TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
THPT KIM ANH - -
Chuyên ngành: CNKHSP GDTC
- 2015
ĐC : Đối chứng
ĐHSP : Đại học sư phạm
GDTC : Giáo dục thể chất
HLV : Huấn luyện viên
N : Số người
STN : Sau thực nghiệm
STT : Số thứ tự
TD : Thể dục
TDTT : Thể dục thể thao
TĐC : Tốc độ cao
TN : Thực nghiệm
TT : Thể thao
TTN : Trước thực nghiệm
THPT : Trung học phổ thông
VĐV : Vận động viên
XPC : Xuất phát cao
XPT : Xuất phát thấp
2.2. Phương pháp nghiên cứu. 22
2.2.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 22
2.2.2. Phương pháp phỏng vấn 23
2.2.3. Phương pháp quan sát sư phạm 23
2.2.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm 24
2.2.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm 24
2.2.6. Phương pháp toán học thống kê 25
2.3. Tổ chức nghiên cứu 26
2.3.1. Thời gian nghiên cứu 26
2.3.2. Địa điểm nghiên cứu 26
2.3.3. Đối tượng nghiên cứu 26
27
3.1. Đánh giá thực trạng công tác GDTC và sự phát triển sức nhanh trong
chạy 100m của nữ đội tuyển điền kinh trường THPT Kim Anh -
Sóc Sơn - Hà Nội. 27
3.1.1. Thực trạng công tác GDTC trường THPT Kim Anh - Sóc Sơn - Hà Nội 27
3.1.2. Thực trạng đội ngũ giáo viên TDTT trường THPT Kim Anh - Sóc Sơn -
Hà Nội 28
3.1.3. Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ công tác GDTC 28
3.1.4. Đánh giá thực trạng sử dụng bài tập phát triển sức nhanh của nữ đội
tuyển điền kinh trường THPT Kim Anh - Sóc Sơn - Hà Nội 29
3.1.5. Thành tích thi đấu của nữ đội tuyển Ðiền kinh trường THPT Kim Anh -
Sóc Sơn - Hà Nội trong những năm gần đây 30
3.2. Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả bài tập phát triển sức nhanh
nâng cao thành tích chạy 100m cho nữ đội tuyển điền kinh trường
THPT Kim Anh - Sóc Sơn - Hà Nội 31
3.2.1. Lựa chọn bài tập phát triển sức nhanh nâng cao thành tích chạy 100m cho nữ
đội tuyển điền kinh trường THPT Kim Anh - Sóc Sơn - Hà Nội 31
3.2.2. Ứng dụng và đánh giá hiệu quả bài tập phát triển sức nhanh trong chạy
Anh - Sóc Sơn - Hà Nội
28
Bảng 3.2
Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho công tác GDTC
29
Bảng 3.3
Bài tập phát triển sức nhanh chạy 100m đang được
trường THPT Kim Anh - Sóc Sơn - Hà Nội áp dụng
29
Bảng 3.4
Kết quả phỏng vấn lựa chọn bài tập phát triển sức nhanh
(n=20)
32
Bảng 3.5
Kết quả phỏng vấn lựa chọn các test đánh giá sức nhanh
chạy 100m cho nữ đội tuyển điền kinh (n=20)
34
Bảng 3.6
Kết quả các test kiểm tra trước thực nghiệm của 2 nhóm
( = =8)
35
Bảng 3.7
Tiến trình thực nghiệm
37
Bảng 3.8
Kết quả các test kiểm tra sau thực nghiệm của 2 nhóm
( = =8)
38
Bảng 3.9
Kết quả test kiểm tra trước và sau thực nghiệm của nhóm
nay với sự phát triển như vũ bão của các ngành khoa học, như khoa học tự
nhiên, khoa học xã hội, thì khoa học thể dục thể thao cũng phát triển rực rỡ
thành tích của các môn thể thao cũng ngày càng phát triển các kỉ lục được
thiết lập và phá vỡ thay thế bằng kỉ lục mới với thành tích nhanh hơn, cao hơn
và xa hơn.
