Nghiên cứu và lựa chọn một số bài tập phát triển sức bền tốc độ nhằm nâng cao thành tích trong cự ly chạy 1000m cho nam học sinh khối 12 trường THPT Xuân Hoà - Vĩnh Phúc - Pdf 29



LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là Tạ Quang Vinh
Sinh viên lớp K33 GDTC - GDQP .
Tôi xin cam đoan đề tài này là của riêng tôi , kết quả nghiên cứu của
đề tài không trùng với bất cứ đề tài nào . Những vấn đề được nghiên cứu đều
mang tính khách quan đúng với thực tế của trường THPT Xuân Hoà - Vĩnh
Phúc Hà Nội , ngày 20 tháng 05 năm 2011
Sinh viên Tạ Quang Vinh

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 3.1. Kết quả phỏng vấn lựa chọn test đánh giá sức bền tốc độ
trong chạy 1000m cho nam học sinh khối 12 (n =10)
Bảng 3.2. Kết quả phỏng vấn lựa chọn các bài tập phát triển sức bền
tốc
độ trong chạy cự ly 1000m (tính theo tỉ lệ %, n =10)
Bảng 3.3. Nội dung các bài tập phát triển sức bền tốc độ trong chạy
1000m
Bảng 3.4. Tiến trình kế hoạch giảng dạy chạy 1000m cho nam học sinh
khối 12 trường THPT Xuân Hòa - Vĩnh Phúc
Bảng 3.5. Kết quả các chỉ số phát triển sức bền tốc độ trong chạy
1000m cho nam học sinh khối 12 trường THPT Xuân Hoà - Vĩnh Phúc
trước thực nghiệm
Bảng 3.6. So sánh chỉ số đánh giá sức bền tốc độ trong chạy 1000m
cho nam học sinh khối 12 trường THPT Xuân Hoà - Vĩnh Phúc sau
thực nghiệm
Biểu đồ 3.1. Biểu diễn trình kết quả phỏng vấn
Biểu đồ 3.2. Biểu đồ biểu diễn thành tích chạy 200m
Biểu đồ 3.3. Biểu đồ biểu diễn thành tích chạy 400m
Biểu đồ 3.4. Biểu đồ biểu diễn thành tích chạy 1000m
23 27

29

31

1.3.1 Cơ sở sinh lý của sức bền yếm khí
1.3.2 Cơ sở sinh lý của sức bền ưa khí
1.3.3 Cơ sở sinh lý của sức mạnh bền
1.4 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi 17 - 18
1.5 Ý nghĩa của việc phát triển sức với việc nâng cao thành tích chạy
1000m
Chương 2 Nhiệm vụ , phương pháp và tổ chức nghiên cứu
2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
2.2.2 Phương pháp phỏng vấn
2.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm
2.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
2.2.5 Phương pháp kiểm tra sư phạm
2.2.6 Phương pháp toán học thông kê
1
5
5

7
7
8
8

9
9
11
12
13
15

trường THPT Xuân Hoà - Vĩnh Phúc .
3.2.1 Lựa chọn bài tập phát triển sức bền tốc độ trong chạy
1000m cho nam học sinh khối 12 trường THPT Xuân Hoà - Vĩnh Phúc
3.2.2 Đánh giá hiệu quả bài tập phát triển sức bền tốc độ cho
nam học sinh khối 12 trường THPT Xuân Hoà - Vĩnh Phúc
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
19
19
20
20
21
21

21 22

24 25 25

30


Theo tinh thần Nghị quyết Trung ương II về giáo dục - đào tạo , Chỉ thị
36/CP/TWcủa Ban Bí thư Trung ương Đảng , chính quyền các ngành tổ chức
xã hội và các cấp theo trách nhiệm được giao, cũng như hệ thống TDTT Việt
Nam là hoàn thiện về mặt thể chất cho mọi thành viên trong xã hội . Hiến
pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi : "Đào tạo người lao 2

