo
ra sản phẩm ra đào tạo có chất lượng cao, đáp ứng tốt với nhu cầu đổi mới và
phát triển của xã hội.
Trường Đại học sư phạm thể dục thể thao Hà Nội là nơi đào tạo giáo
viên giáo dục thể chất cho phổ thông các cấp. Mục tiêu đào tạo của nhà
trường là đào tạo một cách toàn diện các môn và khá giỏi một môn. Để thực
hiện mục tiêu đó ngay trong quá trình học tập trên ghế nhà trường công tác
tập luyện kết hợp chặt chẽ, đồng bộ với kiểm tra đánh giá tri thức kỹ năng và
trình độ thể lực của sinh viên luôn là bộ phận không thể tách rời và rất quan
trọng trong quá trình dạy học, nó có ảnh hưởng sâu sắc đến sự hoàn thiện và
phát triển nhân cách, thậm trí còn tác động quyết định đối với tương lai của
sinh viên.
Nhiệm vụ của huấn luyện thể lực là nhằm phát triển song song giữa thể
lực chung và thể lực chuyên môn cho các vận động viên.Tức là nhằm hình
thành sự phát triển đồng đều các tố chất: Nhanh, mạnh, bền, khéo léo, khả
năng phối hợp vận động. Để phát triển các tố chất vận động trên đòi hỏi người

- Nguyễn Hữu Thắng (1998) với đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng phương
pháp rèn luyện sức bền cho đơn vị bộ binh sau giai đoạn huấn luyện tân binh”.
- Phạm Đông Đức (1998) với đề tài “Nghiên cứu lựa chọn một số bài
tập sức bền cho VĐV vật tự do Việt Nam”.


3
- Phạm Văn Thảo (1999) với đề tài "Nghiên cứu lựa chọn chỉ tiêu và
xây dựng chỉ tiêu tuyển chọn ban đầu cho vận động viên Bóng rổ nữ ở Việt
Nam lứa tuổi 12-14”.
- Nguyễn Hải Đường ( 2009) với đề tài: “ Lựa chọn hệ thống bài tập
nhằm phát triển sức mạnh tốc độ cho sinh viên chuyên sâu bóng rổ trường
đại học TDTT Đà Nẵng”.
Tuy nhiên cho đến nay, ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về việc
ứng dụng hệ thống các test, các bài tập chuyên môn nhằm phát triển tố chất thể
lực chuyên môn cho sinh viên chuyên sâu Bóng rổ chuyên ngành sư phạm giáo
dục thể chất còn đang rất hạn chế, đặc biệt là chưa có một công trình nghiên
cứu nào đề cập đến việc ứng dụng hệ thống các test, các bài tập chuyên môn
nhằm phát triển sức bền tốc độ cho nam sinh viên chuyên sâu Bóng rổ.
Qua thực tế giảng dạy chúng tôi thấy rằng, ứng dụng hệ thống các
phương tiện, phương pháp cũng như các bài tập chuyên môn trong công tác
huấn luyện nhằm phát triển các tố chất thể lực chuyên môn nói chung và phát
triển tố chất sức bền tốc độ cho sinh viên chuyên sâu Bóng rổ Trường Đại học
sư phạm TDTT Hà Nội nói riêng mới chỉ là bước đầu. Để đem lại hiệu quả
cao trong công tác đào tạo - huấn luyện, các phương tiện này cần thiết phải
được ứng dụng nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp kỹ - chiến thuật, đặc biệt là
việc phát triển tố chất sức bền tốc độ cho nam sinh viên chuyên sâu Bóng rổ
năm thứ nhất trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội. Mặt khác, do yêu cầu
và đặc thù chuyên môn của công tác đào tạo sinh viên chuyên ngành sư phạm
GDTC, bước vào năm thứ nhất của học chuyên sâu là sinh viên đã trải qua

