Lựa chọn bài tập phát triển sức mạnh bột phát nâng cao thành tích đẩy tạ cho vận động viên nam đội tuyển điền kinh trường THPT Giao Thủy - Nam Định - Pdf 29

1
LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là: Nguyễn Thành Luân
Sinh viên lớp: K33 GDTC - GDQP

Tôi xin cam đoan đề tài: “Lựa chọn bài tập phát triển sức mạnh bột phát
nâng cao thành tích đẩy tạ cho vận động viên nam đội tuyển Điền kinh trường
THPT Giao Thủy - Nam Định” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, đề tài không
trùng với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác. Toàn bộ những vấn đề nêu ra
trong đề tài là những vấn đề mang tính cấp thiết và đúng thực tế khách quan của
trường THPT Giao Thủy - Nam Định. Hà Nội, ngày ……. tháng ……. năm 2011
Sinh viên
Nguyễn Thành Luân
2
DANH MỤC VIẾT TẮT

SỐ BIỂU
BẢNG

NỘI DUNG TRANG
Bảng 3.1
Thực trạng đội ngũ giáo viên TDTT trường THPT
Giao Thủy - Nam Định
18
Bảng 3.2
Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy và
học tập môn GDTC
19

Bảng 3.3
Thực trạng việc sử dụng bài tập phát triển sức mạnh
bột phát trong huấn luyện kỹ thuật đẩy tạ cho nam
VĐV đội tuyển Điền kinh trường THPT Giao Thủy -
Nam Định

20

Bảng 3.4
Kết quả các test kiểm tra sức mạnh bột phát của nam
VĐV đội tuyển Điền kinh trường THPT Giao Thủy -
Nam Định năm 2008 - 2009 (n = 20)

22

nhóm thực nghiệm và đối chứng (n
A
= n
B
= 10)
35
Bảng 3.11
Kết quả kiểm tra các test sau thực nghiệm của 2 nhóm
thực nghiệm và đối chứng (n
A
= n
B
= 10)
36

Bảng 3.12
Kết quả kiểm tra các test của nhóm thực nghiệm TTN
và STN bằng phương pháp tự đối chiếu
(n
A
= 10)

38

Bảng 3.13
Kết quả kiểm tra các test của nhóm đối chứng TTN và
STN bằng phương pháp tự đối chiếu
( n
B
= 10)

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1. Đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi THPT. 4
1.2. Cơ sở sinh lý của dạy học và huấn luyện thể thao cho học sinh
THPT. 8
1.3. Đặc điểm tố chất sức mạnh. 9
1.4. Tầm quan trọng của sức mạnh bột phát đối với thành tích đẩy tạ. 10
CHƯƠNG 2: NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC
NGHIÊN CỨU 12
2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu. 12
2.2. Phương pháp nghiên cứu. 12
2.3. Tổ chức nghiên cứu. 15
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 17
3.1. Đánh giá thực trạng công tác GDTC và sức mạnh bột phát trong 17
đẩy tạ của nam VĐV đội tuyển Điền kinh trường THPT Giao
Thủy - Nam Định.
3.2. Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả bài tập phát triển sức 24
mạnh bột phát cho nam VĐV đội tuyển Điền kinh trường THPT
Giao Thủy - Nam Định.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
PHỤ LỤC 6
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
KHOA GDTC Độc lập – Tự do – Hạnh phúc PHIẾU PHỎNG VẤN



Test: Co tay xà đơn 10 (s) tính số lần

Test: Từ tư thế ra sức cuối cùng đẩy tạ
5kg (m)
Test: Kiểm tra thành tích đẩy tạ (m)

Câu 2: Theo thầy (cô) các bài tập nào dưới đây phát triển sức mạnh bột phát nâng
cao thành tích đẩy tạ cho nam VĐV đội tuyển trường THPT Giao Thủy -
Nam Định. Nếu đồng với bài tập nào thì đánh dấu (x) vào ô trống.
Trả lời
Nhóm bài tập Nội dung bài tập
Đồng ý
Không
đồng ý
1. Bật xa tại chỗ 2. Bật cóc 30m 3. Chạy đạp thẳng chân sau 30m