TDTT có vai trò quan trọng trong giáo dục, bởi nó là hoạt động có tác
dụng nhiều mặt tới thể chất và tinh thần của con người. Nhận thức rõ được tầm
quan trọng của TDTT, trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước ta luôn
quan tâm đến phong trào TDTT như: Đầu tư trang thiết bị, dụng cụ tập luyện
và thi đấu thể thao. Thành lập và huấn luyện các đội tuyển nhằm phát triển thể
thao thành tích cao. Dưới sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, hầu hết các môn
thể thao đã được đưa vào các trường từ cấp phổ thông đến bậc đại học với nội
dung và hình thức phong phú, đa dạng như: Bóng chuyền, Bóng rổ, Cầu lông,
Điền kinh, Thể dục. Trong đó, Điền kinh là môn thể thao có tác dụng phát triển
các tố chất thể lực cho con người như: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khả năng
phối hợp vận động; giáo dục năng lực thực hành, ý thức kỷ luật, tính tự giác
tích cực và ý chí vươn lên cho người học. Ngoài ra, môn điền kinh còn là một
2
nội dung cơ bản không thể thiếu của hầu hết các chương trình giảng dạy của
các trường phổ thông, trung cấp, cao đẳng và đại học.
Trong môn điền kinh, chạy 100m là môn được nhà trường đặc biệt
quan tâm. Tập luyện và thi đấu chạy 100m đòi hỏi vận động viên phải hội tụ
đầy đủ các tố chất thể lực và khả năng phối hợp vận động. Trong đó, việc phát
triển sức nhanh là rất quan trọng và là khâu then chốt vì nó ảnh hưởng trực
tiếp đến thành tích môn chạy 100m. Qua quá trình theo dõi, tìm hiểu về quá
trình học tập và tập luyện của các em nữ đội tuyển điền kinh trường THPT
Kim Anh - Sóc Sơn - Hà Nội, tôi thấy hiệu quả chưa được cao, đặc biệt là sức
nhanh trong chạy 100m.
Trong quá trình nghiên cứu tài liệu chúng tôi được biết môn chạy 100m
dân khỏe mạnh là góp phần làm cả nước khỏe mạnh. Vậy nên tập thể dục bồi
dưỡng sức khỏe là bổn phận của mỗi người dân yêu nước”. Lời kêu gọi của
Bác đã được toàn Đảng, toàn dân hưởng ứng và thực hiện. Các hoạt động thể
thao được phát triển mạnh mẽ cả về chiều sâu và chiều rộng.
Thấy rõ được những lợi ích to lớn mà việc rèn luyện TDTT mang lại
nên trong hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
tại điều 41 đã quy định: “Nhà nước thống nhất quản lí sự nghiệp phát triển
thể dục thể thao, quy định chế độ giáo dục thể chất bắt buộc trong trường
học, khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình thức thể dục thể thao tự
nguyện của nhân dân, tạo điều kiện để không ngừng mở rộng các hoạt động
thể dục thể thao chuyên nghiệp, bồi dưỡng các tài năng thể thao”.
Chỉ thị 36/CT/TW ngày 24/3/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
(khóa VII) giao trách nhiệm cho Bộ Giáo dục - Đào tạo và Tổng cục TDTT
thường xuyên phối hợp chỉ đạo tổng kết công tác GDTC, cải tiến chương
trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể đào tạo giáo viên TDTT cho
trường học các cấp, tạo những điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất để thực
hiện chế độ GDTC bắt buộc ở tất cả các trường học, làm cho việc tập luyện
4
TDTT trở thành nếp sống hang ngày của hầu hết học sinh, sinh viên, qua đó
phát hiện và tuyển chọn được nhiều tài năng thể thao cho quốc gia.
Luật Giáo dục được Quốc hội khóa IX Nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thông qua ngày 2/12/1998 và pháp lệnh TDTT được Ủy ban
Thường vụ Quốc hội thông qua tháng 9/2000 quy định:“Nhà nước coi trọng
TDTT trong trường học nhằm phát triển và hoàn thiện thể chất cho tầng lớp
thanh niên nhi đồng. GDTC là nội dung giáo dục bắt buộc đối với học sinh,
sinh viên được thực hiện trong hệ thống giáo dục quốc dân từ mầm non đến
đại học. TDTT trường học bao gồm việc tiến hành chương trình GDTC bắt
buộc và tổ chức TDTT ngoại khóa cho người học. Nhà nước khuyến khích và
tạo điều kiện cho học sinh được tập TDTT phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và
thân thể thường xuyên, giáo dục phẩm chất đạo đức, ý chí, tính tập thể, tinh
thần đoàn kết, ý thức tổ chức kỉ luật….
