Khoá luận tốt nghiệp lựa chọn bài tập nâng cao thành tích nhảy cao kiểu nằm nghiêng cho học sinh nam khối 10 trường THPT đa phúc sóc sơn hà nội - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁỎ DỤC THE
CHẤT
ĐINH HỒNG ĐIỆP
LựA CHỌN BÀI TẬP NÂNG CAO
THÀNH TÍCH NHẢY CAO KIỂU NẰM
NGHIÊNG CHO HỌC SINH NAM KHỐI
10 TRƯỜNG THPT ĐA PHÚC - SÓC SƠN
- HÀ NỘI
KHÓA LUÂN TỐT NGHIÊP ĐAI HOC • • •

Chuyên ngành: CNKHSP GDTC
Hướng dẫn khoa học:
ThS. DƯƠNG VĂN vĩ
HÀ NỘI, 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Đỉnh Hồng Điệp
Sinh viên lớp K37 GDTC Trường ĐHSP Hà Nội 2 Tôi xin cam đoan đề
tài này là của riêng tôi, kết quả nghiên cứu của đề tài không trùng với bất cứ
đề tài nào nghiên cứu về vấn đề này tại Trường THPT Đa Phúc - Sóc Sơn -
Hà Nội. Toàn bộ những vấn đề được đưa ra bàn luận nghiên cứu là những vấn
đề mang tính thời sự, cấp thiết và đúng thực tế của trường THPT Đa Phúc.
Hà nội, ngày tháng năm 2015 Sinh viên
Đinh Hồng Điệp
BCH TW
Ban Chấp hành Trung
ương
ĐC Đối chứng
GDTC Giáo dục thể chất
GD-ĐT Giáo dục và đào tạo
QN Quãng nghỉ
SL Số lần

CHƯƠNG 3 KÉT QUẢ NGHIÊN cứu 25
3.1. Đánh giá thực trạng sử dụng bài tập nâng cao thành tích nhảy
cao kiểu nằm nghiêng cho học sinh nam khối 10 trường THPT Đa
Phúc - Sóc Sơn - Hà Nội
25
3.1.1 Thực trạng giáo dục thê chât ở trưòng THPT Đa Phúc - Sóc
Sơn - Hà Nội
25
3.1.1.1. Thực trạng đội ngũ giáo viên TDTT trường
THPT Đa Phúc - Sóc Sơn - Hà Nội
26
3.1.1.2. Thực trạng cơ sở vật chât phục vụ cho giảng
dạy và học tập môn GDTC
26
3.1.1.3. Thực trạng hoạt động ngoại khóa của học
sinh ừuờng THPT Đa Phúc - Sóc Sơn - Hà Nội
27
3.1.2 Thực trạng việc sử dụng bài tập nâng cao thành tích nhảy cao
trong giảng dạy kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng cho học sinh
nam khối 10 trường THPT Đa Phúc - Sóc Son
28
3.1.3 Thực trạng giảng dạy kỹ thuật nhảy cao kiêu năm nghiêng tại
trường THPT
29
3.2. Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả bài tập nhăm nâng
cao thành tích nhảy cao kiểu nằm nghiêng cho học sinh nam khối 10
trường THPT Đa Phúc - Sóc Son - Hà Nội
31
3.2.1 Lựa chọn bài tập nhăm nâng cao thành tích nhảy cao kiêu năm
nghiêng cho học sinh nam khối 10 trường THPT Đa Phúc - Sóc Sơn

37
Bảng 3.6
Tiên trình thực nghiệp bài tập nâng cao thành tích nhảy
cao cho học sinh nam khối 10 trường THPT Đa Phúc -
Sóc Sơn -Hà Nội
40
Bảng 3.7
Kêt quả kiêm tra các test trước thực nghiệm (n
A
= n
B
=
35)
41
Bảng 3.8
Kêt quả kiêm tra các test ở thời điêm sau thực nghiệm
(n
A
=n
B
= 35)
42
Biểu đồ 3.1
Thành tích bật cao tại chô vói bảng của 2 nhóm trước và
sau thực nghiệm
44
Biểu đồ 32
Thành tích chạy xuât phát cao 3 Om của 2 nhóm trước
và sau thực nghiệm
44