2. Chống đẩy trên xà kép 3. Tập với tạ 7kg (tung tạ ra trước,
hất tạ ra sau qua đầu)

4. Vừa chống đẩy, vừa di chuyển
bằng 2 tay có người nâng chân

5. Nằm ngửa trên ghế đẩy tạ (25kg)
6. Nằm ngửa gập thân tay bám cố
định

7. Đứng chếch chống đẩy vào tường
8. Co tay xà đơn

Bài tập phát
triển sức mạnh
bột phát của tay
9. Tại chỗ RSCC đẩy tạ 5kg

 
2
i
x x


i
x

 
2
i
x x


i
x

 
2
i
x x


1 10 1,69 10 2,89 13 3,24 11 2,89
2 10 1,69 9 0,49 12 0,64 10 0,49
3 9 0,09 9 0,49 12 0,64 10 0,49
4 9 0,09 9 0,49 12 0,64 10 0,49
5 9 0,09 8 0,09 11 0,04 9 0,09
6 8 0,49 8 0,09 11 0,04 9 0,09 10
PHỤ LỤC 3
KẾT QUẢ KIỂM TRA TEST TỪ TƯ THẾ RA SỨC CUỐI CÙNG ĐẨY TẠ 5KG
CỦA 2 NHÓM THỰC NGHIỆM VÀ ĐỐI CHỨNG TTN VÀ STN (M).

Trước thực nghiệm Sau thực nghiệm
Nhóm TN Nhóm ĐC Nhóm TN Nhóm ĐC
TT
i
x

 
2
i
x x


i
x

 
2
i
x x






8,90

0,279

8,86

0,322 9,28

0,292

9,00

0,211
0,077 0,104 0,085 0,0444
t
tính
0,297 2,458 11
PHỤ LỤC 4

x x


i
x

 
2
i
x x


1 10,45 0,1444 10,45 0,1521 11,00 0,2401 10,45 0,0324
2 10,30 0,0529 10,30 0,0576 10,80 0,0841 10,40 0,0169
3 10,30 0,0529 10,30 0,0576 10,75 0,0576 10,35 0,0064
4 10,20 0,0169 10,20 0,0196 10,50 0,0001 10,30 0,0009
5 10,10 0,0009 10,10 0,0016 10,50 0,0001 10,30 0,0009
6 10,00 0,0049 9,90 0,0256 10,45 0,0036 10,30 0,0009
7 9,90 0,0289 9,90 0,0256 10,35 0,0256 10,25 0,0004
8 9,85 0,0484 9,85 0,0441 10,30 0,0441 10,20 0,0049
9 9,80 0,0729 9,80 0,0676 10,25 0,0676 10,15 0,0144
10 9,80 0,0729 9,80 0,0676 10,20 0,0961 10,00 0,0729
x





10,07


TT
i
x

 
2
i
x x


i
x

 
2
i
x x


i
x

 
2
i
x x


i
x

0,083

2,53

0,083

2,39

0,091
0,00642 0,00678 0,00692 0,00822
t
tính
0,823 3,599
13
ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, Đảng và Nhà
nước ta luôn coi trọng và quan tâm đến sự phát triển của công tác thể dục thể
thao (TDTT). TDTT là một bộ phận không thể thiếu được trong chính sách
phát triển kinh tế xã hội của nước ta nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con
người; đào tạo thế hệ trẻ phát triển hài hòa về các mặt thể chất, tinh thần, trí

đấu tại đại hội toàn quốc, khu vực, châu lục và thế giới.
Đẩy tạ là một hoạt động không có chu kỳ, kỹ thuật rất phức tạp nên
trong quá trình tiếp thu động tác đòi hỏi người tập phải tập trung cao độ, tập
luyện phải có khoa học và có hệ thống thì mới đạt thành tích cao. Đẩy tạ gồm
các giai đoạn: Chuẩn bị, trượt đà, ra sức cuối cùng và giữ thăng bằng. Trong
các giai đoạn đó thì giai đoạn ra sức cuối cùng là quan trọng nhất và quyết
định đến thành tích. Thành tích đẩy tạ phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó thể
lực là yếu tố quan trọng nhất. Thể lực trong đẩy tạ bao gồm: Sức nhanh, sức
mạnh, sức bền, khả năng phối hợp vân động. Trong các yếu tố đó, thì tố chất
sức mạnh (đặc biệt là sức mạnh bột phát) có ảnh hưởng lớn đến thành tích đẩy
tạ. Vì vậy, việc lựa chọn xây dựng các bài tập phát triển sức mạnh bột phát
phù hợp với các em để đạt được thành tích cao trong thể thao có ý nghĩa thiết
thực.
Mặc dù hoạt động TDTT được các cấp các ngành và Ban Giám hiệu
nhà trường THPT Giao Thủy - Nam Định đặc biệt quan tâm như: Đầu tư xây
dựng sân bãi, trang thiết bị dụng cụ phục vụ cho quá trình học tập và tập
luyện. Tuy nhiên, thành tích các môn thể thao vẫn chưa đạt được hiệu quả
cao, đặc biệt là thành tích đẩy tạ của các VĐV nam đội tuyển Điền kinh còn ở
15
mức thấp. Qua quá trình quan sát nghiên cứu cho thấy nguyên nhân chủ yếu
là sức mạnh bột phát của các em còn kém. Vì vậy, để phát triển sức mạnh bột
phát nâng cao thành tích đẩy tạ thì cần phải lựa chọn áp dụng hợp lý các bài
tập và hình thức tập luyện phù hợp với lứa tuổi VĐV.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Lựa chọn bài tập phát triển sức mạnh bột phát nâng cao thành tích đẩy tạ
cho vận động viên nam đội tuyển Điền kinh trường THPT Giao Thủy -
Nam Định”.

