TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC THẺ CHẤT
TRIỆU THỊ DUYÊN
LựA CHỌN BÀI TẬP PHÁT TRIỂN • •
•
SỨC NHANH NÂNG CAO THÀNH TÍCH CHẠY
100M CHO NỮ ĐỘI TUYỂN ĐIÊN KINH
•
9
TRƯỜNG THPT KIM ANH - SÓC SƠN - HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
• • • •
Chuyên ngành: CNKHSP GDTC
Hướng dẫn khoa học
ThS.VŨ TUẤN ANH
HÀ NÔI - 2015
Tên tôi là TRIỆU THI DUYÊN
Sinh viên lớp K37 GDTC, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Tôi xin cam
đoan đề tài này là của riêng tôi, chưa được bảo về trước hội đồng khoa học nào.
Toàn bộ những vấn đề đưa ra bàn luận, nghiên cứu đều mang tính thời sự, cấp
thiết và đúng với thực tế khách quan của trường THPT Kim Anh - Sóc Sơn - Hà Nội.
Hà Nội, ngày tháng năm 2015 Sinh viên
Triệu Thị Duyên
(s) : Giây
Đ : Điểm
ĐC : Đối chứng
ĐHSP : Đại học sư phạm
GDTC : Giáo dục thể chất
HLV : Huấn luyện viên
N : Số người
STN : Sau thực nghiệm
STT : Số thứ tự
trường THPT Kim Anh - Sóc Sơn - Hà Nội áp dụng
29
Bảng 3.4
Kêt quả phỏng vân lựa chọn bài tập phát triên sức nhanh
(n=20)
32
Bảng 3.5
Kêt quả phỏng vân lựa chọn các test đánh giá sức nhanh
chạy lOOm cho nữ đội tuyển điền kinh (n=20)
34
Bảng 3.6 Kêt quả các test kiêm tra trước thực nghiệm của 2 nhóm
ỢI
A =
n.
B
=8)
35
Bảng 3.7 Tiên trình thực nghiệm 37
Bảng 3.8 Kêt quả các test kiêm tra sau thực nghiệm của 2 nhóm
ỌI
A =
ĨI
B
=8)
38
Bảng 3.9
Kêt quả test kiêm ừa trước và sau thực nghiệm của nhóm
đối chứng
39
Bảng 3.10
quan trọng của TDTT, trong những năm gàn đây Đảng và Nhà nước ta luôn
quan tâm đến phong ừào TDTT như: Đầu tư trang thiết bị, dụng cụ tập luyện
và thi đấu thể thao. Thành lập và huấn luyện các đội tuyển nhằm phát triển thể
thao thành tích cao. Dưới sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, hầu hết các
môn thể thao đã được đưa vào các trường từ cấp phổ thông đến bậc đại học với
nội dung và hình thức phong phú, đa dạng như: Bóng chuyền, Bóng rổ, cầu
lông, Điền kinh, Thể dục. Trong đó, Điền kinh là môn thể thao có tác dụng
phát triển các tố chất thể lực cho con người như: Sức nhanh, sức mạnh, sức
bền, khả năng phối họp vận động; giáo dục năng lực thực hành, ý thức kỷ luật,
tính tự giác tích cực và ý chí vươn lên cho người học. Ngoài ra, môn điền kinh
còn là một nội dung cơ bản không thể thiếu của hầu hết các chương trình giảng
5
dạy của các trường phổ thông, trang cấp, cao đẳng và đại học.
Trong môn điền kinh, chạy lOOm là môn được nhà trường đặc biệt quan
tâm. Tập luyện và thi đấu chạy lOOm đòi hỏi vận động viên phải hội tụ đầy đủ
các tố chất thể lực và khả năng phối hợp vận động. Trong đó, việc phát triển
sức nhanh là rất quan trọng và là khâu then chốt vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến
thành tích môn chạy lOOm. Qua quá trình theo dõi, tìm hiểu về quá trình học
tập và tập luyện của các em nữ đội tuyển điền kinh trường THPT Kim Anh -
Sóc Sơn - Hà Nội, tôi thấy hiệu quả chưa được cao, đặc biệt là sức nhanh trong
chạy lOOm.