đời sống văn hóa, tỉnh thần của nhân dân, nâng cao năng suất lao động
của xã hội và năng lực chiến đẩu của lực lượng vũ trang”. [4]
Trong cuộc sống hiện nay, vị trí công tác TDTT trong nhà trường càng
được xác định theo đúng tầm quan trọng của nó. Thông qua giáo dục trong
bộ môn thể dục, bồi dưỡng cho học sinh những đức tính dũng cảm, giúp học
sinh biết được kĩ năng cơ bản để tập luyện giữ gìn sức khỏe, nâng cao thể
lực, góp phần rèn luyện nếp sống lành mạnh, tác phong nhanh nhẹn, kỉ luật,
thói quen tự giác tập luyện thể dục thể thao, giữ gìn vệ sinh. Có sự tăng tiến
về thể lực, thi đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể và thể hiện khả năng của bản
thân về thể dục thể thao, biết vận dụng những điều đã học vào nếp sinh hoạt
ở trong và ngoài nhà trường, góp phần chuẩn bị cho thế hệ trẻ có nếp sống,
tác phong công nghiệp.
Cùng với sự phát triển của xã hội và khoa học kỹ thuật, các môn thể
thao ngày càng khẳng định vai trò của mình ttong cuộc sống nhất là ttong
quan hệ vói bạn bè quốc tế trong đó có điền kinh. Điền kinh không những là
một môn thể thao phát triển mạnh có mặt ở hàu hết các quốc gia trên thế
giới mà còn là một phương tiện giáo GDTC và thể thao cho mọi lứa tuổi
góp phần giáo dục con người phát triển một cách toàn diện.
Điền kinh được coi là nội dung giảng dạy chính thức trong nhà trường
các cấp, từ cơ sở đến cao đẳng, đại học. Nó là môn học rất cơ bản làm tiền
đề cho các môn khác. Tập luyện điền kinh không đòi hỏi sân bãi, dụng cụ
phức tạp, mà người tập có thể vận dụng mọi địa hình để tập luyện. Đó cũng
chính là lý do môn thể thao này đã thu hút đông đảo mọi tàng lớp đối tượng
tham gia tập luyện. Trong điền kinh có rất nhiều nội dung khác nhau, trong
đó nhảy cao là một nội dung khá hấp dẫn, nó được phát triển từ lâu với
nhiều kỹ thuật nhảy khác nhau. Thành tích nhảy cao phụ thuộc vào rất nhiều
yếu tố và cũng không thể tách rời một giai đoạn nào cả, việc thực hiện tốt
7
các giai đoạn trong kỹ thuật thì thành tích chứng ta sẽ được như ý muốn.
Nhảy cao là một nội dung cơ bản để phát triển các tố chất thể lực. Trước

nâng cao. Góp phần nâng cao thành tích của bộ môn thể thao điền kỉnh nói
chung và môn nhảy cao nói riêng.
Chương 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐÈ NGHIÊN cứu
1.1. Những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước về công tác
giáo dục thể chất
1.1.1. Các quan điểm về GDTC
Trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà nước
ta luôn quan tâm Giáo dục Đào tạo, coi Giáo dục là quốc sách hàng đầu.
Trong đó công tác giáo dục thể chất đặc biệt được quan tâm và chú trọng.
Qua các chặng đường cách mạng, Đảng ta mà người đứng đầu là Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã có những quan điểm nhất quán và vô cùng đúng đắn về
công tác TDTT.
Ngày 27/ 03/ 1946 lời kêu gọi toàn dân tập thể dục của Bác đã phát ra
như một bản tuyên ngôn về TDTT. Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác, khắp
nơi trên cả nước dấy lên phong trào khỏe để kháng chiến, kiến
quốc. TDTT đã góp một phần đáng kể đưa cuộc kháng chiến chống Pháp
và chống Mĩ đến thắng lợi yẻ vang.
Thời kỳ xây dựng Xã hội Chủ nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh thống
nhất đất nước ở miền Nam, từ năm 1954 -1975 Đảng ta đã khẳng định chiến
lược phát triển TDTT trong nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng
9
khóa III là “phát triển TDTT, nâng cao sức khỏe nhân dân,
góp phần xây dựng và bảo vệ miền Bẳc xã hội chủ nghĩa,
giải phóng miền Nam Sau đại hội Đảng làn thứ III năm 1961, Bác Hồ
đã viết thư cho Hội nghị cán bộ TDTT Miền Bắc. Một lần nữa Hồ Chủ Tịch
nhắc đến tầm quan ữọng của TDTT đối với việc nâng cao sức khỏe cho mọi
người. [ 12 ]
Năm 1970, Đảng ra chỉ thị 170/CT - TW về việc phát triển phong trào
thể thao, chỉ thị này đã được nhân dân tích cực hưởng ứng, góp phàn nâng

