PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CƯM’GAR
TRƯỜNG THCS ĐINH TIÊN HOÀNG
CHUYÊN ĐỀ:
MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG
HỌC SINH GIỎI MÔN ĐỊA LÍ TẠI TRƯỜNG THCS ĐINH
TIÊN HOÀNG
Tổ: Địa- Sử GDCD-Nhạc-Công Nghệ
GV: Ngô Minh Phương
A.PHẦN MỞ ĐẦU
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và các chủ trương của Đảng,
Nhà nước về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lĩnh vực giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt
được những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là trong mục tiêu tổng quát nghị quyết khẳng định
“Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào
tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu
cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện
và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia
đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả. Xây dựng nền
giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và
phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các
điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hoá, dân chủ hóa, xã hội
hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã
hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt
Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực”. Với tinh thần của nghị quyết trung
ương 2 khóa VIII
Với những kết quả trên, xin chia sẻ một số biện pháp
bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý khối 9 nhằm góp phần nâng
cao chất lượng giảng dạy bộ môn, tạo hứng thú học tập cho học
sinh và góp phần nhỏ bé trong thành tích chung của phong trào
bồi dưỡng học sinh giỏi, và đặc biệt với những giáo viên đã và
đang bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý có thể xem đây là một
tài liệu tham khảo, một kênh thông tin để làm phong phú thêm
biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi tại trường THCS Đinh Tiên
Hoàng.
I.CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI:
Qua thực tế bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý khối 9 trong những năm
học qua tôi nhận thấy rằng vấn đề quan trọng là người giáo viên bồi dưỡng
cần có một quan niệm đúng về học sinh giỏi nói chung và học sinh giỏi môn
Địa lý nói riêng. Bên cạnh đó, cần trả lời cho câu hỏi: “việc bồi dưỡng học
sinh giỏi nhằm mục tiêu gì ?” để từ đó người giáo viên bồi dưỡng lựa chọn
nội dung, chương trình và phương pháp bồi dưỡng sao cho thích hợp và đạt
hiệu quả cao nhất.
Theo Giáo sư – Tiến sỹ Nguyễn Viết Thịnh, giảng viên khoa Địa
lý Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, người được ví như “một trong những
cánh chim đầu đàn” của ngành khoa học Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam và
cũng là người có nhiều năm tham gia ra đề thi Cao đẳng, Đại học, thi học
sinh giỏi quốc gia môn đia lý cho rằng: “Học sinh giỏi môn Địa lý chỉ cần
học thuộc là chưa đủ, chưa chính xác vì Địa lý là môn khoa học có đối
tượng nghiên cứu phong phú, phức tạp. Các hiện tượng địa lý không chỉ
phân bố trên bề mặt đất mà cả trong không gian và trong lòng đất. Hơn nữa,
các hiện tượng ấy ở đâu và bao giờ cũng phát sinh, tồn tại và phát triển một
cách độc lập nhưng lại luôn có quan hệ hữu cơ với nhau. Chính vì vậy,
người dạy và học Địa lý cần có phương pháp tư duy, phân tích, xét đoán các
1. Xây dựng kế hoạch cụ thể trong công tác bồi dưỡng học sinh
giỏi:
Vào đầu năm học, lãnh đạo nhà trường chỉ đạo mỗi giáo
viên bồi dưỡng học sinh giỏi ở tất cả các môn phải xây dựng kế hoạch
chi tiết. Vì vậy, bản thân cũng đã lên kế hoạch cụ thể về: thời gian bồi
dưỡng; nội dung; thời lượng; số lượng học sinh bồi dưỡng; chỉ tiêu
phấn đấu đạt giải, thong qua việc đăng kí chất lượng giáo dục hang
năm của giáo viên … và bản thân đã thực hiện nghiêm túc theo kế
hoạch. Song song đó, Ban giám hiệu – trực tiếp là đồng chí Phó Hiệu
trưởng chuyên môn của trường thường xuyên kiểm tra, nhắc nhở việc
bồi dưỡng học sinh giỏi của giáo viên để công tác bồi dưỡng học sinh
giỏi của trường đạt được kết quả cao nhất.