Trong quá trình nghiên cứu tài liệu chúng tôi được biết môn chạy lOOm
đã có một số tác giả nghiên cứu như: Nguyễn Thị Men(K33) khóa luận tốt
nghiệp năm 2011, Lê Thị Kim Thuý(K36) khóa luận tốt nghiệp năm 2014,
Lâm Đức Thuận(K33) Khoa GDTC Trường ĐHSP Hà Nội 2 Tuy nhiên,
chưa có tác giả nào nghiên cứu sức nhanh nhằm nâng cao thành tích chạy
lOOm cho nữ đội tuyển điền kinh Trường THPT Kim Anh - Sóc Sơn - Hà Nội.
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Lựa chọn bài tập phát triển sức nhanh nâng cao thành tích chạy lOOm cho
nữ đội tuyển điển kinh trường THPT Kim Anh - Sóc Sơn - Hà Nội”
]
Chỉ thị 36/CT/TW ngày 24/3/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
(khóa VII) giao trách nhiệm cho Bộ Giáo dục - Đào tạo và Tổng cục TDTT
thường xuyên phối hợp chỉ đạo tổng kết công tác GDTC, cải tiến chương trình
giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể đào tạo giáo viên TDTT cho trường
học các cấp, tạo những điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất để thực hiện chế
độ GDTC bắt buộc ở tất cả các trường học, làm cho việc tập luyện
TDTT trở thành nếp sống hang ngày của hầu hết học sinh, sinh viên, qua đó
phát hiện và tuyển chọn được nhiều tài năng thể thao cho quốc gia.t
1
]
7
Luật Giáo dục được Quốc hội khóa IX Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam thông qua ngày 2/12/1998 và pháp lệnh TDTT được ủy ban Thường
vụ Quốc hội thông qua tháng 9/2000 quy định: “Nhà nước coi trọng TDTT
trong trường học nhằm phát triển và hoàn thiện thể chất cho tầng lớp thanh
niên nhi đồng. GDTC là nội dung giáo dục bẳt buộc đối với học sinh, sinh
viên được thực hiện trong hệ thống giáo dục quốc dân từ mầm non đến đại
học. TDTT trường học bao gồm việc tiến hành chương trình GDTC bắt buộc
và tổ chức TDTT ngoại khóa cho người học. Nhà nước khuyến khích và tạo
điều kiện cho học sinh được tập TDTTphù hợp với đặc điểm lứa tuổi và điều
kiện từng nơi. GDTC là một bộ phận quan trọng để thực hiện mục tiêu giảo
dục toàn diện, góp phần nâng cao dân trỉ, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân
tài, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
”.I
5
Ỉ
1.2. MUC TIÊU, NHIÊM vu VÀ VAI TRÒ CỦA GDTC TRONG
TRƯỜNG HOC
1.2.1. Mục tiêu của giáo dục thể chất trong trường học
chiến lược quan trọng và có tác dụng lâu dài vì lực lượng học sinh, sinh viên là
lực lượng rất đông đảo và nhiệt tình ừong việc tham gia tập luyện TDTT.
Phong ừào TDTT trong học sinh, sinh viên phát triển sẽ kéo theo phong ừào
thể thao quàn chúng phát triển và đây cũng là cơ sở để tuyển chọn, bồi dưỡng
các tài năng thể thao tiến đến thể thao thành tích cao.
GDTC trong trường học làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của
người học. Nó là cầu nối để người học giao lưu, học hỏi, đoàn kết lại với nhau.
Nó khích lệ lòng tự tin, dũng cảm của bản thân người học có khát khao khẳng
định bản thân mình.
GDTC trong trường học là yếu tố cơ bản để chuẩn bị cho lao động sản
9
xuất và sẵn sàng bảo về tổ quốc. Vì kết quả hoạt động GDTC nên trình độ hoạt
động thể lực của người học sẽ được nâng cao. Đó là cơ sở để tiếp thu các thao
tác lao động và giải quyết các nhiệm vụ mà thực tiễn đòi hỏi người lao động và
giải quyết các kỹ xảo vận động hoàn thiện. GDTC còn giúp các em rèn luyện ý
chí, tinh thần vượt khó, lòng tự tôn dân tộc, từ đó sẵn sàng tham gia xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc.