Kỹ thuật là hệ thống các cử động, các thao tác được thực hiện để giúp
người tập hoàn thành nhiệm vụ vận động với hiệu quả cao nhất. [3]
Để đạt được thành tích tốt nhất trong điền kinh, vận động viên phải
có kỹ thuật thực hiện động tác hợp lý và hiệu quả tốt nhất. Kỹ thuật phải
phù họp với đặc điểm cá nhân của vận động viên và điều kiện thực hiện
động tác.
Thành tích thể thao cao phải dựa ừên sự huấn luyện kỹ thuật, thể lực
cho vận động viên. Để nắm được kỹ thuật, vận động viên phải có sức mạnh,
sức nhanh, sức bền, độ mềm dẻo và sự khéo léo được phát triển ở mức cao.
Một trong những điều kiện cơ bản để nắm vững kỹ thuật thể thao có
hiệu quả là sự tự giác của vận động viên trong tất cả các giai đoạn hoàn
thiện, phải tìm hiểu, suy luận để hiểu rõ kỹ thuật mà mình áp dụng là thực
sự hợp lý hay chưa.
Trong điều kiện hiện nay, khi trình độ thảnh tích thể thao ở mức rất
cao, nếu không nghiên cứu sâu để hoàn thiện kỹ thuật thì không thể đạt
được thành tích cao, nhất là đối với những môn có kỹ thuật phức tạp. Việc
hoàn thiện kỹ thuật được tiếp tục trong suốt quá trình huấn luyện. Huấn
luyện không được bỏ qua việc dạy các thành phần kỹ thuật riêng lẻ, khắc
1
1
phục các sai sót trong kỹ thuật, vốn dự trữ kỹ năng vận động được tạo nên
thông qua việc áp dụng các bài tập huấn luyện chung và huấn luyện chuyên
môn khác nhau. Điều quan ừọng là phải tính đến mối quan hệ hữu cơ giữa
việc phát triển các tố chất thể lực với việc tiếp tục hoàn thiện kỹ thuật.
Nội dung chủ yếu trong việc hoàn thiện kỹ thuật các môn điền kinh là
các phương pháp và phương tiện tạo nên khái niệm đúng về động tác, nắm
vững các động tác thực hành, đánh giá được mình thực hiện, xác định được
sai làm và tìm cách sửa chữa.
1.3. Khái niệm, vai trò và tác dụng của bài tập chuyên môn
Từ trước tới nay, khái niệm về bài tập được nhiều tác giả khác nhau

thích họp với việc tiếp thu kỹ thuật.
- Mang tính dẫn dắt nhằm làm cho người tập nắm được các yếu lĩnh từ
dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ đơn lẻ đến hoàn thiện một
kỹ thuật.
- Mang tính chuyển đổi từ động tác này sang động tác khác với các
không gian và thời gian khác nhau nhằm tạo ra sự lợi dụng các kỹ năng đã
có hình thành ra các kỹ năng mới.
Và có thể đáp ứng cho người học thực hiện thuận lợi các kỹ năng
đang học, người ta còn càn tập các bài tập chuyên môn cho người tập. Muốn
thực hiện tốt kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng người tập phải biết phối
họp giữa chạy đà, giậm nhảy, qua xà và tiếp đất một cách hợp lý. Vì vậy, đi
đôi với các bài tập về kỹ thuật, người ta cũng chú trọng đưa vào trong quá
trình giảng dạy các bài tập để tăng cường một số tố chất thể lực chuyên môn
vừa là biện pháp để nắm kỹ thuật phức tạp và khó, vừa là một khâu quan
trọng để thúc đẩy nhanh quá trình hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động.
1
3
1.4Xu thế nghiên cứu sử dụng các phương tiện bài tập chuyên môn
trong giảng dạy môn nhảy cao kiểu nằm nghiêng nói riềng
Do vai trò tác dụng của to lớn nói trên bài tập đối với quá trình giảng
dạy và huấn luyện kỹ thuật nên nhiều nước có nền công nghiệp hiện đại đã
đàu tư cải tiến, vận dụng những thành quả của ngành khoa học kỹ thuật để
tạo ra nhiều các bài tập chuyên môn.
Nhìn chung, người ta có thể thấy các xu thế nghiên cứu sử dụng bài
tập chuyên môn sau:
* Nghiên cứu phát triển công cụ và phương tiện để sử dụng cho các bài
tập chuyên môn
Các cuộc thi chính thức khởi nguồn lịch sử môn Nhảy cao lần đầu tiên
có từ hơn 100 năm trước. Ngày đó môn Nhảy cao, chủ yếu diễn ra trên hố
cát và các đường chạy bằng đất nện hoặc sỉ than, các kỹ thuật còn nghèo