Mục tiêu của nền giáo dục nước ta đặt ra phải đào tạo ra những con
người phát triển toàn diện về các mặt: đức, trí, thể, mỹ. Nên bên cạnh công tác
giáo dục văn hóa thì GDTC cũng chiếm một vị trí quan trọng. Nó là một tiền
đề giúp người học có đủ sức khỏe, tinh thần thoải mái, sảng khoái để tiếp thu
kiến thức của các môn khác.
GDTC trường học là cơ sở, nền tảng của TDTT quốc dân. Đây là một
chiến lược quan trọng và có tác dụng lâu dài vì lực lượng học sinh, sinh viên
là lực lượng rất đông đảo và nhiệt tình trong việc tham gia tập luyện TDTT.
Phong trào TDTT trong học sinh, sinh viên phát triển sẽ kéo theo phong trào
thể thao quần chúng phát triển và đây cũng là cơ sở để tuyển chọn, bồi dưỡng
các tài năng thể thao tiến đến thể thao thành tích cao.
6
GDTC trong trường học làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của
người học. Nó là cầu nối để người học giao lưu, học hỏi, đoàn kết lại với
nhau. Nó khích lệ lòng tự tin, dũng cảm của bản thân người học có khát khao
khẳng định bản thân mình.
GDTC trong trường học là yếu tố cơ bản để chuẩn bị cho lao động sản
xuất và sẵn sàng bảo về tổ quốc. Vì kết quả hoạt động GDTC nên trình độ
hoạt động thể lực của người học sẽ được nâng cao. Đó là cơ sở để tiếp thu các
thao tác lao động và giải quyết các nhiệm vụ mà thực tiễn đòi hỏi người lao
động và giải quyết các kỹ xảo vận động hoàn thiện. GDTC còn giúp các em
rèn luyện ý chí, tinh thần vượt khó, lòng tự tôn dân tộc, từ đó sẵn sàng tham
gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nội dung huấn luyện thể thao nói chung và điền kinh nói riêng là quá
động, tăng tri thức để hình thành những nền tảng ban đầu của tài năng thể thao.
Đặc điểm của giai đoạn này là sử dụng rộng rãi các phương pháp,
phương tiện huấn luyện, song có tính tới đặc thù của chạy ngắn.
Để huấn luyện tốc độ ở giai đoạn này không nên cho các em chạy với
tốc độ cực đại quá nhiều. Tập chạy trong các điều kiện khó khăn (chạy trên
bậc cầu thang, chạy trên dốc, chạy trên cát) luân phiên với chạy trong điều
kiện bình thường. Cần nhớ rằng điều quan trọng khi huấn luyện sức nhanh là
tình trạng hưng phấn tối ưu của hệ thần kinh trung ương, khi mà vận động
viên chưa bị mệt mỏi bởi những hoạt động trước đó. Vì vậy, các hoạt động
tốc độ cần được áp dụng ngay sau phần khởi động.
Để huấn luyện tốc độ có thể sử dụng các môn bóng (bóng đá, bóng rổ,
bóng ném) đòi hỏi phải sử dụng sức nhanh trong các tình huống thay đổi.
8
Trong những năm chuyên môn hóa ban đầu cần đặc biệt thận trọng tuân thủ
giới hạn cường độ của lượng vận động vì lúc này là lúc cơ thể các em đang
phát triển.