1.3. NỘI DUNG VÀ CÁC GIAI ĐOẠNHUẤN LUYỆN ĐIỀN
KINH
• • •
1.3.1. Nội dung huấn luyện điền kinh
Nội dung huấn luyện thể thao nói chung và điền kinh nói riêng là quá
trình huấn luyện về các mặt: Thể lực, kỹ - chiến thuật, đạo đức, ý chí, tâm lý
và lý luận. Tất cả các mặt này đều có mối liên quan chặt chẽ với nhau và tạo
thành một quá trình thống nhất của việc hoàn thiện thể thao cho vận động viên
điền kinh. Quá trình này được thực hiện thông qua việc sử dụng các phương
tiện, phương pháp huấn luyện chung, huấn luyện chuyên môn và các hình thức
khác nhau của lượng vận động trong tập luyện và thi đấu.
1.3.2. Các giai đoạn huấn ỉuyện điền kinh
Trong quá trình huấn luyện điền kinh nói chung và huấn luyện chạy cự
chưa bị mệt mỏi bởi những hoạt động trước đó. Vì vậy, các hoạt động tốc độ
cần được áp dụng ngay sau phàn khởi động.
Để huấn luyện tốc độ có thể sử dụng các môn bóng (bóng đá, bóng rổ,
bóng ném) đòi hỏi phải sử dụng sức nhanh trong các tình huống thay đổi.
Trong những năm chuyên môn hóa ban đầu cần đặc biệt thận trọng tuân thủ
giới hạn cường độ của lượng vận động vì lúc này là lúc cơ thể các em đang
phát triển.
* Giai đoạn chuyên môn hóa sâu
1
1
Đặc điểm của giai đoạn này là tính chuyên môn hóa được thể hiện rõ
hơn. Tỷ trọng huấn luyện chuyên môn về thể lực, kỹ thuật, tâm lý được tăng
lên đáng kể. Khối lượng và cường độ của các phương tiện huấn luyện chủ yếu
tăng nhiều so với giai đoạn trước. Với mục đích hoàn thiện trình độ huấn luyện
về thể lực, kĩ thuật của vận động viên chạy ngắn, vẫn nên đa dạng hóa các
phương tiện huấn luyện và tỉ trọng tích hợp, đa dạng hóa điều kiện thực hiện
chúng và vị trí tiến hành tập luyện. Đây là giai đoạn vận động viên tập luyện
thể thao tích cực nhất đồng thời bộc lộ khả năng thể thao và đạt trình độ điêu
luyện về thể thao. Trong quá trình tập luyện thể hiện rõ đặc điểm của chuyên
môn hóa sâu như : thể lực, kỹ - chiến thuật, tâm lý cũng như được nâng lên
đáng kể nhờ tăng khối lượng đào tạo chung và cả khối lượng các bài tập đào
tạo chuyên môn cũng như các bài tập thi đấu. Tổng khối lượng và cường độ
tăng nhiều hơn so với giai đoạn trước, khối lượng các cuộc kiểm tra thi đấu
cũng tăng lên rõ rệt và trở thành nội dung không thể thiếu được trong kế hoạch
huấn luyện. Hệ thống tập luyện và thi đấu ngày càng trở nên cá biệt hóa, đào
tạo thể thao phần lớn gắn liền với thành tích thể thao. Do đó, đòi hỏi vận động
viên phải dành nhiêu thời gian và công sức, dồn nhiều tâm trí để tập luyện và
thực hiện chế độ sinh hoạt phù họp, có kế hoạch để đạt được thành tích cao
nhất.
* Giai đoạn hoàn thiện thể thao
lOOm.
1.4. SỨC NHANH VÀ CÁC BIỂU HIỆN CỦA sức NHANH
■
Sức nhanh là khả năng thực hiện động tác trong thời gian ngắn nhất ở
một điều kiện nhất định. Người ta phân biệt ba hình thức biểu hiện sức nhanh
như sau:
+ Thời gian tiềm tàng của phản ứng vận động.
1
3
+ Tốc độ động tác.
+ Tần số động tác.
Các hình thức đơn giản của sức nhanh tương đối độc lập với nhau. Đặc
biệt những chỉ số về thời gian phản ứng vận động hầu như không tương quan
với tốc độ động tác. Những hình thức kể ừên là thể hiện các năng lực tốc độ
khác nhau.Trong thực tiễn thì sức nhanh được biểu hiện tổng hợp.Thí dụ:
thành tích chạy ngắn phụ thuộc vào thời gian phản ứng vận động, tốc độ động
tác đơn và tàn số bước chạy. Trong động tác có sự phối họp phức tạp thì tốc độ
không chỉ phụ thuộc vào sức nhanh mà còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố
khác.Thí dụ: trong chạy thì tốc độ phụ thuộc vào độ dài bước chạy và tần số
của bước, còn bước chạy lại phụ thuộc vào độ dài chi dưới và lúc đạp sau. Vì
vậy, tốc độ động tác hoàn chỉnh biểu hiện gián tiếp sức nhanh của con người
cho nên trong khi phân tích đánh giá sức nhanh của con người phải căn cứ vào
mức độ phát triển của từng hình thức đơn giản của nó.