2. Chọn đối tượng bồi dưỡng và thường xuyên thực hiện
công tác tư tưởng với học sinh tham gia bồi dưỡng:
Như chúng ta đã biết theo quy chế thi học sinh giỏi thì đối tượng
được thi học sinh giỏi là những học sinh đang học lớp 9 tại trường,
có học lực ở học kỳ I của năm đang học đạt từ loại khá trở lên,
hạnh kiểm đạt loại tốt và trung bình môn thi học sinh giỏi đạt từ
8,0 trở lên.
Những năm qua việc chọn đối tượng bồi dưỡng học sinh
giỏi môn Địa lý ở trường về cơ bản được nhiều thuận lợi do:
- Đa số học sinh khối 9 đều có hứng thú và đam mê môn
Địa lý. Vì vậy, học sinh đăng ký dự thi khá tương đối, bình quân mỗi
năm có 3-5 học sinh.
- Số học sinh khối 9 của trường khá đông. Hàng năm, bình
quân trường có trên 250 học sinh khối 9 được bố trí từ 08 đến 09
lớp. Do đó, sức ép về vấn đề chọn số lượng học sinh tham gia bồi
dưỡng là không đáng kể.
quyết định cho các bước tiếp theo đối với công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn
Địa lý. Từ thực tế kinh nghiệm bồi dưỡng những năm qua cho thấy nội dung bồi
dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý rất phong phú được trải đều ở 03 khối lớp 6, 8, 9
và ở mỗi khối lớp lượng kiến thức cần truyền đạt cho học sinh là vô hạn, giáo viên
bồi dưỡng rất khó xác định được nội dung kiến thức nào cần bồi dưỡng trước cho
học sinh, nội dung nào không quan trọng để giới hạn, đặc biệt là phần Địa lý tự
nhiên Việt Nam (khối 8) và Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam (khối 9), bên cạnh đó
trong một vài trường hợp người giáo viên không thể bồi dưỡng kiến thức trong sách
giáo khoa theo một trình tự cố định hết Bài 1 đến Bài 2, Bài 3 …do không đủ thời
gian hoặc do kiến thức được sắp xếp theo từng phần, từng chương theo phương
pháp dàn trải. Chính vì thế, bản thân đã tiến hành soạn tài liệu riêng theo từng
chuyên đề của nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi.
Từ nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi các năm qua theo tôi đã chọn các
chuyên đề sau:
- Chuyên đề về Địa lí tự nhiên đại cương(khối 6).
- Chuyên đề Địa lý tự nhiên Việt Nam (khối 8).
- Chuyên đề Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam (khối 9).
- Chuyên đề về Kỹ năng vẽ, phân tích và nhận xét các loại biểu đồ (chủ
yếu ở khối 9).
Như vậy, từ các chuyên đề trên giáo viên cần tìm những tài liệu liên quan để biên
soạn, và thông thường các chuyên đề này được giảng dạy chuyên sâu hơn ở chương
trình Địa lý lớp 12 – Nâng cao (đối với khối 8, 9) và chương trình Địa lý lớp 10 –
Nâng cao (đối với khối 6), hay được tập trung trong các bộ đề thi tốt nghiệp lớp 12,
thi Cao đẳng, Đại học môn Địa lý. Đối với bản thân, tài liệu biên soạn chủ yếu dựa
vào các nguồn:
- Hướng dẫn học và khai thác Atlat Địa lý Việt Nam (Tác giả: GS-TS Lê
Thông, PGS-TS Nguyễn Minh Tuệ, Vũ Đình Hòa do Nhà xuất bản Đại học Quốc
gia Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2008).
Trước tiên, tôi phát tài liệu biên soạn của cá nhân phần Địa lý kinh tế xã hội Việt nam (khối 9) để học sinh tự nghiên cứu vì phần này các em
đã và đang được học trên lớp do đó giáo viên có điều kiện mở rộng
kiến thức cho học sinh, đồng thời đối với học sinh các em cũng có điều
kiện khắc sâu kiến thức, nâng cao khả năng tư duy, các kỹ năng địa lý
bước đầu cũng được phát triển. Tiếp theo, giáo viên bồi dưỡng phần
Địa lý tự nhiên (khối 8) và Địa lý về Trái đất (khối 6) vì hai phần này
học sinh đã được học ở các lớp dưới giáo viên chỉ cần ôn tập lại cho
học sinh thông qua nội dung đang học ở khối 9. Sau cùng, giáo viên
tập trung vào kỹ năng vẽ và nhận xét các loại biểu đồ.