viên Bóng rổ có kinh nghiệm nhằm lựa chọn hệ thống bài tập phát triển sức
bền tốc độ cho đối tượng nghiên cứu.
- Mục tiêu 2: Đánh giá hiệu quả hệ thống bài tập phát triển sức bền
tốc độ cho nam sinh viên chuyên sâu Bóng rổ năm thứ nhất Trường Đại học
sư phạm TDTT Hà Nội.
Ứng dụng và kiểm nghiệm hiệu quả hệ thống bài tập chuyên môn phù
hợp với điều kiện thực tiễn trong huấn luyện sức bền tốc độ cho nam sinh
viên chuyên sâu Bóng rổ trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội.
4. Giả thuyết khoa học.
Sau quá trình nghiên cứu, hệ thống bào tập mà chúng tôi đưa ra nhằm
phát triển sức bền tốc độ cho nam sinh viên chuyên sau bóng rổ Trường Đại
học sư phạm TDTT Hà Nội sẽ có hiệu quả thiết thực, nhằm nâng cao năng lực
sức bền cho sinh viên chuyên sâu bóng rổ năm thứ nhất.


5

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Cơ sở lý luận của đề tài.
1.1. Nhiệm vụ GDTC trong trường Đại học và Cao đẳng chuyên nghiệp.
Đảng và nhà nước luôn luôn nhất quán về mục tiêu công tác GDTC và
thể dục thể thao trường học là nhằm góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo đội
ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế và văn hoá xã hội, phát triển hài
hoà, có thể chất cường tráng, đáp ứng yêu cầu chuyên môn, nghề nghiệp và có
khả năng tiếp cận với thực tiễn lao động sản xuất của nền kinh tế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Căn cứ vào mục tiêu trên, GDTC và thể dục thể thao trường học phải
giải quyết 3 nhiệm vụ:
- Góp phần giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa, rèn luyện tinh thần tập
thể, ý thức tổ chức kỷ luật, xây dựng niềm tin, lối sống tích cực lành mạnh,

thể vượt qua khoảng không gian trên sân, lọt qua cả một tập thể đối phương
gồm 5 người để kết thúc ném rổ thành công và có đủ sức phòng thủ trước sức
tấn công của toàn đội đối phương. Điều này cho thấy sức mạnh của đội bóng
trước hết là tính tập thể của đội bóng đó. Số lượng VĐV của một đội bóng rổ
không nhiều nên sức mạnh hiệp đồng phải lớn và phải biết phát huy điểm
mạnh cũng như phải biết khắc phục điểm yếu của đội.
Với trình độ kỹ chiến thuật phát triển nhanh và đạt tới trình độ cao như
ngày nay thì đòi hỏi tính tập thể lại càng cao. Khi bị đối phương tấn công hầu
như toàn đội rút về liên kết phòng thủ và khi tấn công thì toàn đội cùng tham
gia phối hợp tạo sức mạnh, tăng cường sức uy về số lượng tận dụng những
khoảng trống của đối phương kết thúc ném rổ chính xác.
Khi thi đấu bóng rổ cầu thủ hai đội được tràn sang sân đối phương để
tranh giành bóng một cách hợp lệ, nên sự đối kháng mang tính chất trực tiếp,
các VĐV của hai đội đều phải quyết tâm thi đấu giành chiến thắng trong từng
pha bóng, tạo ra từng cơ hội thuận lợi nhỏ nhất cho đội mình. Bên cạnh ý chí
quyết tâm của toàn đội giành phần chiến thắng, từng VĐV cũng có cuộc đối
kháng riêng với VĐV đối phương. Nhìn chung khi tham gia các pha tấn công
các VĐV thường di chuyển mọi cách thoát khỏi sự truy cản và kèm sát của
đối phương để tìm khoảng chống nhằm phối hợp với đồng đội kết thúc ném rổ