* Mục đích nghiên cứu:
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài nhằm mục đích: Lựa chọn, ứng

xuất phát từ động cơ học tập đúng đắn và hướng tới việc chọn nghề sau khi đã
học xong THPT. Song hứng thú học tập cũng còn do nhiều động cơ khác
nhau: Giữ lời hứa với bạn, đội khi do tự ái, hiếu danh cho nên GV cần định
hướng cho học sinh xây dựng động cơ đúng đắn để cho học sinh có được
hứng thú bền vững trong học tập nói chung và trong GDTC nói riêng [9].
Tình cảm: So với các cấp học trước, học sinh THPT biểu lộ rõ rệt hơn
tình cảm gắn bó và yêu quý mái trường, đặc biệt đối với giáo viên giảng dạy
học sinh (yêu, ghét rõ ràng). Việc giáo viên gây được thiện cảm và sự tôn
trọng của học sinh là một trong những thành công trong nghề nghiệp. Điều đó
giúp giáo viên thuận lợi trong quá trình giảng dạy, thúc đẩy học sinh tích cực,
tự giác trong học tập và ham thích môn học. Do vậy, giáo viên phải là người
mẫu mực, công bằng, biết động viên kịp thời và quan tâm đúng mức tới học
sinh, tôn trọng kết quả học tập cũng như tình cảm của học sinh [9].
17
Trí nhớ: Ở lứa tuổi này, hầu như không còn tồn tại việc ghi nhớ máy
móc, do học sinh đã biết cách ghi nhớ có hệ thống, đảm bảo tính lôgíc, tư duy
chặt chẽ hơn và lĩnh hội bản chất của vấn đề học tập. Do đặc điểm của trí nhớ
đối với độ tuổi này khá tốt nên giáo viên có thể sử dụng phương pháp trực
quan kết hợp với phương pháp phân tích, giảng giải sâu sắc các kĩ thuật, bài
tập và vai trò ý nghĩa cũng như cách sử dụng các phương tiện, phương pháp
trong GDTC để học sinh có thể tự tập một cách độc lập trong thời gian rảnh
rỗi [9].
Các phẩm chất ý chí của học sinh đã rõ ràng hơn và mạnh dạn so với các
lứa tuổi trước đó. Học sinh có thể hoàn thành được những bài tập khó và đòi
hỏi sự khắc phục khó khăn lớn trong tập luyện.
1.1.2. Đặc điểm sinh lý lứa tuổi THPT.
Trong quá trình sống và phát triển, cơ thể con người có những biến đổi
đa dạng về cấu tạo, chức năng và tâm lý dưới tác động của các yếu tố di
truyền và môi trường sống. Vì vậy, tập luyện TDTT sẽ có ảnh hưởng tốt tới
cơ thể người tập nếu như những hoạt động tập luyện đó phù hợp với đặc điểm

