SKKN: “Một số kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng HSG môn ĐỊA LÝ”
I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đảng ta xem việc chọn nhân tài, bồi dưỡng nhân tài là một phần quan
träng trong quốc sách phát triển con người, điều đó được thể hiện qua việc chỉ
đạo dạy và học trong các nhà trường. Nghị quyết TW2 khoá VIII đã chỉ rõ:
“Việc bồi dưỡng học sinh giỏi là nguồn nhân tài cho đất nước được các nhà
trường THPT đặc biệt quan tâm và mọi giáo viên phổ thông đều có nhiệm vụ
phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi”. Việc tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi
và thi học sinh giỏi nhằm: “Động viên khích lệ những học sinh và giáo viên
trong dạy và học, góp phần thúc đẩy việc cải tiến, nâng cao chất luợng giáo
dục, đồng thời phát hiện học sinh có năng khiếu để tiếp tục bồi dưỡng ở cấp
học cao hơn, nhằm đào tạo nhân tài cho đất nước” (Điều 1 – Quy chế thi chọn
học sinh giỏi ban hành theo quyết định 3479/1997/QĐ- BGD&ĐT ngày
01/11/1997). Như vây, đào tạo bồi dưỡng học sinh giỏi là vấn đề cần thiết và
cấp bách, bởi vì hơn lúc nào hết đất nước đang cần những con người tài năng
đón đầu tiếp thu những thành tựu khoa học mới, công nghệ hiện đại để phát
minh ra những sáng kiến đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới hội nhập đất
nước hiện nay. Bồi dưỡng học sinh giỏi ở bậc THPT là phát huy hết khả năng
phát triển “tiềm tàng” của học sinh, là tạo nguồn học sinh giỏi cho các cấp học
tiếp theo, thực hiện chiến lược “bồi dưỡng nhân tài cho đất nước”. Mặt khác,
kết quả bồi dưỡng học sinh giỏi là một tiêu chí không thể thiếu để đánh giá
năng lực chuyên môn của giáo viên và sự phát triển của các nhà trường, mỗi
học sinh giỏi không chỉ là niềm tự hào của cha mẹ, các thầy cô giáo mà còn là
niệm tự hào của cả cộng đồng. Tuy nhiên thực tế nhiều năm trước đây, việc
bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và bộ môn ĐỊA LÝ nói riêng ở trường
THPT Quảng Xương I chưa đạt được kết quả như mong muốn.
Với những lý do như trên, tôi chọn đề tài: “Một số kinh nghiệm trong
công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn ĐỊA LÝ ở trường THPT”.
2. Mục đích của đề tài
Thông qua việc với các đồng nghiệp đồng môn nhằm nâng cao hiệu
1.1. Thực trạng
2
1.2. Kết quả của thực trạng trên
2
2. Giải pháp thực hiện
3
2.1. Thành lập đội tuyển
3
2.1.1. Phát hiện, lựa chọn và tổ chức thành lập đội tuyển HSG môn ĐỊA LÝ
3
2.1.2. Giúp đỡ, động viên, khuyến khích các em trong đội tuyển thường xuyên, kịp thời
5
2.2. Xây dựng kế hoạch, sử dụng phương pháp bồi dưỡng đội tuyển một cách khoa học, đúng
hướng và có hiệu quả
6
2.3. Rèn luyện kỹ năng tự học, đọc tài liệu, khai thác kiến thức
7
2.4. Coi trọng khâu ra đề, đáp án và chấm chữa, rèn luyện kỹ năng làm bài cho học sinh
7
2.4.1. Ra đề và đáp án
7
2.4.2. Chấm, chữa, sửa lỗi và rèn luyện kỹ năng làm bài cho học sinh…………….10
2.5. Phân loại học sinh trong quá trình bồi dưỡng………………………………….12
2.6. Tăng cường trao đổi, giao lưu, lắng nghe ý kiến phản hồi từ học sinh…… ….13
2.7. Yêu cầu cao và giao nhiệm vụ cho học sinh……………………………….… 14
2.8. Tranh thủ sự đồng thuận của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường….…14
III. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ ĐỀ XUẤT KIẾN NGHI………………………….….15
Người thực hiện: Đỗ Minh Phương – Trường THPT Quảng Xương I
2
SKKN: “Một số kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng HSG môn ĐỊA LÝ”
không ít phụ huynh và học sinh thì môn ĐỊA LÝ vẫn bị coi là “môn phụ”, nên
hầu như học sinh không có sự đầu tư cho môn học này.