7
thành công. Tuy nhiên khi bị tấn cống thì toàn đội di chuyển phòng thủ theo
vị trí và kèm sát VĐV đã được phân công tạo ra tuyến phòng thủ vững chắc
nhằm vô hiệu hóa sự nguy hiểm của đối phương. Trong suốt thời gian thi đấu
cuộc chiến gay go giữa các VĐV của hai đội diễn ra liên tục với mật độ cao
và chỉ dừng lại khi tiếng còi của trọng tài kết thúc trận đấu.
* Bóng rổ là môn thể thao có tính nghệ thuật cao.
Bóng rổ là môn thể thao mà các VĐV trên sân dùng tay chơi bóng, việc
sử dụng khéo léo đôi bàn tay để dẫn bóng, chuyền bóng và ném rổ các vận

5500m. Tổng số đợt bứt phá trong tấn công và từ tấn công sang phòng thủ lên
đến hàng 100 đến 120 lần. Di chuyển với tốc cao kết hợp thực hiện với các kỹ
- chiến thuật, di chuyển, chuyền bắt bóng và ném rổ đòi hỏi các vận động viên
phải có trình độ thể lực và trình độ kỹ thuật hoàn hảo mới mang lại hiệu quả
cao trong thi đấu.
Tóm lại: Bóng rổ là môn thể thao có đặc điểm hoạt động vô cùng đa dạng
và phức tạp. Vì vậy, đòi hỏi vận động viên bóng rổ phải có trình độ kỹ - chiến
thuật và một nền tảng thể lực thể lực vững chắc thì mới có thể đáp ứng được với
lượng vận động trong thi đấu và ý đồ chiến thuật của huấn luyện viên.
1.2.2. Tác dụng của môn bóng rổ.
Là môn thể thao ra đời từ rất sớm( năm 1890) tại Mỹ và nhanh chóng
lan truyền rộng ra khắp châu lục. Cũng như bất kỳ môn thể thao nào khác, tập
luyện và thi đấu kích thích sự phát triển của các khả năng vận động của con
người và điều đặc biệt ở môn bóng rổ có tác dụng phát triển toàn diện các tố
chất thể lực. Trong toàn bộ các động tác và những tình huống thi đấu trên sân
đều cho bộc lộ rõ các tố chất như sức nhanh, sự khéo léo trong các pha phản
công kết thúc ném rổ, sức mạnh trong tình huống tranh cướp bóng dưới rổ và
sức bền trong quá trình thi đấu liên tục di chuyển tấn công rồi chuyển sang
phòng thủ.
Do đặc điểm thi đấu của bóng rổ là hoạt động tập thể, đối kháng trực
tiếp cao nên ngoài tác dụng nói trên nó còn có tác dụng nâng cao lòng dũng
cảm, tinh thần phối hợp giữa đồng đội, tính kỷ luật, tính quyết đoán trong
từng tình huống cụ thể, năng lực tư duy về kỹ - chiến thuật và những phẩm
chất tâm lý tốt đẹp khác.


9
Với đặc thù hoạt động của môn bóng rổ có tính chất thay đổi cường độ
vận động thường xuyên, các động tác phong phú, đa dạng, tính gay cấn
thường xuyên xảy ra trong các tình huống thi đấu nên có thể luôn chịu các

động trong cùng một vùng công suất có cơ chế mệt mỏi (cơ chế sức bền)
tương tự nhau. Còn ở các hoạt động thuộc trong vùng công suất khác nhau thì
cơ chế mệt mỏi cũng sẽ hoàn toàn khác nhau.
Theo quan điểm dưới góc độ sinh hoá, tác giả Kirlôp A.A cho rằng:
Sức bền thể hiện dưới dạng kéo dài thời gian hoạt động ở một cường độ nhất
định đến khi xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên của mệt mỏi, cũng như giảm
khả năng hoạt động khi bắt đầu mệt mỏi và cuối cùng dẫn đến sự ngừng vận
động [24]
Sức bền được xác định bởi tỷ số dự trữ các chất năng lượng được sử
dụng với tốc độ tiêu hao năng lượng khi thực hiện bài tập đã định:

Søc bÒn (tng, phót)=
Trong đó:

Dù tr÷ n¨ng l­îng (J)
Tèc ®é tiªu hao n¨ng l­îng (J/phót)

tng - ngưỡng thời gian.