nữ không khoẻ bằng nam. Đặc biệt là xương chậu của nữ to hơn và yếu hơn
nam, nên trong quá trình GDTC không thể sử dụng các bài tập có khối lượng
và cường độ như nhau mà phải có sự phân biệt lượng vận động giữa nam và
nữ [3].
- Hệ cơ: Các tổ chức cơ phát triển muộn hơn xương nên sức co cơ vẫn còn
tương đối yếu, các bắp cơ lớn phát triển nhanh (cơ đùi, cơ cánh tay), phát
triển chậm hơn là các cơ nhỏ (cơ bàn tay, ngón tay). Các cơ có phát triển
chậm hơn các cơ duỗi, các cơ chuỗi của nữ lại càng yếu. Đặc biệt, vào tuổi 16
các tổ chức mỡ dưới da của nữ phát triển mạnh, ảnh hưởng đến việc phát
19
triển sức mạnh của cơ thể. Nói chung, cuối thời kỳ cơ bắp phát triển nhanh
nhất [3].
Do vậy, cần tập các bài tập phát triển sức mạnh để góp phần thúc đẩy sự
phát triển của các cơ. Nhưng các bài tập không nên chỉ có treo hoặc chống
đơn thuần mà phải là những bài tập kết hợp giữa treo, chống cùng với những
bài tập khắc phục lực đối kháng khác nữa. Việc tập như vậy sẽ vừa phát triển
các cơ co, cơ duỗi lại vừa giảm nhẹ sức chịu đựng của các cơ khi tập liên tục
trong thời gian dài. Các bài tập phải đảm bảo nguyên tắc vừa sức và đảm bảo
cho tất cả các loại cơ (to, nhỏ) đều được phát triển. Nhưng cần có yêu cầu
riêng biệt đối với học sinh nữ, tính chất động tác của nữ cần toàn diện, mang
tính mềm dẻo, khéo léo và có tính nhịp điệu.
- Hệ tuần hoàn: Ở lứa tuổi này, hệ tuần hoàn của học sinh đang phát triển
và đi đến hoàn thiện: Buồng tim phát triển tương đối hoàn chỉnh, mạch đập
của nam khoảng 70 - 80 lần/phút, nữ 70 - 75 lần/phút, hệ thống điều hoà vận
mạch phát triển tương đối hoàn chỉnh, phản ứng của hệ tuần hoàn trong vận
động tương đối rõ rệt. Nhưng sau vận động, mạch đập và huyết áp hồi phục
tương đối nhanh chóng. Cho nên lứa tuổi này có thể tập chạy dai sức và tập
những bài tập có khối lượng và cường độ vận động lớn hơn học sinh THCS.
Khi sử dụng các bài tập có cường độ và khối lượng lớn hoặc các bài tập phát
triển sức bền cần phải thận trọng và thường xuyên kiểm tra theo dõi trạng thái

xấu. Vì vậy những bài tập phát triển toàn diện, với lượng vận động tối ưu,
phải được ưu tiên sử dụng trong các chương trình huấn luyện.
Khả năng vận động của cơ thể học sinh THPT cũng tuân theo đặc điểm
lứa tuổi, giai đoạn thích nghi với vận động ngắn hơn so với người lớn. Tuy
nhiên vẫn phải khởi động đầy đủ và kĩ để đề phòng chấn thương và bảo đảm
phát huy hết dự trữ chức năng.
21
Trạng thái ổn định của học sinh THPT ngắn hơn người lớn. Ví dụ, khi
thực hiện bài tập công suất trung bình (30 - 40 phút trên xe đạp lực kế), trạng
thái ổn định của trẻ em 15 - 17 tuổi kéo dài 20 - 22 phút, trong khi VĐV 25 -
26 tuổi kéo dài 30 - 32 phút. Dự trữ đường huyết của VĐV trẻ giảm sớm hơn
so với người lớn.
Quá trình mệt mỏi của VĐV thanh thiếu niên cũng phụ thuộc vào đặc
điểm lứa tuổi và được thể hiện ở hai mặt. Thứ nhất trong giai đoạn mệt mỏi,
khả năng vận động nói chung cũng như những chỉ số riêng như tần số động
tác, sức mạnh, độ chuẩn giảm rõ rệt nếu so sánh với người lớn. Thứ hai, mệt
mỏi ở học sinh THPT xuất hiện ngay cả khi môi trường bên trong của cơ thể
mới chỉ có những biến đổi tương đối nhỏ [3].
Quá trình hồi phục cũng phụ thuộc vào giai đoạn lứa tuổi. Sau các bài
tập yếm khí (tốc độ cao, thời gian ngắn), sự hồi phục khả năng vận động, các
chức năng sinh lý và dinh dưỡng của trẻ em xảy ra nhanh hơn so với người
lớn. Ví dụ, trong hoạt động với công suất tối đa các em 14 - 17 tuổi hồi phục
mức hấp thụ oxy ở phút thứ 12 - 14, trong khi người lớn phải ở phút 16 - 18.
Sau các bài tập kéo dài có tính chất phát triển sức bền, các em lại hồi
phục chậm hơn so với người lớn. Điều này được thể hiện rõ sau các bài tập
lặp lại tăng dần công suất hoặc rút ngắn thời gian nghỉ giữa quãng.
1.3. Đặc điểm tố chất sức mạnh.
1.3.1. Khái niệm.
Theo lý luận và phương pháp TDTT thì sức mạnh là khả năng con người
sinh ra lực cơ học bằng sự nỗ lực cơ bắp. Nói cách khác, sức mạnh của con