còn phải tập trung ý thức vào các thao tác, cách thức thực hiện và động tác
chưa ổn định. [8]
Kỹ năng vận động là tổ hợp các động tác vận động trong cuộc sống cá
thể do tập luyện TDTT.
Kỹ xảo vận động là khả năng điều khiển có tính chất tự động hoá với
các động tác trong hành vi vận động toàn vẹn và động tác được tiến hành
với độ vững chắc cao.
* Kỹ năng vận động được hình thành theo 3 giai đoạn:
- Lan toả: Là hưng phấn lan rộng trên vỏ đại não, vì chưa hình thành
được một tổ hợp các phản xạ tối ưu. Nhiều nhóm cơ không cần thiết
cũng tham gia hoạt động. Động tác vì vậy không chính xác, nhiều cử
động thừa, không tinh tế.
1
5
- Tập trung: Là hưng phấn tập trung ở những vùng nhất định trên vỏ
não, cần thiết cho vận động. Các vận động thừa mất đi, cơ năng và co
bóp ở mức độ họp lí, động tác trở nên nhịp nhàng, chính xác và thoải
mái hơn. Khả năng vận động được hình thành tương đối ổn định
- Giai đoạn ổn định: Là không cần có sự chú ý của ý thức. Khả năng
vận động ở giai đoạn này ổn định, cho phép thực hiện nhiều động tác
khác nhau cùng một lúc.
* Các tố chất vận động (tố chất thể lực): Trong sinh hoạt, lao động tập
luyện TDTT, con người phải vận động nhanh, có lúc làm việc lâu dài
với lực tương đối nhỏ, có lúc thực hiện các động tác mang vác rất
nặng, thể hiện các mặt khác nhau của khả năng vận động được gọi là
tố chất vận động hay tố chất thể lực.
Năng lực vận động của con người được thể hiện qua 4 loại tố chất
sau:
* Sức mạnh là khả năng khắc phục trọng tải bên ngoài bằng sự căng cơ.
Sức mạnh cơ bắp phụ thuộc vào đặc tính của quá trình thần kinh điều

Sự phì đại cơ xảy ra do số lượng và khối lượng các tơ cơ, tức là bộ
máy co bóp của sợi cơ, đều tăng lên. Quá trình tổng hợp đạm trong sợi cơ
tăng lên, trong khi sự phân hủy của chúng lại giảm đi. Hàm lượng ARN và
AND trong cơ phì đại tăng cao so với bình thường. Hàm lượng creatin cao
trong cơ khi hoạt động có khả năng khích thích sự tổng họp actin và myozin
và như vậy thúc đẩy sự phì đại cơ.
Các yếu tố thần kinh trung ương điều khiển sự co cơ và phối hợp hoạt
động giữa các cơ trước tiên là khả năng chức năng của nơron thần kinh vận
động, tức là mức độ phát xung động với tần số cao. Như đã biết, sức mạnh
tối đa phụ thuộc vào số lượng đơn vị vận động tham gia vào vận động. Vì
vậy, để phát lực lớn, hệ thần kinh cần phải gây hưng phấn ở rất nhiều nơron
1
7
vận động. Sự hưng phấn đó không quá lan rộng để không gây hưng phấn
các cơ đối kháng, tức là phải tạo ra sự phối họp tương ứng giữa các nhỏm
cơ, tạo điều kiện cho các cơ chủ yếu phát huy hết sức mạnh. Trong quá trình
tập luyện sức mạnh, các yếu tố thần kinh trung ương được hoàn chỉnh dàn,
nhất là khả năng điều khiển sự phối hợp giữa các nhóm cơ của hệ thần kinh
trung ương. Các yếu tố này làm tăng cường sức mạnh chủ động tối đa đáng
kể.
Trên cơ sở các yếu tố nêu trên, cơ sở sinh lý phát triển sức mạnh là
tăng cường số lượng đơn vị vận động tham gia vào hoạt động, đặc biệt là
các đơn vị vận động nhanh, chứa các sợi cơ nhóm II có khả năng phì đại cơ
lớn. Để đạt được điều đó, trọng tải phải lớn để gây hưng phấn mạnh đối với
các đơn vị vận động nhanh có ngưỡng hưng phấn thấp. Trọng tải đó phải
không nhỏ hơn 70% sức mạnh tích cực tối đa.
• Sức nhanh (tốc độ) là khả năng thực hiện động tác trong một khoảng
thời gian ngắn nhất. Sức nhanh có thể được biểu hiện bằng hình thức
đơn giản hoặc hình thức phức tạp. [8]
Sức nhanh như một tố chất thể lực có thể biểu hiện ở dạng đơn giản