Theo quan điểm của tác giả Lưu Quang Hiệp dưới góc độ sinh lý học
cho thấy: Sức bền đặc trưng cho khả năng thực hiện các hoạt động thể lực kéo
dài liên tục từ 2 - 3 phút trở lên với sự tham gia của một khối lượng cơ bắp
lớn (từ ½ đến toàn bộ lượng cơ bắp cơ thể) nhờ sự hấp thụ oxy để cung cấp
năng lượng cho cơ thể chủ yếu bằng con đường ưa khí [28]
Nguồn năng lượng chính cho sự co cơ trong vận động là 3 hệ:
- Hệ phốt phogen (ATP - CP)
- Hệ láctác.
- Hệ oxy hoá.
Trong đó hệ phốtphogen và hệ láctác là hệ yếm khí, còn hệ oxy hoá là
hệ ưa khí. Như vậy việc vận dụng các phương pháp đều tập trung vào việc

+ Cơ bắp có khả năng trao đổi chất ở điều kiện hàm lượng oxy cao.
+ Hệ vận chuyển oxy (hô hấp, máu, tuần hoàn) thích nghi với vận động
nhanh hơn.
+ Tỷ lệ các sợi cơ chậm cao và cơ tim phát triển.
+ Lương máu tuần hoàn tăng làm pha loãng axit lactic chứa trong máu,
vì vậy axit lactic trong máu giảm xuống.


12
Như vậy là tập luyện sức bền không chỉ làm tăng khả năng hấp thụ oxy
tối đa, mà còn làm giảm hàm lượng axit lactic trong máu và như vậy làm tăng
khả năng hoạt động ưa khí kéo dài của cơ thể. Đó là một trong những cơ chế
quan trọng nhất để nâng cao sức bền của VĐV.
- Hệ tim - mạch: Tập luyện sức bền lâu dài làm cho tim biến đổi theo
hai hướng: Giãn buồng tim và phì đại cơ tim. Giãn buồng tim làm cho lượng
máu chứa trong các buồng tim tăng lên. Đó là yếu tố quan trọng để tăng thể
tích tâm thu khi cần thiết. Phì đại cơ tim làm tăng lực bóp của tim, tức là làm
tăng thể tích tâm thu.
Về mặt chức năng, tập luyện sức bền làm giảm tần số co bóp của tim
khi yên tĩnh. Do đó tim hoạt động kinh tế, ít tiêu hao năng lượng và có thời
gian nghỉ dài hơn. Thể tích tâm thu tối đa của VĐV sức bền lên đến 190 210ml, trong khi người bình thường không quá 130ml.
- Hệ cơ: Sức bền của VĐV phụ thuộc một phần đáng kể vào đặc điểm
cấu tạo và hoá sinh của cơ.
Tỷ lệ các sợi cơ chậm (nhóm i) của VĐV sức bền trong cơ rất cao.
Giữa tỷ lệ sợi cơ chậm và VO2max có mối liên quan chặt chẽ (tỷ lệ thuận) với
nhau. Song tập luyện sức bền có thể làm tăng tỷ lệ sợi cơ nhanh II-A và giảm
tỷ lệ sợi cơ nhanh nhóm II-B.
Tập luyện sức bền còn làm cho cơ phì đại theo kiểu phì đại cơ tương.
Ty lạp thể và số lượng các men trong cơ đều tăng lên. Điều đó làm cho khả
năng hấp thụ oxy của cơ cũng tăng lên.