Cũng cần nói thêm rằng, mỗi giáo viên bồi dưỡng học sinh
giỏi môn Địa lý đều có những điểm giống nhau như: khung chương
trình bồi dưỡng, trình độ tay nghề, sự nhiệt tình, trình độ học sinh,
phương tiện phục vụ bồi dưỡng (Atlat, compa, thước đo độ, máy tính
…) … nhưng kết quả đạt được có sự khác biệt vì mỗi giáo viên có hình
thức tổ chức và phương pháp bồi dưỡng khác nhau. Sau đây xin trình
bày một số phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý mà bản
thân đã thực hiện trong các năm qua.
1. Kiến thức
a) Kiến thức địa lí phổ thông hiện hành gồm cả địa lí đại cương (Trái
Đất-Các thành phần tự nhiên của Trái Đất), địa lí các châu lục trên thế
giới (Các môi trường địa lí- đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội cảu các
châu lục, các khu vực trên thế giới), địa lí Việt Nam (tự nhiên, kinh tế xã hội). Chương trình địa lí THCS yêu cầu HS phải nắm vững một số
kiến thức phổ thông, cơ bản, mang tính hệ thống, thiết thực về :
- Trái Đất –Các thành phần tự nhiên (các thành phần cấu tạo và tác
động qua lại giữa chúng, một số quy luật của môi trường tự nhiên trên
Trái Đất; Các thành phần tự nhiên của Trái đất, củng như tác động qua
Có những mối liên hệ đơn giản (chỉ có một nguyên nhân và một kết quả), ví dụ : mối liên hệ
giữa độ cao địa hình và nhiệt độ không khí, nhiệt độ và khí áp, độ ẩm và khí áp, cấu tạo của
đá và nước ngầm, chế độ mưa và nhiệt với chế độ nước sông, dòng biển với lượng mưa ven
bờ đại dương, đá mẹ và thổ nhưỡng, khí hậu và sự phân bố sinh vật,... Có những mối liên hệ
nhân quả phức tạp (một nguyên nhân gây ra nhiều kết quả, hay nhiều nguyên nhân gây ra một
kết quả), ví dụ : vận động tự quay quanh trục của Trái Đất đã gây ra các hệ quả như sự luân
phiên ngày đêm, chuyển động biểu kiến hằng ngày của các thiên thể, giờ trên Trái Đất, sự
lệch hướng chuyển động của các vật thể ; sự phân bố nhiệt độ trên Trái Đất chịu ảnh hưởng
của nhiều nhân tố, như : hình dạng và vị trí của Trái Đất so với Mặt Trời, sự phân bố lục địa
và biển, các dòng biển nóng và lạnh,.... Các nguyên nhân và kết quả liên tục kế tiếp nhau tạo
ra một chuỗi mối liên hệ nhân quả, ví dụ : ở thảo nguyên với khí hậu lục địa nửa khô hạn có
thực vật chủ yếu là cỏ, tạo nên đất đen có tầng mùn dày ; ở sườn núi, khi lên cao, nhiệt độ,
lượng mưa và áp suất không khí thay đổi, do đó sinh vật phân bố theo từng vành đai thẳng
đứng cũng khác nhau ; địa hình có tác động đến sự phân bố lại lượng nhiệt và ẩm trong đá
mẹ, nhiệt và ẩm đó có tác động đến chiều hướng và cường độ của quá trình hình thành đất,...