động có ngành nghề năng động sáng tạo , có niềm tự hào dân tộc , có đạo đức,
có ý trí vươn lên góp phần đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ tổ quốc" [8] .
Vì vậy giáo dục thể chất là một mặt của giáo dục toàn diện , không thể
thiếu được trong các trường phổ thông, giáo dục thể chất không những là biện
pháp tích cực để tăng cường sức khoẻ cho học sinh , mà còn là một trong số
những biện pháp hiệu quả để giáo dục đạo đức , thẩm mĩ và nhân sinh quan
cộng sản chủ nghĩa cho học sinh , góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục của
Đảng đưa đất nước ta tiến lên con đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá . Bởi
vì trong hành trang của nhưng chủ nhân của thế kỉ XXI không thể thiếu được
một trong bốn phẩm chất của con người toàn diện đó là Thể dục
TDTT nói chung và Điền kinh nói riêng có một vị trí vô cùng quan
trọng trong chương trình giáo dục thể chất. Nó là bộ phận không thể thiếu và
tách rời cho mục tiêu giáo dục - đào tạo chuẩn bị cho các em bước vào cuộc
sống mới.
So với các môn thể thao khác Điền kinh sát thực hơn với các hoạt động
tự nhiên của con người và cũng là một môn có lịch sử lâu đời nhất, được ưa
chuộng và phổ biến rộng rãi trên thế giới, tập luyện Điền kinh có tác động rất
tốt phát triển toàn diện các tố chất thể lực cải thiện và nâng cao khả năng chức
phận của các hệ thống chức năng trong cơ thể, mặt khác nó còn trang bị cho
người tập những kĩ năng kĩ xảo vận động và cũng như phẩm chất đạo đức và

tập có ý nghĩa thiết thực. Song một vấn đề cấp bách ở đây là làm thế nào để
phát triển các tố chất thể lực nói chung và phát triển tố chất sức bền tốc độ nói
riêng một cách có hiệu quả cao để hoà đồng với sự phát triển lớn mạnh của
phong trào Điền kinh. Để giáo dục sức bền tốc độ một cách toàn diện người ta
đã áp dụng đa dạng hoá về nội dung, về phương pháp tập luyện và về hình
thức tập luyện. Song vấn đề này mới chỉ dừng lại ở các trung tâm thể thao
lớn, các trường năng khiếu, các thành phố lớn, còn hầu như ở các tỉnh các 4

huyện vẫn ít được áp dụng. Ngoài điều kiện sân bãi tập luyện vẫn chưa đầy đủ
còn thiếu nhiều trang thiết bị, huấn luyện viên, giáo viên giảng dạy hoặc nếu
có thì trình độ vẫn còn nhiêu hạn chế. Vì vậy, trong quá trình giảng dạy vẫn
chưa phát huy hết khả năng tập luyện ở một số môn thể thao có đòi hỏi cao về
sức bền tốc độ.
Xuất phát từ cơ sở trên và thông qua việc tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý
lứa tuổi của các em nam học sinh khối 12 trường THPT Xuân Hoà - Vĩnh
Phúc.
Cùng với mục đích tiếp cận dần với công tác huấn luyện , giảng dạy thể
thao và bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học,
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
Nghiên cứu và lựa chọn một số bài tập phát triển sức bền tốc độ
nhằm nâng cao thành tích trong cự ly chạy 1000m cho nam học sinh khối
12 trường THPT Xuân Hoà - Vĩnh Phúc
Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở đánh giá thực trạng các bài tập phát triển sức bền tốc độ
trong quá trình giảng dạy cự ly chạy 1000m cho nam học sinh khối 12, từ đó
nghiên cứu và lựa chọn các bài tập phát triển sức bền tốc độ với mục đích
thiết thực là nhằm nâng cao thành tích chạy 1000m cho nam học sinh khối 12