- Cơ chế có nguồn năng lượng lớn.
- Sự phối hợp hài hoà trong hoạt động của các chức năng sinh lý.
- Khả năng chịu đựng chống lại cảm giác mệt mỏi nhờ sự nỗ lực ý chí.
Mặt khác, việc nâng cao sức bền thực chất là quá trình làm cho cơ thể
thích nghi dần dần với lượng vận động ngày càng lớn, đòi hỏi người tập phải
có ý chí kiên trì, chịu đựng những cảm giác mệt mỏi đôi khi rất nặng nề và
cảm giác nhàm chán do tính đơn điệu của bài tập.
Theo các tác giả Nabatnhicova M.ia và Ozolin M.G cho rằng: Sức bền là
năng lực chống lại mệt mỏi. Hiện tượng của mệt mỏi trong những hoạt động
với lượng vận động khác nhau là không giống nhau. Nói một cách khác, khi


14
giáo dục sức bền không phải chỉ chú ý đến chiều sâu của sự mệt mỏi mà cả tính
chất của nó nữa.
Như vậy, huấn luyện sức bền lượng vận động phải được xác định đầy
đủ 5 nhân tố sau:
1. Cường độ bài tập.
2. Thời gian của bài tập.
3. Thời gian nghỉ giữa quãng.
4. Tính chất nghỉ ngơi.
5. Số lần lặp lại.
Theo tác giả Nguyễn Toán cho thấy: Sức bền là khả năng chống lại mệt
mỏi và duy trì hoạt động kéo dài của VĐV. Tác giả cho rằng sức bền có ý
nghĩa trong việc xác định thành tích thi đấu, đánh giá kết quả huấn luyện và
khả năng chịu đựng lượng vận động, khả năng phục hồi nhanh chóng của
VĐV.
Theo tác giả Phạm Ngọc Viễn thì: “Sức bền là một mặt ý thức của
VĐV, phản ánh tổng hợp độ lớn về thời gian của sự nỗ lực cơ bắp và ý chí
của VĐV được thể hiện khi hoạt động kéo dài”.

thể thao. Sức bền phát triển tốt sẽ nâng cao khả năng chịu đựng lượng vận
động tập luyện và là tiền đề quan trọng để người tập có thể hồi phục nhanh
chóng sau quá trình tập luyện và thi đấu.
Việc phân loại sức bền có rất nhiều quan điểm khác nhau, mỗi một
trường phái khác nhau lại căn cứ vào yêu cầu, đặc điểm khác nhau để phân
loại. Qua phân tích và nghiên cứu tài liệu chúng tôi thấy có một số cách phân
loại như sau:
- Sức bền cơ sở: Là một dạng sức bền, là năng lực cử VĐV nhằm
chống lại mệt mỏi trong hoạt động vận động kéo dài, trong đó không có sự
tham gia của quá trình trao đổi chất yếm khí.
Cơ sở sinh lý của năng lực sức bền này là sự “tiết kiệm hoá” trong hoạt
động của các chức năng cơ thể (tuần hoàn, hô hấp, trao đổi chất) và sự thuần
thục kĩ thuật.
Phát triển sức bền cơ sở trước hết phải nâng cao khả năng hấp thụ oxy
và các năng lực chuyển hoá có oxy cũng như phải phát triển các phẩm chất
tâm lý chuyên môn.


16
Phát triển tốt sức bền cơ sở sẽ tạo nên nền tảng chức năng vững chắc
cho tất cả các môn thể thao sức bền và các môn thể thao có yêu cầu sức bền
như một yếu tố xác định thành tích.
- Sức bền chuyên môn: Là năng lực của VĐV nhằm chống lại mệt mỏi
khi thực hiện các yêu cầu chuyên môn của môn thể thao hoặc kĩ thuật thể thao
trong điều kiện thi đấu.
Dựa vào đặc điểm của từng môn thể thao, người ta phân sức bền
chuyên môn thành các loại như sau:
- Sức bền mạnh: Là năng lực của VĐV nhằm chống lại mệt mỏi khi
thực hiện các nhiệm vụ vận động kéo dài đòi hỏi sự tham gia của sức mạnh ở
mức độ cao.