Đặc điểm của giai đoạn này là tính chuyên môn hóa được thể hiện rõ
hơn. Tỷ trọng huấn luyện chuyên môn về thể lực, kỹ thuật, tâm lý được tăng
lên đáng kể. Khối lượng và cường độ của các phương tiện huấn luyện chủ yếu
tăng nhiều so với giai đoạn trước. Với mục đích hoàn thiện trình độ huấn
luyện về thể lực, kĩ thuật của vận động viên chạy ngắn, vẫn nên đa dạng hóa
các phương tiện huấn luyện và tỉ trọng tích hợp, đa dạng hóa điều kiện thực
hiện chúng và vị trí tiến hành tập luyện. Đây là giai đoạn vận động viên tập
luyện thể thao tích cực nhất đồng thời bộc lộ khả năng thể thao và đạt trình độ
điêu luyện về thể thao. Trong quá trình tập luyện thể hiện rõ đặc điểm của
chuyên môn hóa sâu như : thể lực, kỹ - chiến thuật, tâm lý cũng như được
nâng lên đáng kể nhờ tăng khối lượng đào tạo chung và cả khối lượng các bài
tập đào tạo chuyên môn cũng như các bài tập thi đấu. Tổng khối lượng và
sức bền tốc độ. Trong đó, sức nhanh đóng vai trò quyết định đối với thành
tích chạy cự li 100m, các tố chất này có mối quan hệ hữu cơ với nhau, tố chất
này củng cố cho tố chất kia phát triển. Nếu như thiếu đi một trong ba yếu tố
trên thì ảnh hưởng không nhỏ đến việc nâng cao thành tích chạy 100m.
+ Tố chất sức nhanh giúp đạt được tốc độ trong khi chạy.
+ Tố chất sức mạnh tốc độ giúp cho mỗi bước chạy có lực đạp ở chân
sau, tăng khả năng thực hiện động tác hiệu quả.
+ Tố chất sức bền tốc độ giúp duy trì được tốc độ trên toàn cự li chạy
100m.
10
Sức nhanh là khả năng thực hiện động tác trong thời gian ngắn nhất ở
một điều kiện nhất định. Người ta phân biệt ba hình thức biểu hiện sức nhanh
như sau:
+ Thời gian tiềm tàng của phản ứng vận động.
+ Tốc độ động tác.
+ Tần số động tác.
Các hình thức đơn giản của sức nhanh tương đối độc lập với nhau. Đặc
biệt những chỉ số về thời gian phản ứng vận động hầu như không tương quan
với tốc độ động tác. Những hình thức kể trên là thể hiện các năng lực tốc độ
khác nhau.Trong thực tiễn thì sức nhanh được biểu hiện tổng hợp.Thí dụ:
thành tích chạy ngắn phụ thuộc vào thời gian phản ứng vận động, tốc độ động
tác đơn và tần số bước chạy. Trong động tác có sự phối hợp phức tạp thì tốc
độ không chỉ phụ thuộc vào sức nhanh mà còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố
khác.Thí dụ: trong chạy thì tốc độ phụ thuộc vào độ dài bước chạy và tần số
của bước, còn bước chạy lại phụ thuộc vào độ dài chi dưới và lúc đạp sau. Vì
vậy, tốc độ động tác hoàn chỉnh biểu hiện gián tiếp sức nhanh của con người
cho nên trong khi phân tích đánh giá sức nhanh của con người phải căn cứ
vào mức độ phát triển của từng hình thức đơn giản của nó.
tác đặc biệt ở những điểm tiếp của động tác. Do đó, các bài tập kéo dãn và thả
lỏng phải luôn luôn là thành phần của huấn luyện nhằm phát triển sức nhanh.
Việc đạt được sức nhanh cao nhất phụ thuộc một cách quyết định vào
sự nỗ lực của ý chí. Bởi vì trong huấn luyện cự li ngắn không có một sự bắt
buộc bên ngoài nào trực tiếp tác dụng lên vận động viên, như khi nâng một
12
quả tạ nặng hoặc khi nhảy cao nên khó sử dụng sức mạnh và ý chí một cách
tối đa. Dó đó, đòi hỏi phải đạt được những thành tích lớn về mặt ý chí thông
qua các yêu cầu cao trong huấn luyện, trong đó một điều kiện không thể thiếu
được là thông báo tốc độ đạt được bằng sự đo chính xác về thời gian. Điền
này được tiến hành tốt nhất trong huấn luyện thi đấu với đối phương.