- Các quy luật địa lí thường được học tập trung ở chương cuối của một phần hay một số phần
(trong một lớp), có tính khái quát các mối liên hệ nhân quả phổ biến và lặp đi lặp lại thường
xuyên. Học thuyết được học trong chương trình địa lí tuy không nhiều, nhưng rất cần thiết
cho việc hiểu được nhiều kiến thức địa lí khác
- Ngoài các kiến thức cơ bản trên, trong sách giáo khoa còn trình bày về các sự vật hiện tượng
địa lí cụ thể, các biểu tượng địa lí,... Các kiến thức này đóng vai trò hoặc để cụ thể hoá các
kiến thức cơ bản trên, hoặc là cơ sở để rút ra các kiến thức khái quát.
c) Kiến thức địa lí phổ thông mà HS cần nắm, được chia thành 6 mức độ :
Biết : Ghi nhớ được các sự kiện, khái niệm, định nghĩa, hệ quả, thuật ngữ và các
nguyên lí dưới hình thức được học.
Hiểu : Hiểu được kí hiệu, ý nghĩa và mối liên hệ trong khái niệm, định lí, hệ quả, công
thức,... Có khả năng diễn giải, mô tả, tóm tắt thông tin đã thu được, không nhất thiết
sang đông phải cộng thêm một ngày ; ngược lại - phải trừ đi 1 ngày. Đường kinh tuyến đó được
gọi đường chuyển ngày quốc tế.
- Tổng hợp : Có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng trên cơ sở phân tích trên, có thể HS dự
đoán được kết quả của trường hợp giả định nếu Trái Đất không tự quay quanh trục, thì có hiện
tượng ngày đêm không ? Lúc đó thời gian một ngày đêm trên Trái Đất là bao nhiêu ? Hay, nếu
không đặt ra đường chuyển ngày quốc tế, điều gì sẽ xảy ra trong quan hệ quốc tế giữa các nước
thuộc các múi giờ khác nhau ?...
HS bình thường, về cơ bản chỉ cần đạt ở mức 1 và 2, một số kiến thức có thể đạt ở mức 3, 4... là
được. HS giỏi cần phải có kiến thức đạt ở mức cao hơn, như phân tích, tổng hợp, đặc biệt là
đánh giá. Những mức này đòi hỏi các em phải có một hệ thống tri thức địa lí nhất định, đồng
thời có được các kĩ năng tư duy cần thiết.
2. Kĩ năng địa lí
a) Học Địa lí ở THCS, HS cần phải củng cố và phát triển các kĩ năng :
- Quan sát, nhận xét, phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá các sự vật, hiện tượng địa lí
; sử dụng bản đồ, biểu đồ, đồ thị, lát cắt, số liệu thống kê,...
- Thu thập, xử lí, trình bày các thông tin địa lí.
- Vận dụng kiến thức để giải thích các hiện tượng, sự vật địa lí và giải quyết một số vấn
đề của cuộc sống, sản xuất gần gũi với HS trên cơ sở tư duy kinh tế, tư duy sinh thái, tư
duy phê phán.
b) Kĩ năng địa lí trong nhà trường phổ thông được chia ra 5 mức độ :
Bắt chước : Quan sát và cố gắng lặp lại một kĩ năng nào đó.
Thao tác : Hoàn thành một kĩ năng nào đó theo chỉ dẫn hơn là bắt chước máy móc.
Chuẩn hoá : Lặp lại một kĩ năng nào đó một cách chính xác, nhịp nhàng, đúng đắn và
thường được thực hiện một cách độc lập, không phải hướng dẫn.
Phối hợp : Kết hợp nhiều kĩ năng theo một trật tự, một cách nhịp nhàng và ổn định.
Tự động hoá : Hoàn thành một hay nhiều kĩ năng một cách dễ dàng và trở thành tự
động, không đòi hỏi một sự cố gắng về thể lực và trí tuệ.
HS giỏi cần phải đạt được các mức độ 4 và 5 của kĩ năng. Nhờ vậy, các em mới có thể
Muốn có tư duy lôgic, phải có một hệ thống kiến thức nhất định. Một số nghiên cứu
của các nhà khoa học sư phạm trên thế giới chỉ ra rằng, sở dĩ trong môn Địa lí, HS
THCS hiện nay có tư duy không tốt là do thiếu những kiến thức cần thiết, trong đó
đặc biệt là hệ thống khái niệm địa lí. Việc nắm vững một hệ thống kiến thức địa lí cơ
bản làm cơ sở cho tư duy, sẽ tạo cơ sở cho việc nắm những kiến thức địa lí mới. Kiến
thức mới lại tiếp tục làm cơ sở cho tư duy để nhận thức được những kiến thức khác
mới hơn...