gian ngắn, sức bền thời gian trung bình và sức bền thời gian dài) và sức bền
cơ sở.
Phát triển sức bền chuyên môn là trực tiếp phát triển các năng lực sức
bền thi đấu bằng các bài tập thi đấu trong điều kiện thi đấu hoặc gần giống thi
đấu với cường độ bằng hoặc xấp xỉ cường độ tối đa.
Phát triển sức bền cơ sở hướng vào việc nâng cao năng lực hoạt động
của hệ thống tuần hoàn, năng lực trao đổi oxy, sức bền của các nhóm cơ lớn
bằng các bài tập phát triển chung.
Căn cứ vào mục đích tập luyện có thể sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp kéo dài thời gian: Đặc điểm của phương pháp này là
thực hiện một lượng vận động kéo dài, liên tục, không có thời gian nghỉ.
Năng lực hấp thụ oxy được phát triển nhờ hai con đường hoặc là vận động
liên tục trong điều kiện có oxy, hoặc hoạt động trong thời gian dài với sự thay
đổi cường độ dẫn đến nhất thời phải hoạt động trong điều kiện không có oxy.
phương pháp kéo dài thời gian có 3 phương thức thực hiện dưới đây:
- Phương pháp liên tục: Phương pháp này có đặc điểm hoạt động trong
thời gian dài với tốc độ ổn định. Cường độ được xác định dễ dàng thông qua
tần số mạch đập. Tuỳ theo đặc điểm của môn thể thao và trình độ của người
tập giá trị này ở trong khoảng 140 - 170 lần/phút.
- Phương pháp biến đổi: Đặc điểm của phương pháp này là thực hiện
một lượng vận động kéo dài có sự biến đổi tốc độ theo một kế hoạch chặt chẽ.


18
Theo phương pháp này khi tăng tốc độ vận động sẽ làm cho cơ quan cơ thể
hoạt động căng thẳng và tạm thời phải làm việc trong điều kiện không có oxy.
Mạch đập có thể giao động trong khoảng 140 -150 lần/phút và 155 -170
lần/phút.
- Phương pháp Pharơlếch: Đặc điểm của phương pháp này là thực hiện
một lượng vận động kéo dài có sự thay đổi tốc độ theo hứng thú của người

- Hệ hô hấp: Đảm bảo việc trao đổi khí giữa không khí bên ngoài và
máu, tức là làm cho phân áp oxy trong máu động mạch được duy trì ở mức
cần thiết đẻ cung cấp cho cơ và các cơ quan.
Khi phát triển sức bền thì hệ hô hấp phải có những biến đổi cả về cấu
tạo và chức năng nhất định. Những biến đổi đó bao gồm:
+ Các thể tích khí của phổi tăng lên ( 10 – 20%)
+ Công suất và hiệu quả của hô hấp ngoài tăng lên.
+ Tăng cường khả năng khuếch tán của phổi.
- Hệ máu: Thể tích máu và hàm lượng hemoglobin quyết định khả năng
vận chuyển oxy của cơ thể. Tập luyện sức bền làm tăng lượng máu tuần hoàn.
Ở VĐV tập luyện các môn thể thao sức bền cao hơn VĐV các môn khác và
người bình thường khoảng 20%.Lượng máu tăng chủ yếu là do tăng thể tích
huyết tương, vì vậy độ nhớt của máu có xu hướng giảm đi.
Hàm lượng hemoglobin quyết định khả năng kết hợp oxy, tức là khả
năng vận chuyển chúng. Lượng hemoglobin ở người bình thường trong máu
khoảng 700 – 900g, trong khi VĐV tập luyện sức bền là 1000 – 1200g.
Axit lactic trong máu tỷ lệ nghịch với thời gian vận động và do các yếu
tố sau đây quyết định.
+ Cơ bắp có khả năng trao đổi chất ở điều kiện hàm lượng oxy cao.
+ Hệ vận chuyển oxy (hô hấp, máu, tuần hoàn ) thích nghi với vận
động nhanh hơn.
+ Tỷ lệ các sợi cơ chậm cao và cơ tim phát triển.
+ Lượng máu tuần hoàn tăng làm pha loãng axit lactic chứa trong máu,
vì vậy axit lactic trong máu giảm xuống.
Như vậy là tập luyện sức là tập luyện sức bền không chỉ làm tăng khả
năng hấp thụ oxy tối đa, mà còn làm giảm hàm lượng axit lactic trong máu và