dục thể chất bắt buộc và tổ chức thể dục thể thao ngoại khoá cho người học.
Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho học sinh được tập luyện thể dục
thể thao phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và điều kiện ở từng nơi. Giáo dục thể
chất là một bộ phận quan trọng để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, góp
phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực , bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa" [7] .
Huấn luyện và giảng dạy thể dục thể thao luôn là vấn đề được quan tâm
đặc biệt của các nhà khoa học, chuyên gia, các nhà huấn luyện thể thao. Song đề
cập tới vấn đề này chúng tôi nhận thấy các tác giả có nhiều quan điểm ở các góc
độ khác nhau, có những quan điểm xuất phát từ lĩnh vực y học, tâm lý học 6

Theo quan điểm của nhiều nhà khoa học thì quá trình huấn luyện thể
lực cho học sinh là việc hướng tới củng cố và hoàn thiện hoá các cơ quan của
cơ thể, nâng cao khả năng chức phận của chúng đồng thời là việc huấn luyện
các tố chất vận động.
Quá trình huấn luyện thể lực bao gồm: Huấn luyện thể lực chung và
huấn luyện thể lực chuyên môn.
Huấn luyện thể lực chung: Là quá trình huấn luyện toàn diện những
năng lực thể chất cho người học. Người ta sử dụng các bài tập khác nhau để
nâng cao chức phận của cơ thể phát triển toàn diện các năng lực thể chất và
làm phong phú thêm vốn kĩ năng, kĩ xảo và là nền tảng để nâng cao thể lực
chuyên môn cho người học.
Huấn luyện thể lực chuyên môn: Là quá trình giáo dục nhằm phát triển
và hoàn thiện những năng lực thể chất tương ứng với đặc điểm của các môn
thể thao chuyên sâu. Nó có nhiệm vụ phát triển tối đa các năng lực của người
học và là khâu cơ bản quyết định tới thành tích.
Ngày nay trong huấn luyện và giảng dạy thể thao hiện đại thì công tác

- Sức bền chung
- Sức bền chuyên môn (sức bền tốc độ, sức bền mạnh)
- Trong đó sức bền chung là sức bền trong hoạt động kéo dài với cường
độ trung bình thu hút toàn bộ các cơ quan trong cơ thể tham gia hoạt động
- Sức bền chuyên môn là khả năng duy trì năng lực vận động cao những
loại hình bài tập nhất định.
- Sức bền tốc độ là khả năng thực hiện cường độ vận động cao trong
thời gian dài mà cơ thể chịu được.
- Lý luận và phương pháp TDTT cho rằng sức bền tốc độ tức là khả
năng chống lại nhưng mệt mỏi khi vận động với tốc độ tối đa và gần tối đa
chủ yếu với sự huy động năng lượng yếm khí [12].
- Một số tác giả khác cho rằng: Sức bền tốc độ là khả năng duy trì được
cường độ vận động cao trong suốt quá trình thực hiện bài tập nhờ sự nỗ lực
của toàn bộ cơ thể. 8

- Các nhà sinh lý học như: Yamaki Moshu (Nhật), Vonkôp (Nga),
Dương Tích Nhược (Trung Quốc ) thì khái niệm về sức bền tốc độ là năng lực
của cơ thể chống lại mệt mỏi trong hoạt động kéo dài nào đó.
1.2.2. Những yếu tố chi phối sức bền tốc độ
Sức bền tốc độ được nhiều nhà khoa học nghiên cứu nhưng nổi trội hơn
cả là các nhà khoa học như: Harre (Đức), Vônkôp, Ozolin (Nga), Phùng
Thiếu Phạm (Trung Quốc), các ông cho rằng sức bền tốc độ được chi phối bởi
bốn yếu tố sau:
- Trình độ phát triển chung của cơ thể học sinh, các hệ thống cơ quan
của cơ thể đặc biệt là hệ thần kinh, tim mạch, hô hấp có quan hệ chặt chẽ với
sức bền tốc độ.
- Phẩm chất ý chí của học sinh.