Thực tế trên đã không những làm giảm lòng nhiệt tình, tâm huyết và sự
đam mê của giáo viên dạy ĐỊA LÝ nói chung và giáo viên bồi dưỡng đội
tuyển nói riêng mà còn ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý, sự tự tin của một số rất
ít học sinh sẽ tham gia đội tuyển. Cách đây nhiều năm, cũng giống
như đa số các trường THPT trong toàn tỉnh, mặc dù Ban giám hiệu trường
THPT Quảng Xương I rất quan tâm đến công tác bồi dưỡng đội tuyển học
sinh giỏi, nhưng kết quả của môn ĐỊA LÝ hàng năm không cao, có năm
không có giải. Thông thường bước vào năm học lớp 12, cuối học kỳ I mới
chính thức thành lập đội tuyển môn ĐỊA LÝ. Vì thế giáo viên phụ trách trực
tiếp lên kế hoạch phụ đạo cho các em một số buổi để đi thi Từ thực tế trên,
Người thực hiện: Đỗ Minh Phương – Trường THPT Quảng Xương I
4
SKKN: “Một số kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng HSG môn ĐỊA LÝ”
Ban giám hiệu đã thay đổi cách chỉ đạo, không để cho việc bồi dưỡng tự phát
trong giáo viên, học sinh mà giao khoán hẳn cho giáo viên có kế họach chọn
đội tuyển ngay từ đầu năm học lớp 12. Với cách làm này chất luợng và số
lượng đã có thay đổi nhưng kết quả đạt được còn rất hạn chế, tỷ lệ học sinh
đạt giải ít, chưa đủ chỉ tiêu và đặc biệt không có giải cao.
1.2. Kết quả của thực trạng trên
Năm học
Số HS dự
thi
Số HS đạt giải
Xếp loại
cấp tỉnh
Nhất Nhì Ba
Khuyến
khích
Vì thế tôi nhận thấy, giáo viên dạy đội tuyển môn ĐỊA LÝ phải là
người truyền được “lửa” cho học sinh. Tức là phải khơi dậy ở các em sự yêu
thích môn học, niềm tin và lòng say mê để các em tự giác tham gia với động
cơ đúng đắn và có quyết tâm thi đạt kết quả cao. Có thể nói, đây là khâu quan
trọng nhất tác động đến tâm lý học sinh thực sự có hiệu quả vì nó quyết định
việc các em sẽ học và thi như thế nào. Để làm được điều này, theo tôi giáo
viên vừa đóng vai trò là người thầy đồng thời cũng là người bạn lớn của các
em, để phân tích và chỉ ra cho các em thấy được những lợi thế khi tham gia
đội tuyển học sinh giỏi. Đó chính là phương pháp học như thế nào để nhớ
nhanh, nhớ kỹ và nhớ chính xác nhất. Điều này đặc biệt quan trọng và cần
thiết đối với kiến thức các môn xã hội. Ngoài ra, còn giúp các em kỹ năng xác
định đề, phân tích đề, khả năng lập luận tư duy, vận dụng kiến thức để giải
quyết vấn đề trong các môn khoa học tự nhiên. Và điều quan trọng hơn đó là
các em được trải nghiệm phương pháp học tập cũng như tâm lý khi bước vào
kỳ thi, từ đó có sự điều chỉnh bổ sung phù hợp kịp thời… Có thể nói, đó chính
là những bước đi ngắn giúp các em tiến đến kỳ thi tốt nghiệp THPT và thi đại
học vững chắc hơn.