20
như vậy làm tăng khả năng hoạt động ưa khí kéo dài của cơ thể. Đó là một


21
1.4.2. Cơ sở sinh lý của tố chất sức nhanh.
Sức nhanh ( tốc độ ) là khả năng thực hiện động tác trong khoảng thời
gian ngắn nhất.
Sức nhanh có thể biểu hiện ở dạng đơn giản và ở dạng phức tạp.
Dạng đơn giản của sức nhanh bao gồm: Thời gian phản ứng; Thời gian
của một động tác đơn lẻ; Tần số của hoạt động cục bộ.
Dạng phức tạp của sức nhanh là thời gian thực hiện các hoạt động thể
thao phức tạp khác nhau, như chạy 100m, tốc độ đấm trong quyền Anh, tốc
đọ dẫn bóng trong bóng đá...
Các dạng đơn giản của sức nhanh liên quan chặt chẽ với kết quả của
sức nhanh ở dạng phức tạp. Thời gian phản ứng, thời gian của một động tác
riêng lẻ hoặc tần số động tác cục bộ càng cao thì tốc độ thực hiện các hoạt
động phức tạp sẽ càng cao. Song các dạng biểu hiện sức nhanh đơn giản lại
phát triển tương đối độc lập với nhau. Thời gian phản ứng có thể rất tốt,
nhưng động tác đơn lẻ lại chậm hoặc tần số của động tác lại thấp. Vì vậy sưc
nhanh là tố chất tổng hợp của ba yếu tố cấu thành là thời gian phản ứng, thời
gian của động tác đơn lẻ và tần số hoạt động.
Yếu tố quyết định tốc độ của tất cả các dạng sức nhanh nêu trên là độ
linh hoạt của các quá trình thần và tốc độ co cơ.
Độ linh hoạt của quá trình thần kinh thể hiện ở khả năng biến đổi nhanh
chóng giữa hưng phấn và ức chế trong các trung tâm thần kinh. Ngoài ra, độ
linh hoạt thần kinh còn bao gồm cả tốc độ dẫn truyền xung động trong các
dây thần kinh ở ngoại vi, sự thay đổi nhanh giữa hưng phấn và ức chế làm cho
các nơron vận động có khả năng phát xung động với tần số cao và làm cho
đơn vị vận động thả lỏng nhanh, đó là các yếu tố tăng cường tốc độ và tần số
của động tác.
Tốc độ co cơ phụ thuộc trước tiên vào tỷ lệ sợi cơ nhanh và sợi cơ
chậm trong bó cơ. Các cơ có tỷ lệ sợi cơ nhanh cao, đặc biệt là sợi cơ nhóm II

ưa khí, yếm khí. Trong bóng rổ sức bền tốc độ là khi lặp đi lặp lại các cự ly
tốc độ với tần số lớn luôn gắn liền với điều kiện tập luyện và thi đấu.
Tố chất sức bền tốc độ tốt sẽ có điều kiện nâng cao năng lực đề kháng
mệt mỏi của cơ thể vận động viên, khiến cho khả năng thay đổi tiết tấu của