quyết định đặc trưng của co duỗi cơ bắp .
Tần số động tác cũng là một biểu hiện quan trọng của tố chất tốc độ.
Tần số động tác được quyết định bởi tốc độ chuyển đổi giữa ức chế và hưng
phấn của trung ương thần kinh vận động là tính linh hoạt của quá hai trình
thần kinh.
Xét về thành phần sợi cơ thì sự dẫn truyền xung động của sợi cơ màu
trăng nhanh hơn sợi cơ màu xẫm.
Để lựa chọn được các bài tập phát triển sức bền tốc độ chúng ta phải
dựa trên cơ sở sinh lý học của sức bền và sức nhanh.
1.3.1. Cơ sở sinh lý của sức bền yếm khí
Sức bền yếm khí là chỉ khả năng duy trì hoạt động với cường độ cao
trong điều kiện trao đổi không có oxy. Năng lượng cung cấp chủ yếu là các
chất giàu năng lượng dự trữ trong cơ như ATP và CP hoạt động yếm khí
thông thường diễn ra khoảng 20 - 30 phút với cường độ hoạt động cực đại.
Hệ cung cấp năng lượng ở vùng cường độ cực đại chủ yếu là hệ
photphogen, tức là sự phân giải ATP và CP. Hoạt động của hệ cung cấp năng 10

lượng không phụ thuộc vào trình tự phức tạp của các phản ứng hoá học và
việc cung cấp oxy cho cơ thể. Vì vậy photphogen là nguồn cung cấp năng
lượng nhanh nhất mà tế bào sử dụng đầu tiên.
Theo giáo sư T.G.Mkok (Liên xô cũ) thì công suất của photphogen gấp
9 lần so với oxy hoá. Song trên thực tế năng lượng của photphogen là không
lớn do dự trữ của ATP và CP trong cơ không lớn, vì vậy nó chỉ duy trì được
khoảng 20 phút , nếu tiếp tục hoạt động thì cần thêm cả năng lượng Lactic và
Glucophan tham gia.
Hoạt động của glucophan đảm bảo tái tổ hợp ATP và CP. Kết quả của
các phản ứng này gọi là giải phóng năng lượng để tái tổng hợp ATP.

lượng oxy hoá. Hệ này hoạt động sau khi photphogen và glucophan cạn kiệt
năng lượng.
Khi hệ oxy hoá hoạt động thì oxy được vận chuyển liên tục từ ngoài đi
tới các tế bào cơ. Trong các hoạt động ưa khí với cường độ cao khối lượng
oxy mà cơ bắp hấp thụ sẽ tăng lên do giữa tốc độ hấp thụ và công suất hoạt
động có mối tương quan tỉ lệ thuận nên cường độ của hoạt động ưa khí có thể
đánh giá bằng khả năng hấp thụ oxy.
Năng lượng cung cấp chủ yếu cho hoạt động cơ là đường, mỡ và protit.
Trong đó protit đóng vai trò sản sinh năng lượng tương đối nhỏ nên đường và
mỡ là hai nguyên liệu chủ yếu cung cấp năng lượng cho hoạt động cơ bắp.
Sự phân giải ưa khí từ đầu tới giai đoạn tạo thành axit purivic cũng xảy
ra tương tự như gluco yếm khí. Song trong trường hợp thiếu oxy, axit purivic
sẽ chuyển hoá thành axit lactic.
Vì vậy, phân giải một glucoza ưa khí tạo ra số lượng phân tử ATP gấp
9 lần so với phân giải yếm khí. Gluco phân giải yếm khí cũng sẽ tái tổng hợp
ít hơn 13 lần so với glucozen phân giải ưa khí.
Dung lượng đường của hệ tiêu hoá chỉ khoảng 80mu ATP hay 800Kcal
ở người bình thường có thể duy trì chạy 15km, còn ở những người tập luyện
TDTT sẽ có nguồn dự trữ lớn hơn nhiều. 12