1.4.1. Đặc điểm sức nhanh
Sức nhanh là một tố chất thể lực để tiến hành các hành vi vận động trong
thời gian ngắn nhất ừong các điều kiện quy định.
Sức nhanh động tác là một trong những cơ sở quyết định thảnh tích trong
nhiều môn thể thao có chu kì.
Trong các môn thể thao có chu kì, sức nhanh động tác cũng đặc biệt
quan trọng đối với toàn bộ hoặc đối với các tình huống từng phần trong các
Dó đó, đòi hỏi phải đạt được những thành tích lớn về mặt ý chí thông qua các
yêu càu cao trong huấn luyện, trong đó một điều kiện không thể thiếu được là
thông báo tốc độ đạt được bằng sự đo chính xác về thời gian. Điền này được
tiến hành tốt nhất trong huấn luyện thi đấu với đối phương.
Như vậy, sức nhanh phụ thuộc chủ yếu vào tính linh hoạt của quá trình
1
5
thần kinh cơ và tốc độ co cơ. Cả hai nhóm mặc dù biến đổi dưới tác dụng của
tập luyện nhưng nói chung đều là những yếu tố được quy định với các đặc
điểm di truyền do đó ừong quá trình tập luyện, sức nhanh biến đổi chậm và ít
hơn sức mạnh và sức bền.
1.4.2. Cơ sở sinh lý, sinh hóa của sức nhanh
Thời gian của phản ứng vận động gồm 5 giai đoạn:
1. Xuất hiện hưng phấn trong cơ quan cảm thụ.
2. Dẩn truyền hưng phấn vào hệ thần kinh trung ương.
3. Truyền tín hiệu trong tổ chức lưới và hình thành tín hiệu ly tâm.
4. Truyền tín hiệu tò thần kinh trung ương tới cơ.
5. Hưng phấn cơ và hoạt động đáp ừả.
Trong giai đoạn thứ ba chiếm nhiều thời gian nhất. Những hoạt động tác
được thực hiện với tốc độ tối đa khác hẳn với động tác chậm về đặc điểm sinh
lý. Sự khác biệt cơ bản thể hiện ở chỗ: Khi thực hiện với tốc độ tối đa thì khả
năng điều chỉnh bằng cảm giác trong tiến hành thực hiện động tác sẽ gặp khó
khăn. Do đó, với tốc độ cao khó có thể thực hiện động tác thật chính xác.
Các động tác rất nhanh và được thực hiện với tần số cao, thí dụ trong
chạy cự li ngắn, cơ chỉ hoạt động tích cực ở những điểm cuối cùng của biên độ
động tác . Động năng được truyền cho một bộ phận nào đó của cơ thể, sau đó
bị triệt tiêu khi các cơ đối kháng tham gia hoạt động và truyền cho bộ phận này
một gia tốc theo hướng ngược lại. Trong động tác tốc độ lớn, hoạt tính của cơ
diễn ra trong thời gian ngắn đến mức cơ không kịp co lại nhiều và thực tế cơ
hoạt động theo chế độ đẳng trường.
tiếng súng, với những người mới tập phương pháp lặp lại nhanh chóng đem lại
kết quả tốt.
Trong trường hợp sức nhanh phản ứng giữ vai trò quan trọng người ta
1
7
phải sử dụng tới các phương pháp chuyên môn để hoàn thiện nó. Một trong số
phương pháp chuyên môn rèn luyện sức nhanh phản ứng vận động đơn giản
thường áp dụng trong thực tiễn là phương pháp phân tích. Bản chất của
phương pháp này là tách biệt việc hoàn thiện phản ứng với phần nâng cao tốc
độ của động tác tiếp theo.
Như vậy, bài tập sức nhanh phản ứng vận động đơn giản bao gồm 2
phàn: tập phản ứng trong điều kiện thuận lợi và tạp tốc độ động tác theo
phương pháp cảm giác vận động do Gelerstein đề xuất năm 1958 để hoàn thiện
phản ứng vận động đơn giản. Phương pháp này dựa trên mối liên quan chặt
chẽ giữa sức nhanh phản ứng và năng lực phân biệt những khoảng thời gian
ngắn. Thông thường những người có khả năng cảm giác tốt và khoảng thời
gian ngắn thì sẽ có sức nhanh phản ứng cao.