23
quá trình hưng phấn và ức chế của võ đại não nâng cao lên. Chức năng của hệ
thần kinh thực vật cũng được phát triển, năng lực dự trữ năng lượng cho cơ
thể được nâng cao. Tất cả sự biến hóa này về sinh lý và sinh háo sẽ là cơ sở
vật chất cần thiết cho sự phát truển các tố chất sức mạnh, tốc độ, linh hoạt,
đồng thời từ đó xúc tiến cho các tố chất này phát triển.
Bóng rổ là môn thể thao thi đối kháng trực tiếp đòi hỏi sự vận động
không ngừng, với khối lượng và tần suất lớn, các động tác kỹ thuật phức tạp,
có cường độ cao đua tranh quyết liệt trong một phạm vi không gian hẹp mật
độ sự va chạm vô cùng lớn. Chính vì vậy trong thi đấu sử dụng thường xuyên
và đa dạng các động tác di chuyển không bóng và có bóng như chạy biến tốc,
biến hướng, nhảy dừng nhanh, dẫn bóng tốc độ, đột phá qua người kết thúc
ném rổ đảm bảo độ chính xác cao... với mục đích tạo ưu thế chủ động cho
mình và đẩy đối phương vào thế bị động, trong khi đó không có nhiều thời
gian nghỉ giữa những lần di chuyển đó và hoạt động liên tục trong thời gian
mỗi hiệp đấu. Do đó muốn trở thành vận động viên bóng rổ giỏi ngoài việc có
kỹ thuật và nhãn quan chiến thuật tốt thì đòi hỏi phải có một nền tảng thể lực
chung và chuyên môn thật sung mãn. Bên cạnh các tố chất thể lực chuyên
môn thì tố chất sức bền tốc độ rất quan trọng trong bóng rổ. Ngày nay, bóng
rổ hiện đại đạt tới trình độ chuyên nghiệp thì tốc độ trận đấu diễn ra rất nhanh
khi có bóng thì cả đội tham gia tấn công, khi mất bóng thì cả đội phải di
chuyển nhanh chóng về phòng thủ trong khi đó tần suất giữa tấn công và
phòng thủ diễn ra liên tục trong suốt hiệp đấu. Chính vì điều này đòi hỏi các
vận động viên phải di chuyển liên tục và chạy nước rút nhiều lần để thực hiện

đòi hỏi thì hoạt động diễn ra trong điều kiện ổn định thực, trong vùng tốc độ
dưới tới hạn thì nhu cầu oxy tỷ lệ thuận với tốc độ di chuyển.
+ Tốc độ tới hạn: Là khi vận động viên di chuyển với tốc độ nhanh thì
dần sẽ đạt mức độ tới hạn khi có nhu cầu oxy sẽ đạt tới mức bằng khả năng ưa
khí ( khả năng hấp thụ oxy tối đa của cơ thể)
+ Tốc độ trên tới hạn: Là tốc độ di chuyển có nhu cầu oxy cao hơn
năng lượng hấp thụ oxy tối đa. Lúc này hoạt động diễn ra trong điều kiện nợ
oxy do các nguồn yếm khí, do hiệu suốt của cơ thể cung cấp năng lượng yếm


25
khí, nên vùng tốc độ tới hạn nhu cầu oxy tăng nhanh hơn nhiều hơn so với
mức tăng của tốc độ di chuyển.
- Thời gian bài tâp:
Sự liên quan với tốc độ di chuyển là thời gian giới hạn cảu một bài tập
luôn luôn tương ứng với một tốc độ di chuyển nào đó. Như vậy thời gian của
một buổi tập kéo dài với tốc độ dưới tới hạn đòi hỏi sự hoạt động căng thẳng
của những hệ thống đảm bảo cung cấp và sử dụng oxy, trước hết là hệ tuần
hoàn và hô hấp. Còn thời gian của bài tập với tốc độ trên tới hạn đòi hỏi khả
năng nợ oxy cảu cơ thể.
- Thời gian nghỉ giữa quãng :
Trong các bài tập lặp lại có vai trò quan trọng đối với tính chất và
phương hướng hoạt động cảu bài tập đối với cơ thể. Trong những bài tập có
tốc độ tới hạn, nếu thời gian nghỉ giữa quãng đủ dài cho các hoạt động sinh
lý trở lại mức tương đối bình thường thì ở mỗi lần lặp lại các bài tập tiếp theo,
các phản ứng của cơ thể sẽ diễn ra gần giống như lần thực hiện bài tập trước
đó. Tức là lúc đầu cơ thể giải phóng năng lượng từ phootspho creatin tiếp đến
là quá trình gluco phân ( ở 1 đến 2 phút tiếp theo) sau đó là các quá trình hô
hấp ( quá trình ưa khí mới phát huy tác dụng ở phút thứ 3 đến phút thứ 4).
Trong các bài tập lặp lại với tốc độ trên tới hạn và quãng nghỉ không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status