Ngoài phương pháp truyền thống là cho học sinh tự đăng ký, qua
từng tiết học, từng bài kiểm tra đánh giá, giáo viên cần phát hiện những học
sinh có khả năng trình bày bài, khả năng vận dụng và giải quyết vấn đề, giải
quyết tình huống và thông qua giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn giới
thiệu để lựa chọn, động viên các em tham gia đội tuyển học sinh giỏi cấp
trường tạo nguồn đội tuyển học sinh giỏi cấp tỉnh. Vì thế, có những em học
lực còn rất hạn chế, song các em cũng hăng hái đăng ký dự thi với mong
muốn được học hỏi nhiều hơn. Kết quả là số luợng học sinh đăng ký ngày
càng tăng, năm sau cao hơn năm trước. Năm học 2008-2009 là 35 em, năm
học 2009-2010 là 40 em, năm học 2011-2012 là 47 em… Từ nguồn học sinh
như trên, sau khi thi học sinh giỏi cấp trường tôi tiến hành lựa chọn danh sách
đội tuyển, theo thang điểm từ cao xuống thấp và lấy từ 10 ->12 em.
Ngoài ra, trong quá trình bồi dưỡng tôi còn tiếp tục thi khảo sát ít nhất
trùng với lịch học của tất cả các em là điều rất khó khăn. Trước đây, để đảm
bảo cho các em không phải nghỉ học các môn khác, tôi đã chọn phương án là
dạy vào các buổi chập tối (khoảng từ 18h->20h30). Đối với các em đây là
khoảng thời gian không học thêm ca nào, nên sau khi học xong các môn khác
các em ở lại học tiếp. Dù bụng đói và rất mệt nhưng các em vẫn tham gia với
tinh thần rất vui vẻ và hào hứng. Chính điều đó đã làm tôi thực sự cảm động
và là động lực giúp tôi kiên trì quyết tâm hơn, với mong muốn làm được điều
mà mình tâm huyết. Có nhiều hôm trong giờ nghỉ giải lao tôi đã mua bánh
mỳ, bánh quy … để thầy trò cùng ăn cho đỡ đói. Thấy vậy, một số em định
góp tiền để tự mua nhưng tôi không đồng ý. Và để các em không thể thực
hiện được ý định đó, những lần sau tôi thường đưa ra các lý do đại loại như:
“Hôm nay có có tin vui nên khao các em”…
Thấu hiểu những khó khăn đó bước sang năm học 2010-2011, Ban
Giám hiệu nhà trường đã lên thời khoá biểu cho các đội tuyển được học vào
các buổi sáng chủ nhật hàng tuần. Trong các buổi dạy, lãnh đạo nhà trường
Người thực hiện: Đỗ Minh Phương – Trường THPT Quảng Xương I
7
SKKN: “Một số kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng HSG môn ĐỊA LÝ”
thường xuyên quan tâm, xuống lớp trao đổi động viên cả thầy và trò. Điều đó
đã tạo thêm động lực, niềm tin cho chúng tôi nỗ lực cố gắng nhiều hơn.
Trong quá trình bồi dưỡng, giáo viên phải thực sự là người có “Tâm”
với học sinh đội tuyển của mình. Sự quan tâm đó không chỉ dừng lại ở thái
độ, lời nói, kiến thức, kinh nghiệm truyền đạt cho các em mà còn bằng tất cả
tấm lòng, không đơn thuần là tình thầy trò mà như một người thân thực sự của
các em. Vì thế, các em sẵn sàng chia sẻ với tôi về mọi vấn đề trong cuộc sống.
Tôi thường đến thăm gia đình học sinh trong đội tuyển vào các dịp nghỉ lễ,
sinh nhật… đặc biệt là khi các em bị ốm phải nghỉ học, qua đó để hiểu hơn về
hoàn cảnh gia đình, điều kiện học tập cũng như sự quan tâm của các bậc phụ
huynh. Nhờ vậy, nhiều phụ huynh đã có cái nhìn đúng hơn về vai trò của bộ
môn, hiểu được lợi thế khi các em được tham gia đội tuyển học sinh giỏi môn
liên hệ thực tế bằng các đồ dùng dạy học như tranh ảnh minh hoạ, lược đồ,
biểu đồ, đặc biệt có thể sử dụng chương trình Powpoint để hỗ trợ…. Bên cạnh
đó giáo viên thường xuyên cập nhật các số liệu, thông tin mới để minh hoạ
cho bài dạy. Tài liệu tham khảo cũng là yếu tố không thể thiếu trong quá trình
bồi dưỡng: Tài liệu chuẩn kiến thức kỹ năng, các tài liệu hướng dẫn ôn thi học
sinh giỏi, ôn thi đại học cao đẳng, tài liệu hướng dẫn các kỹ năng làm các
dạng câu hỏi và bài tập, cập nhật niên giám thống kê… đều có thể cung cấp
cho học sinh những dẫn chứng chính xác khi vận dụng vào bài làm.