Như vậy, sức nhanh phụ thuộc chủ yếu vào tính linh hoạt của quá trình
thần kinh cơ và tốc độ co cơ. Cả hai nhóm mặc dù biến đổi dưới tác dụng của
tập luyện nhưng nói chung đều là những yếu tố được quy định với các đặc
điểm di truyền do đó trong quá trình tập luyện, sức nhanh biến đổi chậm và ít
hơn sức mạnh và sức bền.
Thời gian của phản ứng vận động gồm 5 giai đoạn:
1. Xuất hiện hưng phấn trong cơ quan cảm thụ.
2. Dẫn truyền hưng phấn vào hệ thần kinh trung ương.
3. Truyền tín hiệu trong tổ chức lưới và hình thành tín hiệu ly tâm.
4. Truyền tín hiệu từ thần kinh trung ương tới cơ.
5. Hưng phấn cơ và hoạt động đáp trả.
Trong giai đoạn thứ ba chiếm nhiều thời gian nhất. Những hoạt động
tác được thực hiện với tốc độ tối đa khác hẳn với động tác chậm về đặc điểm
sinh lý. Sự khác biệt cơ bản thể hiện ở chỗ: Khi thực hiện với tốc độ tối đa thì
khả năng điều chỉnh bằng cảm giác trong tiến hành thực hiện động tác sẽ gặp
khó khăn. Do đó, với tốc độ cao khó có thể thực hiện động tác thật chính xác.
hiệu nào đó trong khoảng thời gian ngắn nhất. Sức nhanh phản ứng vận động
có khả năng “chuyển” rất cao: những người có khả năng phản ứng nhanh
trong tình huống này thì càng dễ có phản ứng nhanh trong tình huống khác.
14
Phương pháp phổ biến nhất trong rèn luyện sức nhanh phản ứng vận
động đơn giản là tập lặp lại với các tín hiệu xuất hiện đột ngột như: tiếng còi,
tiếng súng, với những người mới tập phương pháp lặp lại nhanh chóng đem
lại kết quả tốt.
Trong trường hợp sức nhanh phản ứng giữ vai trò quan trọng người ta
phải sử dụng tới các phương pháp chuyên môn để hoàn thiện nó. Một trong số
phương pháp chuyên môn rèn luyện sức nhanh phản ứng vận động đơn giản
thường áp dụng trong thực tiễn là phương pháp phân tích. Bản chất của
phương pháp này là tách biệt việc hoàn thiện phản ứng với phần nâng cao tốc
độ của động tác tiếp theo.
Như vậy, bài tập sức nhanh phản ứng vận động đơn giản bao gồm 2
phần: tập phản ứng trong điều kiện thuận lợi và tạp tốc độ động tác theo
phương pháp cảm giác vận động do Gelerstein đề xuất năm 1958 để hoàn
thiện phản ứng vận động đơn giản. Phương pháp này dựa trên mối liên quan
chặt chẽ giữa sức nhanh phản ứng và năng lực phân biệt những khoảng thời
gian ngắn. Thông thường những người có khả năng cảm giác tốt và khoảng
thời gian ngắn thì sẽ có sức nhanh phản ứng cao.
Phản ứng vận động phức tạp thường gặp trong thể thao gồm có 2 loại:
phản ứng đối với vật thể di động và phản ứng lựa chọn. Phản ứng đối với vật
thể di động thường gặp trong các môn bóng và các môn đối kháng cá nhân,
phản ứng với vật thể di động thường kéo dài từ 0,25 - 1 giây. Bài tập phản
ứng đối với vật thể di động yêu cầu tập luyện được gia tăng thông qua tốc độ
vật thể tăng tính bất ngờ và rút ngắn cự li. Trò chơi vận động với bóng có tác
dụng rất tốt trong rèn luyện sức nhanh đối với vật thể di động. Trong khi tiến
các tố chất thể lực khác. Một trong các tố chất có liên quan đến thành tích
chạy 100m là tố chất sức mạnh.
Thông thường khi phát huy tốc độ cao nhất, con người phải khắc phục
lực cản bên ngoài khá lớn và tốc độ đạt được là nhờ vào sức mạnh cơ bắp.