1.3.3. Cơ sở sinh lý của sức mạnh bền
Như chúng tôi đã trình bày ở trên: Sức bền tốc độ phụ thuộc rất lớn vào
sức mạnh bền.
Sức mạnh bền là khả năng chống lại mệt mỏi của người tập khi hoạt
động sức mạnh kéo dài.
Trong các môn thể thao sức bền, sức mạnh bền được xác định trước hết
bởi độ lớn của xung lực trung bình thực hiện trong mỗi chu kì chuyển động

người tập để phát triển sức bền một cách hiệu quả.
1.4. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 17 - 18
Các em học sinh tuổi 17 - 18 là lứa tuổi mà các em đang học lớp 12 ở
bậc THPT. Do vậy, ở lứa tuổi này tâm lý của các em cũng có những đặc điểm
riêng và khác so với lứa tuổi trước đó. Do vậy chúng tôi tiếp cận đi sâu
nghiên cứu ở lứa tuổi này cụ thể là từ 17 - 18.
 Đặc điểm sinh lý
- Hệ thần kinh : Não ở lứa tuổi 17 - 18 kích thước của não và hành tuỷ
dã tới mức của người trưởng thành, hoạt động phân tích của vỏ não tăng lên,
tư duy được phát triển do các em biết phân tích tổng hợp vấn đề một cách có
logic hơn, tính linh hoạt của trung ương thần kinh cao, ở lứa tuổi này quá
trình hưng phấn vẫn chiếm ưu thế.
- Hệ tuần hoàn : Buồng tim phát triển, hệ tuần hoàn của các em đã đạt
tới mức gần hoàn thiện, tim của các em đập mỗi phút là từ 70 - 80 lần, huyết
áp đạt từ 100 - 110 mm/Hg.
- Hệ hô hấp: Đã phát triển gần như toàn diện, dung tích sống đã đạt tới
mức độ chỉ số người trưởng thành, lưu lượng tim đạt cao, tuy vậy hệ thần
kinh giao cảm nhạy bén nên mạch dễ bị co do giao động, do hồi hộp hay xúc
động.
- Hệ bài tiết: Điều hoà thân nhiệt hoạt động khá hiệu quả, đặc biệt là
bài tiết qua da. Do vậy hồi phục sau tập luyện diễn ra nhanh. 14

- Hệ cơ : Ở giai đoạn này cơ của các em phát triển khá nhanh, khối
lượng cơ tăng nhanh đáng kể do hoạt động thể lực đa dạng nên các nhóm cơ
nhỏ đã phát triển. Đặc biệt ở lứa tuổi này nếu tham gia tập luyện TDTT đều
đặn thì những nhóm cơ không những phát triển mạnh, mà còn mang tính
chuyên môn cho từng môn thể thao riêng biệt.

phải huấn luyện và giảng dạy toàn diện, đặc biệt là sức bền tốc độ. Bởi vì các
tố chất sức bền có quan hệ mật thiết với nhau. Khi sức bền chung phát triển sẽ
làm cơ sở cho sức bền chuyên môn phát triển. Qua nghiên cứu, đánh giá thực
tế các nhà lý luận chuyên nghành điền kinh khẳng định: Việc phát triển sức
bền tốc độ thực chất là làm cho cơ thể thích nghi dần với LVĐ ngày càng cao,
nếu như không có sức bền chuyên môn tốt thì khả năng chống lại trạng thái
cực điểm sẽ yếu dần dẫn tới người tập không đạt được kết quả tốt. Hơn nữa
việc phát triển sức bền chuyên môn đòi hỏi người tập phải có nỗ lực ý chí lớn,
sự kiên trì, chịu đựng và chống lại sự mệt mỏi và nhàn chán , đơn điệu của bài
tập, hơn nữa đòi hỏi người tập phải có sự tích luỹ, thích nghi dần và kéo dài
liên tục trong nhiều tháng và năm, không nên nôn nóng gò ép vì phát triển sức
bền chuyên môn không phải ngày một ngày hai là được. Chính vì vậy có thể
khẳng định lại rằng trong cự ly chạy 1000m thì sức bền tốc độ là một trong
các yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới kết quả tập luyện của người tập.
Do vậy các bài tập huấn luyện và giảng dạy sức bền chuyên môn được
sử dụng phải là các bài tập có khối lượng vận động lớn và tăng lên một cách
có hệ thống theo từng buổi tập, cường độ và các lượng vận động này chỉ cao
tới mức khi năng lượng có thể sử dụng rộng rãi nhất theo con đường oxy hoá.
Những bài tập nhằm nâng cao khả năng thích ứng của cơ thể trong điệu kiện
trao đổi chất đầy đủ dưỡng khí của cơ thể hoạt động với các giai đoạn khác
nhau của người tập.
Tóm lại : Từ những vấn đế phân tích ở trên chúng ta có thể thấy rằng
việc phát triển sức bền tốc độ với việc nâng cao thành tích trong chạy cự ly 16