1.5.2. Phương pháp rèn ỉuyện sức nhanh phản ứng vận động phức
tạp
Phản ứng vận động phức tạp thường gặp ừong thể thao gồm có 2 loại:
phản ứng đối với vật thể di động và phản ứng lựa chọn. Phản ứng đối với vật
thể di động thường gặp trong các môn bóng và các môn đối kháng cá nhân,
phản ứng với vật thể di động thường kéo dài từ 0,25 - 1 giây. Bài tập phản ứng
đối với vật thể di động yêu càu tập luyện được gia tăng thông qua tốc độ vật
thể tăng tính bất ngờ và rút ngắn cự li. Trò chơi vận động với bóng có tác dụng
rất tốt trong rèn luyện sức nhanh đối với vật thể di động. Trong khi tiến hành
giáo dục phản ứng vận động phức tạp cần phải đảm bảo nguyên tắc tò đơn giản
tới phức tạp và tiến hành theo cách tăng dàn số lượng biến đổi tình huống có
thể xảy ra.
1.5.3. Phương pháp rèn ỉuyện sức nhanh tần sổ động tác
sẽ làm tốc độ động tác tăng lên và ngược lại. Nếu tập luyện làm tăng tốc độ tối
1
9
đa và sức mạnh chỉ tăng trong vùng lực cản bên ngoài nhỏ, còn nếu lực cản
bên ngoài tương đối lớn thì thực tế sẽ không ảnh hưởng nhiều đến tốc độ động
tác. Chỉ có thể tăng đồng thời trị số tối đa của lực và tốc độ mới làm cho tốc độ
tăng lên trong toàn vùng lực cản bên ngoài.
Như vậy, về nguyên tắc có thể tăng tốc độ trong một động tác nào đó
bằng một trong hai cách sau:
+ Tăng tốc độ tối đa.
+ Tăng sức nhanh tối đa.
Kinh nghiệm cho thấy, nâng cao tốc độ tối đa là việc làm khó khăn,
ừong khi đó nâng cao sức mạnh đơn giản hơn nhiều.Vì vậy, trong thực tiễn
người ta sử dụng rộng rãi các bài tập sức mạnh để nâng cao tốc độ. Hiệu quả
của các bài tập sức mạnh càng cao khi lượng đối kháng tập luyện càng lớn.
Trong quá trình rèn luyện sức mạnh để nâng cao tốc độ cần giải quyết
hai nhiệm vụ cơ bản sau:
+ Nâng cao sức mạnh tốc độ.
+ Rèn luyện khả năng phát huy sức mạnh lớn trong điều kiện vận động
nhanh.
Để rèn luyện khả năng nhanh chóng phát huy sức mạnh, trong trường
hợp này càng căng cơ tối đa được tạo lên bằng lượng đối kháng dưới mức giới
hạn và tốc độ lớn nhất. Trong rèn luyện sức mạnh tốc độ cần lưu ý rằng động
tác phải thực hiện với biên độ cực đại. Neu thực hiện động tác với biên độ hạn
chế (có chỗ dừng) thì những mối quan hệ phối hợp bất lợi sẽ được củng cố.
càn phải sử dụng kết hçrp các bài tập sức nhanh với các bài tập sức
mạnh đơn thuần và lấy các bài tập sức mạnh đơn thuần làm cơ sở. Nếu chỉ sử
dụng các bài tập sức mạnh tốc độ thì tốc độ tối đa sẽ không được nâng lên một
cách đáng kể bởi vì ừong các động tác nhanh thời gian tác động lên hệ thần
kinh cơ ngắn, xong khi tập sức mạnh đơn thuần để phát triển tốc độ cần lưu ý
1
cấu trúc sức mạnh tốc độ không khác biệt so với khi thực hiện với tốc độ tối
đa, đồng thời có thể kiểm tra kỹ thuật.
+ Cần biến đổi tốc độ thực hiện động tác tò thấp tới cực đại.
Bên cạnh tố chất sức mạnh tốc độ thì tố chất sức bền, khả năng phối hợp
vận động và khả năng khéo léo cũng ảnh hưởng rất lớn tới thành tích chạy
lOOm.