2.3.Rèn luyện kỹ năng tự học, đọc tài liệu, khai thác kiến thức, sử dụng
Atlat, kênh hình cho học sinh
Để rèn luyện kỹ năng tự học, đọc tài liệu khai thác kiến thức ở từng bài
trong SGK, giáo viên cần chỉ rõ cách khai thác từng nội dung cụ thể bằng
phương pháp đi từ khái quát đến cụ thể và từ đó có sự liên hệ vận dụng trong
cuộc sống, sau đó giao nhiệm vụ để các em tự học và kiểm tra bằng các bài
viết.
Ví dụ: Khi dạy bài thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa GV giao nhiệm
vụ cho học sinh tìm hiểu tính chất nhiệt đới, tính chất gió mùa, tính chất ẩm
của thiên nhiên nước ta qua các thành phần tự nhiên, các vùng lãnh thổ nước
ta. Giải thích sự phân hóa theo mùa của thiên nhiên vùng Bắc Trung Bộ.
Hoặc yêu cầu HS dựa vào Atlat địa lý Việt Nam trình bày đặc điểm
khí hậu vùng Bắc Trung Bộ.
2.4. Coi trọng khâu ra đề, ra đáp án, chấm chữ và rèn luyện kỹ năng làm
bài cho học sinh
2.4.1. Ra đề và đáp án
Để rèn luyện kỹ năng làm bài cho học sinh, giáo viên cần hiểu đây là
một công việc không dễ, đòi hỏi nhiều thời gian công sức của cả thầy và trò
mới đem lại kết như mong muốn. Bởi đa số các em sau khi được chọn vào đôị
tuyển thì điểm yếu nhất đó chính là kỹ năng làm bài, một phần là do các em
học theo khối C, D có thế mạnh . Vì thế giáo viên chỉ nói hoặc nhắc nhở thôi
thì chưa hẳn các em đã hiểu và khắc phục được. Do đó cần phải có thời gian
Câu I(2.0 điểm)
1. Nêu đặc điểm tự nhiên của miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ ?
2. Phân tích ảnh hưởng của qua trình đô thị hóa ở nước ta đối phát triển
kinh tế- xã hội ? Vì sao trong những năm gần đây gia tăng dân số có xu
hướng giảm nhưng quy mô dân số vẫn tiếp tục tăng ?
Câu II(3.0 điểm)
1. Chứng minh cơ cấu công nghiệp nước ta đang có sự phân hóa về mặt
lãnh thổ? Tại sao Tây Nguyên có tỉ trọng công nghiệp không đáng kể
so với tỉ trọng công nghiệp của cả nước ?
2. Hãy phân tích điều kiện tự nhiên để hình thành cơ cấu nông- lâm- ngư
nghiệp của vùng Bắc Trung Bộ ?
Câu III(3.0 điểm)
Người thực hiện: Đỗ Minh Phương – Trường THPT Quảng Xương I
10
SKKN: “Một số kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng HSG môn ĐỊA LÝ”
1. Dựa vào bảng số liệu dưới đây, hãy vẽ biểu đồ thích hợp nhất thể hiện
cơ cấu tổng sản phẩm trong nước phân theo thành phần kinh tế của
nước năm 2000 và 2010.
TỔNG SẢN PHẨM THEO THÀNH PHẦN KINH TẾ
(Đơn vị: tỉ đồng giá trị thực tế)
Thành phần
2000 2010
Kinh tế Nhà nước 170 141 668 300
Kinh tế ngoài Nhà nước 212 879 941 814
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 58 626 370 800
(Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2010, NXB Thống kê
2011)
2. Rút ra nhận xét từ biểu đồ đã vẽ.
Đề số 2: Thời gian làm bài: 180 phút
SKKN: “Một số kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng HSG môn ĐỊA LÝ”
Câu 4: (2đ) Du lịch được xác định là một trong những ngành kinh tế mũi
nhọn của nước ta. Anh (chị) hãy :
a) Nêu ý nghĩa của việc phát triển ngành du lịch ở nước ta
b) Nêu các trung tâm du lịch quốc gia và các tài nguyên du lịch chính của
các trung tâm này.