1000m là một điều thiết thực. Nếu có được nền tảng sức bền tộc độ tốt thì
người tập luyện Điền kinh nói chung và các em nam ở các trường THPT nói
riêng sẽ có được kết quả học tập tốt ở bộ môn Điền kinh và cụ thể là cự ly


2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để giải quyết mục đích của đề tài tôi đề ra 2 nhiệm vụ sau :
2.1.1. Nhiệm vụ 1
Đánh giá thực trạng việc tập luyện cự ly chạy 1000m của nam học sinh
khối 12 trường THPT Xuân Hoà - Vĩnh Phúc .
2.1.2. Nhiệm vụ 2
Lựa chọn và ứng dụng các bài tập phát triển sức bền tốc độ nhằm nâng
cao thành tích trong chạy cự ly 1000m cho nam học sinh khối 12 trường
THPT Xuân Hoà - Vĩnh Phúc
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Đây là phương pháp được sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài.
Thông qua phương pháp này chúng tôi đã nghiên cứu, phân tích và tổng hợp
các số liệu có liên quan đến đề tài như : sách giáo khoa điền kinh, lý luận và
phương pháp TDTT, sinh lý TDTT, tâm lý TDTT kết hợp với một số
phương pháp giảng dạy học sinh chạy 1000m của một số các giáo viên giảng
dạy bộ môn thể dục ở các trường THPT chúng tôi đã rút ra được cơ sở lý luận
về phương pháp sao cho phù hợp với các em.
2.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã tiến hành bằng phiếu hỏi các
giáo viên có thâm niên lâu năm, thông qua phương pháp này chúng tôi đã thu
thập được một số test và các bài tập nhằm phát triển sức bền tốc độ cho nam
học sinh chạy 1000m.
18

2.2.3. Phương pháp quan sát sư phạm

- TÝnh trung b×nh céng:

n
i
i 1
x
x
n




Trong ®ã:

x
: gi¸ trÞ TB
x
i
: gi¸ trÞ tõng c¸ thÓ
n: sè lîng ®èi tîng
∑: ký hiÖu tæng
- Ph¬ng sai:

2
2
i
(x x)
n 1

 

- 1/2011
Lựa trọn đề tài, bảo vệ đề
cương
Đề cương được
nghiệm thu
2
1/2011 -
4/2011
- Đánh giá thực trạng sức bền
tốc độ trong chạy cự ly 1000m
- Tiến hành lựa chọn và thực
nghiệm các bại tập nghiên cứu
Hoàn tất phần
tổng quan và các
cơ sở lý luận của
đề tài 20

3
4/2011 -
5/2011
- Xử lý số liệu và viết bài hoàn
chỉnh
Bảo vệ thành
công khoá luận

Là các bài tập phát triển sức bền tốc độ nhằm nâng cao thành tích trong
chạy cự ly 1000m cho các em nam khối 12 trường THPT Xuân Hoà - Vĩnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status