Tố chất sức bền đảm bảo sự duy trì khả năng vận động ừong thời gian
dài của người tập, tập luyện sức bền nhằm nâng cao các cấu trúc chức năng,
chức phận, nâng cao khả năng hấp thụ oxy nên cơ thể sẽ duy trì được khả năng
hoạt động thể lực lâu dài với cường độ và công suất lớn trong quá trình nâng
cao thành tích chạy lOOm.
Khả năng phối hợp vận động và khéo léo đóng vai trò quan trọng trong
việc nâng cao hiệu quả của quá trình huấn luyện. Khả năng phối hợp vận động
đảm bảo sự phối họp nhịp nhàng của cơ thể tránh được các động tác thừa, sự
tiêu hao năng lượng không cần thiết. Mềm dẻo làm tăng biên độ tác động, tăng
khả năng thả lỏng tạo thuận lợi cho quá trình chuyển đổi từ động tác này sang
động tác khác.
Tóm lại, tốc độ tối đa mà con người có thể phát huy trong một hoạt
động nào đó phụ thuộc chủ yếu vào sức nhanh, ngoài ra còn phụ thuộc vào
nhiều nhân tố khác.Vì vậy, để có được hiệu quả cao ừong quá trình rèn luyện
sức nhanh cần kết họp chặt chẽ với rèn luyện các tố chất thể lực khác và hoàn
thiện kĩ thuật.
1.6. ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÝ CỦA HỌC SINH THPT
Lứa tuổi này cơ thể các em đã phát triển tương đối hoàn chỉnh. Tuy
nhiên, các bộ phận cơ thể vẫn tiếp tục phát triển nhưng tốc độ chậm dần, chức
năng sinh lý tương đối ổn định , khả năng hoạt động thể lực của hệ thống cơ
quan cũng được cao hơn. Sự phát triển cơ thể của cả nam và nữ có sự khác biệt
2
2
gian nhàn dỗi.
Các phẩm chất ý chí đã rõ ràng và mạnh mẽ hơn so với lứa tuổi trước
đó. Các em có thể tiếp thu được những bài tập khó và đòi hỏi cách khắc phục
khó khăn lớn trong tập luyện.
1.6.2. Đặc điểm sinh lý của học sinh THPT
* Hê thần kinh
Đặc điểm lứa tuổi này hệ thần kinh tiếp tục được phát triển và đi đến
hoàn thiện, kỹ năng tư duy, phân tích, tổng họp và trừu tượng được phát triển
tạo điều kiện cho việc hình thành nhanh chóng phản xạ có điều kiện. Do hoạt
động mạnh của tuyến giáp, tuyến sinh dục, tuyến yên làm cho tính hưng phấn
của hệ thần kinh chiếm ưu thế, giữa hưng phấn và ức chế chưa cân bằng làm
ảnh hưởng đến hoạt động thể lực. Do vậy ừong quá trình huấn luyện, giáo
viên, huấn luyện viên cần sử dụng bài tập thích hợp và thường xuyên quan sát
phản ứng cơ thể người tập để có biện pháp giải quyết kịp thời.
* Hệ vận động (hệ cơ xương)
- Hệ xương: Lứa tuổi này hệ xương bắt đàu giảm tốc độ phát triển.Mỗi
năm nữ cao thêm 1 - 2cm, cột sống đã ổn định hình dáng. Vì vậy, có thể
sử dụng một cách rộng rãi các bài tập với khối lượng tăng dần để giúp
vận động viên thích nghi một cách từ từ.
- Hệ cơ: Lứa tuổi này các tổ chức cơ phát triển muộn hơn xương nên cơ
vẫn tương đối yếu, các cơ lớn phát triển tương đối nhanh, các cơ nhỏ
phát triển chậm hơn. Các cơ co phát triển nhanh hơn các cơ duỗi.
* Hê tuần hoàn:
Hệ tuần hoàn đã phát triển và hoàn thiện. Buồng tim phát triển tương
đối hoàn chinh. Mạch đập của nam 60 - 70 lần/phút. Nhưng vận động mạch,
huyết áp hôi phục tương đối nhanh chóng. Vì vậy, ở lứa tuổi này có thể tập
2
4
những bài tập sức bền, những bài tập có khối lượng và cường độ vận động
tương đối lớn nhưng phải thận trọng và thương xuyên kiểm tra theo dõi tình