Trong vùng trọng lượng vật thể lớn thì tốc độ sức mạnh của con người tăng
lên sẽ làm tốc độ động tác tăng lên và ngược lại. Nếu tập luyện làm tăng tốc
độ tối đa và sức mạnh chỉ tăng trong vùng lực cản bên ngoài nhỏ, còn nếu lực
cản bên ngoài tương đối lớn thì thực tế sẽ không ảnh hưởng nhiều đến tốc độ
động tác. Chỉ có thể tăng đồng thời trị số tối đa của lực và tốc độ mới làm cho
tốc độ tăng lên trong toàn vùng lực cản bên ngoài.
Như vậy, về nguyên tắc có thể tăng tốc độ trong một động tác nào đó
bằng một trong hai cách sau:
+ Tăng tốc độ tối đa.
+ Tăng sức nhanh tối đa.
Kinh nghiệm cho thấy, nâng cao tốc độ tối đa là việc làm khó khăn,
trong khi đó nâng cao sức mạnh đơn giản hơn nhiều.Vì vậy, trong thực tiễn
người ta sử dụng rộng rãi các bài tập sức mạnh để nâng cao tốc độ. Hiệu quả
của các bài tập sức mạnh càng cao khi lượng đối kháng tập luyện càng lớn.
Trong quá trình rèn luyện sức mạnh để nâng cao tốc độ cần giải quyết
hai nhiệm vụ cơ bản sau:
+ Nâng cao sức mạnh tốc độ.
+ Rèn luyện khả năng phát huy sức mạnh lớn trong điều kiện vận động
nhanh.
Để rèn luyện khả năng nhanh chóng phát huy sức mạnh, trong trường
hợp này càng căng cơ tối đa được tạo lên bằng lượng đối kháng dưới mức
giới hạn và tốc độ lớn nhất. Trong rèn luyện sức mạnh tốc độ cần lưu ý rằng
động tác phải thực hiện với biên độ cực đại. Nếu thực hiện động tác với biên
17
nhanh. Hơn nữa, mức độ kĩ thuật của bài tập vượt quá tiếp thu với người tập.
Nhưng cuối cùng họ không tiếp thu kỹ thuật một cách chính xác.
Để khắc phục những nhược điểm nêu trên, trong huấn luyện kỹ thuật
bài tập tốc độ cần tuân thủ 2 nhiệm vụ sau:
+ Cần tiến hành dạy học động tác ở tốc độ xấp xỉ tối đa (9/10 sức). Để
cấu trúc sức mạnh tốc độ không khác biệt so với khi thực hiện với tốc độ tối
đa, đồng thời có thể kiểm tra kỹ thuật.
+ Cần biến đổi tốc độ thực hiện động tác từ thấp tới cực đại.
Bên cạnh tố chất sức mạnh tốc độ thì tố chất sức bền, khả năng phối
hợp vận động và khả năng khéo léo cũng ảnh hưởng rất lớn tới thành tích
chạy 100m.
Tố chất sức bền đảm bảo sự duy trì khả năng vận động trong thời gian
dài của người tập, tập luyện sức bền nhằm nâng cao các cấu trúc chức năng,
chức phận, nâng cao khả năng hấp thụ oxy nên cơ thể sẽ duy trì được khả
năng hoạt động thể lực lâu dài với cường độ và công suất lớn trong quá trình
nâng cao thành tích chạy 100m.
Khả năng phối hợp vận động và khéo léo đóng vai trò quan trọng trong
việc nâng cao hiệu quả của quá trình huấn luyện. Khả năng phối hợp vận
động đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng của cơ thể tránh được các động tác
thừa, sự tiêu hao năng lượng không cần thiết. Mềm dẻo làm tăng biên độ tác
động, tăng khả năng thả lỏng tạo thuận lợi cho quá trình chuyển đổi từ động
tác này sang động tác khác.
Tóm lại, tốc độ tối đa mà con người có thể phát huy trong một hoạt
động nào đó phụ thuộc chủ yếu vào sức nhanh, ngoài ra còn phụ thuộc vào
nhiều nhân tố khác.Vì vậy, để có được hiệu quả cao trong quá trình rèn luyện