làm cho hàm lượng ATP và CP trong các sợi cơ, nhất là sợi cơ nhanh II - A
và II - B tăng lên, tốc độ co cơ còn phụ thuộc vào hoạt tính của men phân
giải và tổng họp ATP và CP.
Trong các hoạt động TDTT, tốc độ và sức mạnh có liên quan mật
thiết với nhau. Mức độ phát triển sức mạnh ảnh hưởng rõ rệt đến sức nhanh.
Kết quả hoạt động phụ thuộc không chỉ vào sức nhanh hay sức mạnh riêng
lẻ mà phụ thuộc vào sự phối hợp họp lý giữa hai tố chất. Các hoạt động như
vậy được gọi là hoạt động sức mạnh - tốc độ (ném, chạy ngắn, nhảy ).
1
9
Như vậy sức nhanh phụ thuộc chủ yếu vào tính linh hoạt của thần
kinh và tốc độ co cơ. Cả hai nhóm các yếu tố ảnh hưởng đó, mặc dù có biến
đổi dưới tác động của tập luyện, nhưng nói chung đều là những yếu tố được
quyết định bởi các đặc điểm di truyền. Do đó quá trình tập luyện, sức nhanh
biến đổi chậm và ít hơn sức mạnh và sức bền. Cơ sở sinh lý để phát triển
sức nhanh và tăng cường độ linh hoạt là tốc độ dẫn truyền hưng phấn ở
trung tâm thần kinh và bộ máy vận động, tăng cường sự phối họp giữa các
sợi cơ và các cơ, nâng cao tốc độ thả lỏng cơ. Các yêu cầu nêu trên có thể
đạt được bằng cách sử dụng các bài tập tần số cao, ừọng tải nhỏ có thời gian
nghỉ dài.
• Sức bền là khả năng thực hiện lâu dài một hoạt động nào đó. Nó thể
hiện khả năng chống đỡ của cơ thể với những biến đổi bên trong, xảy
ra do hoạt động cơ bắp kéo dài. [8]
Trong sinh lý thể thao, sức bền thường đặc trưng cho khả năng thực
hiện các hoạt động thể lực kéo dài từ 2 - 3 phút trở lên, với sự tham gia của
một khối lượng cơ bắp lớn (1/2 toàn bộ lượng cơ bắp của cơ thể), nhờ sự
hấp thụ ôxy để cung cấp năng lượng cho cơ chủ yếu hoặc hoàn toàn bằng
con đường ưa khí. Như vậy sức bền trong thể thao là khả năng thực hiện lâu
dài hoạt động cơ bắp toàn thân hoàn toàn hoặc chủ yếu mang tính ưu khí.
Đó là tất cả các hoạt động ưa khí như chạy 1500m trở lên, đi bộ thể thao,