Tóm lại, tuỳ theo từng mốc thời gian và lượng kiến thức đã ôn tập để
đưa ra các bài kiểm tra cụ thể. Chẳng hạn, ở giai đoạn đầu tôi thường ra câu
hỏi kiểm tra trong khoảng thời gian là 90 phút, sau đó tăng dần lên 120 phút,
150 phút, rồi mới đến các bài kiểm tra 180 phút. Đặc biệt, tất cả các bài kiểm
tra đó tôi đều cho các em làm vào tờ giấy thi theo mẫu in của Sở. Điều này sẽ
giúp các em làm quen với các dạng đề trong thời gian khác nhau để từ đó định
lượng thời gian của mỗi câu ứng với số điểm nhất định. Ví dụ câu ít điểm thì
các em không cần viết quá dài mà phải tập trung vào các ý cơ bản của câu hỏi,
không được trình bày lan man.
Trước khi các em làm đề, tôi cho các em trao đổi thông tin về các
dạng đề thi của những năm trước, qua đó giúp các em hiểu cấu trúc đề thi, kỹ
năng xác định yêu cầu của đề và phương pháp nhận dạng đề thi một cách cơ
bản cũng như kỹ năng làm bài sao cho có hiệu quả nhất. Trước khi thi 2
tháng tôi cho các em luyện đề nhiều hơn (1tuần/2đề). Đối với dạng đề trắc
nghiệm, bài tập tỡnh huống, nếu là câu hỏi yêu cầu khẳng định đúng sai thì
phải khẳng định trước rồi mới giải thích vì sao? Đối với câu hỏi giải thích vì
sao thì phải giải thích rõ trọng tâm, phân ý, không lan man (hỏi gì trả lời ngay
vấn đề đó, không cần dẫn dắt dài dòng). Đối với câu hỏi tự luận tôi yêu cầu
các em chú ý cách trình bày sao cho bài viết phải có bố cục rõ ràng, lôgíc. Từ
đó các em hiểu rằng, tuy bài viết của môn ĐỊA LÝ không phải là một bài văn
nhưng kết cấu chỉnh thể của nó cũng phải theo trình tự như vậy.
Ngoài ra, tôi còn ra đề cho các em tự học ở nhà. Theo tôi nếu các em
nghiên cứu tài liệu hoặc thảo luận để làm bài cũng là hình thức để các em ôn
vững kiến thức Vì vậy, tôi quán triệt tinh thần với các em rằng: trước khi làm
Sau mỗi bài kiểm tra, kể cả các bài kiểm tra tại lớp từ 15 phút trở lên tôi
đều rất chú trọng và quan tâm đến các em trong đội tuyển để chấm và sửa lỗi
cẩn thận chi tiết cho các em, nhận xét vào bài của các em từ lỗi chính tả cho
đến cách dùng từ, đặt câu, cách diễn đạt…
Để thúc đẩy các em làm bài tích cực, có hiệu quả và nộp bài đúng hạn,
giáo viên phải giữ đúng hẹn giao đề, chấm bài, trả bài để các em biết kết quả
và kịp thời rút kinh nghiệm. Nhưng nếu chỉ chấm chữa thôi thì chưa đủ vì bài
làm của các em thường rất lủng củng, không biết cách diễn đạt, chuyển ý, viết
dài dòng và lan man. Vì vậy, sau khi chấm chữa kỹ lưỡng, tôi đều phát đáp án
chi tiết và yêu cầu các em sau khi xem bài rút kinh nghiệm những sai sót thì
phải học thuộc đáp án. Khi trả bài tôi dành thời gian nhất định để nhận xét cụ
thể ưu, nhược điểm của từng em. Có những em tôi đã phải chữa và gạch đỏ
cả bài. Mục đích là rèn luyện cho các em cách đặt vấn đề, giải quyết vấn đề,
kết luận trong bài như thế nào. Và yêu cầu các em về nhà làm lại và khắc
phục ngay nhược điểm đó, hôm sau tôi thu lại kiểm tra để thấy được sự tiến
bộ của các em.