nâng cao hiệu quả giai đoạn ra sức cuối cùng và thành tích đẩy tạ. Bởi trong
đẩy tạ động tác diễn ra trong điều kiện yếm khí thời gian thực hiện động tác
23
ngắn, năng lượng tiêu hao ít. Như vậy, để tạo ra vận tốc ban đầu lớn nhất cho
tạ thì phải tác dụng vào tạ một lực lớn nhất thì sức mạnh bột phát là yếu
không thể thiếu.
Vì vậy, khi xây dựng các bài tập phát triển sức mạnh bột phát để nâng
cao thành tích đẩy tạ cần phải đảm bảo tính khoa học hợp lý, phù hợp với đặc
điểm giới tính, lứa tuổi VĐV. Do đó, nội dung các bài tập mà chúng tôi lựa
chọn là các bài tập phát triển sức mạnh cơ chi trên, chi dưới, thân mình….
Mục đích của những bài tập này là phát triển sức mạnh bột phát để nâng cao
thành tích đẩy tạ, thông qua đó trang bị cho các em vốn kỹ năng kỹ xảo vận
động cũng như sự say mê, yêu thích thể thao.
Hơn nữa, việc thực hiện kỹ thuật đẩy tạ được giới hạn trong phạm vi
nhất định thực hiện động tác theo cơ chế từ trạng thái tĩnh sang trạng thái
động quãng đường tạo đà ngắn. Như vậy, để đảm bảo chỉ tiêu kỹ thuật đưa tạ
đi một quãng đường xa nhất thì sức mạnh bột phát là yếu tố không thể thiếu
trong huấn luyện đẩy tạ hay nói cách khác, tố chất sức mạnh bột phát có mối
liên quan chặt chẽ với thành tích đẩy tạ.
quan.
2.2.3. Phương pháp quan sát sư phạm.
Phương pháp này được sử dụng để quan sát việc huấn luyện của giáo
viên bằng việc đưa ra các bài tập, thời gian tập luyện và nghỉ ngơi; việc tập
luyện của VĐV nam khi thực hiện các bài tập, kỹ thuật, động tác. Đánh giá
được sự tiếp thu lượng vận động, khả năng phối hợp vận động và qua đó xây
dựng được sự phù hợp các bài tập để nâng cao độ tin cậy của đề tài.
2.2.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm.
Chúng tôi tiến hành kiểm tra hai giai đoạn trước thực nghiệm và sau
thực nghiệm để đánh giá hiệu quả quá trình tập luyện nhằm kiểm nghiệm
trong thực tiễn độ tin cậy của các test đánh giá trình độ kỹ thuật cho đối tượng
nghiên cứu. Bao gồm 4 test sau:
Test 1: Bật xa tại chỗ (m): Đánh giá thành tích một lần nhảy
Test 2: Nằm sấp chống đẩy 10 (s) tính số lần: Đánh giá sức mạnh cơ tay
Test 3: Từ tư thế ra sức cuối cùng đẩy tạ 5kg: Đánh giá thành tích một
lần đẩy
Test 4: Kiểm tra thành tích đẩy tạ (m): Đánh giá thành tích một lần đẩy
2.2.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
Phương pháp này nhằm xác định hiệu quả các bài tập đã lựa chọn và
ứng dụng vào thực tiễn huấn luyện. Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi
tiến hành thực nghiệm so sánh với 20 VĐV nam đội tuyển Điền kinh trường
THPT Giao Thủy - Nam Định. Quá trình thực nghiệm chúng tôi chia thành 2
nhóm: Cả 2 nhóm đều có trình độ thể lực, kỹ thuật, số buổi tập, thời gian tập
luyện là như nhau nhưng được tập luyện theo các bài tập khác nhau.
- Nhóm thực nghiệm: Gồm 10 VĐV nam tập các bài tập theo chúng tôi
đã lựa chọn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status