lactic thấp của VĐV tập luyện sức bền do các yếu tố sau đây quyết định:
- Cơ bắp của VĐV tập luyện sức bền có khả năng trao đổi chất ở điều
kiện hàm lượng ôxy cao, vì vậy, chúng ít sử dụng cách cung cấp năng
lượng yếm khí, có nghĩa là ít tạo ra axit lactic hơn ở người thường.
- Hệ vận chuyển ôxy (hô hấp, máu, tuần hoàn) của VĐV sức bền thích
nghi với vận động nhanh hơn do đó cung cấp ôxy đầy đủ cho cơ thể.
2
1
- Các VĐV tập luyện sức bền có tỷ lệ các sợi cơ chậm cao và cơ tim
phát triển. Các sợi cơ chậm và cơ tim có khả năng sử dụng axit lactic
để làm nhiên liệu cung cấp năng lượng rất tốt. Vì vậy làm cho lượng
axit lactic trong cơ và máu giảm đi.
Như vậy tập luyện sức bền không chỉ làm tăng khả năng hấp thụ ôxy
tối đa, mà còn làm giảm hàm lượng axit lactic trong máu và như vậy làm
tăng khả năng hoạt động ưa khí kéo dài của cơ thể. Đó là một ừong những
cơ chế quan trọng nhất để nâng cao sức bền của VĐV.
Tập luyện sức bền lâu dài làm cho tim biến đối theo hai hướng: Giãn
buồng tim bà phì đại cơ tim. Giãn buồng tim làm cho lượng máu chứa trong
các buồng tim tăng lên. Đó là yếu tố quan trọng để tăng thể tích tâm thu khi
cần thiết. Phì đại cơ tim làm tăng lực co bóp của tim, tức là làm tăng thể tích
tâm thu.
về mặt chức năng, tập luyện sức bền làm giảm tần số co bóp của tim
khi yên tĩnh. Giảm nhịp tim là hiện tượng đặc trưng cho mức độ phát triển
của sức bền. Sự giảm nhịp tim làm cho tim hoạt động kinh tế, ít tiêu hao
năng lượng hơn và có thời gian nghỉ dài hơn.
Quá trình tập luyện thể lực làm biến đổi sự bổ máu giữa các cơ quan
hoạt động và không trực tiếp hoạt động. Vì vậy mà lượng máu đi đến các cơ
bắp trong thời gian vận động ở VĐV sẽ nhiều hơn ở người thường, ở các
VĐV tập luyện sức bền, khả năng khuyếch tán các chất ôxy qua màng mao
mạch cũng tăng lên. Vì vậy lượng ôxy mà cơ có thể nhận được cao hơn.

Các em học sinh THPT là lứa tuổi đã và đang phát triển để đi đến
hoàn thiện. Do đó, ở lứa tuổi này tâm sinh lí của các em cũng có các đặc
điểm riêng và khác so với các lứa tuổi trước đó.
2
3
* Đặc điểm tâm lí:
về mặt tâm lí các em thích chứng tỏ mình là người lớn, muốn để cho
mọi người tôn trọng mình, đã có một trình độ hiểu biết nhất định, có khả
năng phân tích, tổng hợp, muốn biết nhiều, có nhiều hoài bão nhưng còn
nhiều nhược điểm và thiếu kinh nghiệm trong cuộc sống.
Tuổi này chủ yếu là tuổi hình thành thế giới quan, tự ý thức, hình
thành tính cách và hướng về tương lai. Đó cũng là tuổi lãng mạn, ước mơ
độc đáo, mong cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Đây là tuổi đày nhu càu sáng tạo,
nảy nở những tình cảm mới, trong đó có mối tình đàu thường để lại dấu vết
ừong sáng ừong suốt cuộc đời. Thế giới quan không phải là một niềm tin
lạnh nhạt, khô khan, trước hết nó là sự say mê, ước vọng, nhiệt tình.
* Đăc điểm sinh lí

Lứa tuổi này có thể các em đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, các bộ
phận cơ thể vẫn tiếp tục phát triển nhưng tốc độ lớn chậm dần. Chức năng
sinh lý đã tương đối ổn định, khả năng hoạt động của các hệ thống, cơ quan
cơ thể cũng được cao hơn. Ở lứa tuổi này, cơ thể các em vẫn phát triển
chiều cao nhưng trong độ tuổi này các em lại phát triển theo chiều ngang
nhiều hơn, chiều cao vẫn phát triển nhưng chậm.
- Hệ thần kỉnh: Hệ thần kinh tiếp tục phát triển đi đến hoàn thiện khả
năng tư duy, khả năng phân tích, tổng hợp và trừu tượng hóa được
phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành nhanh chóng
phản xạ có điều kiện. Đây là đặc điểm thuận lợi để các em nhanh
chóng tiếp thu và hoàn thiện kỹ thuật động tác. Tuy nhiên, đối với
một số bài tập mang tính đơn điệu, không hấp dẫn cũng làm các em

vụ sau:
2
5

Trích đoạn Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả bài tập nhằm nâng cao thành tích nhảy cao kiểu nằm nghiêng cho học sinh nam Kết quả phỏng vấn đội giáo viên về việc lụa chọn bài tập nâng cao thành tích nháy cao kiểu nằm nghiêng cho học sinh nam khối Kấ quả kiểm tra sau thực nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status