Người thực hiện: Đỗ Minh Phương – Trường THPT Quảng Xương I
13
SKKN: “Một số kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng HSG môn ĐỊA LÝ”
Để học sinh thấy rõ sự quan tâm của thầy giáo và thực hiện đúng yêu
cầu, tôi không bao giờ giao cho các em tự trả bài, thu bài mà chính tôi đi đến
từng lớp (vào giờ ra chơi) để trả bài, phát đáp án, đưa đề mới và thu bài của
từng em, đồng thời có thái độ nhắc nhở hoặc động viên về kết quả mà các em
đạt được. Vì thế, đã tạo cho các em thói quen: cứ thấy thầy đến lớp là tự giác
nộp bài. Nếu thấy bài làm của các em có nhiều sai sót, tôi tập trung các em để
chấn chỉnh ngay. Đến cuối đợt vì thời gian còn ít mà nguồn đề còn nhiều, tôi
tăng cường làm 3 bài/tuần và tôi phải nhờ đồng nghiệp (cùng nhóm chuyên
môn) chuyên chấm còn tôi chuyên ra đề và đáp án.
Nếu chấm trả, phát đáp án mà không kiểm tra lại thì các em sẽ chủ
quan không học thuộc mà chỉ đọc qua. Cho nên, tôi đã kiểm tra lại bằng cách
viết chậm nên bài làm thường mắc các lỗi diễn đạt và kỹ năng vận dụng, giải
quýêt vấn đề.
- Ngược lại, các em Bùi Thị Hoài, Nguyễn Thị Trang, Trần Thị Lan, Bùi Thị
Loan… lại có vố kiến thức thực tế phong phú, khả năng nắm bắt vấn đề
nhanh, biết cách trình bày bài, song thiếu tính cẩn thận, thường vội vàng chủ
quan nên đôi khi hay bị sót ý, mất điểm trong bài tập tình huống trong bài.
Hoặc có em kiến thức chắc chắn, chịu khó đọc tài liệu nhưng tâm lý khi đi thi
lại không ổn định và mất bình tĩnh. Cũng có em sức viết dài nhưng hay dàn
trải, phân chia thời gian không hợp lý dẫn đến bài làm không trọn vẹn, thiếu
thời gian.
Năm học 2011-2012 , trong đội tuyển có em Mai Thị Phương lớp
12C5 học khối C, dù được chọn bổ sung vào sau so với các bạn (đầu năm học
lớp 12), dù em có một nhược điểm lớn đó là chữ viết không cẩn thận, nhưng
tư duy nhanh và đặc biệt là khả năng nhớ và vận dụng rất tốt nên tôi đã quyết
định lấy em vào danh sách dự thi. Tôi giao nhiệm vụ cho em từng bước phải
cải thiện chữ viết và cách trình bày bài của mình qua mỗi bài kiểm tra ở lớp
cũng như ở nhà, tôi còn kiểm tra vở ghi trên lớp thường xuyên để nhắc nhở
em sửa lỗi. Và sau học kỳ I, nhược điểm đó đã đựợc đẩy lùi, điều vui hơn đó
là em đã đạt giải nhì với số điểm rất cao: 17 điểm.
Từ thực tế đó tôi nhận thấy, phát hiện chính xác khả năng và phân
loại đúng học sinh càng sớm càng tốt. Phân loại học sinh chủ yếu dựa vào khả
năng quan sát, tiếp cận trong quá trình bồi dưỡng và giảng dạy trên lớp của
giáo viên. Ngoài ra, qua hệ thống trả lời câu hỏi vấn đáp trực tiếp hoặc bài
kiểm tra viết. Đối với những em có khả năng nhớ chậm, khái quát vấn đề còn
hạn chế, giáo viên cần khoanh vùng kiến thức và nhắc trước cho các em có sự
chuẩn bị để các em có thể tự tin trong quá trình học. Đối với học sinh có khả
năng tư duy tốt, tôi sẽ đưa ra yêu cầu cao hơn. Để đánh giá, theo dõi mức độ
tiến bộ của các em, sau mỗi lần kiểm tra, tôi căn cứ vào điểm để chia các em
theo nhóm. Thông thường là 3 ->4 nhóm. Chẳng hạn nhóm 1 là những em có
số điểm cao nhất, ít nhược điểm. Nhóm 2, 3, 4 tương tự như vậy xét theo
- Giao nhiệm vụ có tính chất thử thách để các em có động cơ phấn đấu.
2.7. Yêu cầu cao và giao nhiệm vụ cho học sinh
Căn cứ vào kết quả chia nhóm, xếp loại học sinh trong suốt quá trình bồi
dưỡng, tôi giao nhiệm vụ cụ thể cho từng em. Chẳng hạn, những em có kết
quả làm bài ổn định chắc chắn, xếp ở tốp 1 tôi yêu cầu khi đi thi các em phải
đạt số điểm là 17 trở lên, tức là phải đạt giải cao. Tương tự như vậy tôi
‘khoán” chỉ tiêu cụ thể cho từng em và đảm bảo rằng tất cả các em đều phải
có giải. Để không tạo áp lực cho các em, tôi luôn làm công tác tư tưởng, động
viên khích lệ để các em hiểu: Mọi sự nỗ lực, cố gắng của cả cô và trò do
chính các em quyết định, vì thế cần phải có quyết tâm cao để chứng minh
rằng: Thi GDCD không dễ và để đạt được kết quả cao như các môn khác cũng
là điều không đơn giản. Ngoài ra để động viên các em, tôi còn treo giải
thưởng cho em nào đạt hoặc vượt chỉ tiêu cô yêu cầu. Tất nhiên, không phải
Người thực hiện: Đỗ Minh Phương – Trường THPT Quảng Xương I
16
SKKN: “Một số kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng HSG môn ĐỊA LÝ”
em nào cũng được kết quả như mong muốn, nhưng ít nhất các em đã biết
được mục tiêu của mình là gì để bước vào kỳ thi với tâm lý tự tin và quyết
tâm cao nhất.
2.8. Tranh thủ sự đồng thuận của các lực lượng giáo dục trong và ngòai
nhà trường
Trong thực tế có người cho rằng, bồi dưỡng học sinh giỏi là trách
nhiệm của đồng chí giáo viên được nhà trường phân công. Điều đó chỉ đúng
một phần nhất định. Vì để công tác bồi dưỡng học sinh giỏi đạt hiệu quả cao
phải có sự hỗ trợ đắc lực của các đồng chí giáo viên trong tổ chuyên môn, sự
chỉ đạo sát sao của Ban giám hiệu, sự quan tâm đồng tình, động viên khích lệ
của phụ huynh học sinh và các giáo viên trong trường tạo điều kiện giúp đỡ.
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của trường THPT Quảng Xương I trong
những năm gần đây liên tục đạt kết quả cao, trước hết là có đường lối chỉ đạo
đúng đắn của BGH nhà trường, sự quan tâm, tạo điều kiện thực sự cho giáo
Đó là những con số biết nói, là những minh chứng mà thầy và trò chúng
tôi đã đạt được. Chỉ tính trong 6 năm liên tục trở lại đây, số lượng học sinh
tham gia đăng ký dự thi tăng lên, số học sinh đạt giải cấp tỉnh hàng năm ngày
càng nhiều cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt trong 5 năm liên tục đội
tuyển do tôi phụ trách đều có học sinh đạt giải nhất và 5 năm liên tục bộ môn
được xếp thứ nhất, nhì toàn tỉnh:
Năm học
Số HS đạt
giải /Số
HS dự thi
Số HS đạt giải
Xếp thứ tự
trong toàn tỉnh
Nhất Nhì Ba
Khuyến
khích
2008- 2009 9/10 0 4 3 2 5
2009-2010 9/10 0 2 4 1 7
2011-2012 10/10 1 2 5 2 2
Tổng 28/30 1 8 12 5
2. Kết luận
Theo tôi: “Dạy học là một nghệ thuật”! Điều này càng đúng hơn trong
công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, bởi vì bồi dưỡng học sinh giỏi là một quá
trình công phu, nhiều thử thách đối với cả thầy và trò. Cho nên, ngoài trình độ
chuyên môn, kinh nghiệm uy tín thì giáo viên dạy ĐỊA LÝ phải thực sự nhiệt
tình, tâm huyết trong giảng dạy để khơi dậy được ở học sinh sự yêu thích môn
học và thắp lên niềm tin vững chắc cho các em đi đến thành công.
Mặc dù trong quá trình thực hiện tôi đã áp dụng 8 giải pháp trên
nhưng vẫn còn nhiều khía cạnh khác chưa nghiên cứu. Đề tài chắc chắn còn
nhiều khiếm khuyết, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các bạn