Hiện nay, một số HS có quan niệm cực đoan rằng chỉ cần có tư duy tốt là đủ để nắm
được các kiến thức cần thiết ; hay nói cách khác, chỉ cần thông minh là thi được HS
giỏi địa lí. Đó là một quan niệm không đúng. Cần nhớ rằng mục tiêu của việc học tập
là vừa có được những kiến thức cơ bản, vừa phát triển được năng lực tư duy. Muốn tư
duy phải có kiến thức (tựa như "có bột mới gột nên hồ" vậy). Không có đủ kiến thức
cần thiết, như nói ở trên, không thể có tư duy địa lí được. Chính vì vậy, học để nắm
chắc kiến thức là việc làm hết sức quan trọng, không chỉ riêng đối với HS giỏi địa lí,
mà đối với tất cả các em học sinh nói chung.
Nắm chắc kiến thức có nghĩa là hiểu được, nhớ lâu bền kiến thức địa lí cần thiết và có
thể vận dụng được vào các trường hợp cụ thể. Để nhớ lâu bền, cần phải có trí nhớ
lôgic. Muốn ghi nhớ lôgic, trong quá trình ghi nhớ phải hiểu và vận dụng được các
quy luật của trí nhớ.
a) Trí nhớ là hoạt động phản xạ có điều kiện. Muốn lập được phản xạ có điều kiện, thông tin
phải lặp đi lặp lại nhiều lần. Do vậy, trong ghi nhớ kiến thức, việc ôn tập thường xuyên tỏ ra
hết sức cần thiết. Sau một số bài, sau một chương hoặc một số chương, cần phải ôn tập để tăng
cường ghi nhớ.
b) Nhớ lâu được dựa trên ấn tượng mạnh. Một kiến thức hay, một cách giải quyết vấn đề độc
đáo, một lần bị sai lầm và nhận ra được,... là những ấn tượng khó quên, lưu lại lâu bền trong trí
nhớ mỗi HS. Vì vậy, khi học bài địa lí, cần chú ý tạo ra các ấn tượng sâu về kiến thức. Các ấn
tượng có thể bắt nguồn từ việc sử dụng phương tiện trực quan trong khi học bài (ví dụ khi học
về các sự vật, hiện tượng địa lí nên sử dụng Atlát địa lí, hay bản đồ trong SGK, bản đồ treo
nhớ.
i) Khả năng não bộ trong ghi nhớ không phải là vô hạn. Theo nhiều nhà khoa học, một
người trong một phút chỉ học được khoảng 75 đơn vị thông tin, trong suốt cuộc đời chỉ nhớ
nổi 58 tỉ đơn vị thông tin. Do đó, trong học tập, cần biết chọn nhớ những thông tin có ích,
biết quên đi những thông tin không cần thiết. Việc xác định những kiến thức cơ bản cần
thiết khi học địa lí là việc làm cần thiết đối với mỗi HS giỏi. Có thể chỉ cần nhớ những
kiến thức "chìa khoá", khi cần sẽ sử dụng nó để phát triển đến những kiến thức khác. Ví
dụ, khi học về Địa lí tự nhiên đại cương, việc thông hiểu và ghi nhớ các quy luật địa đới,
phi địa đới cho phép vận dụng chúng vào việc nhận biết và giải thích các hiện tượng khí
hậu khác nhau theo vĩ độ, theo đai cao, theo bờ đông hay bờ tây lục địa....
2. Rèn luyện kĩ năng tư duy
Tư duy được biểu hiện bằng các thao tác tư duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá,
khái quát hoá). Để đánh giá một người có tư duy tốt hay không tốt (nôm na là thông minh hay ít
thông minh hơn), thường dựa vào việc đánh giá khả năng của các thao tác tư duy. Do vậy, rèn
luyện kĩ năng tư duy, chính là rèn luyện việc sử dụng các thao tác tư duy.
a) Việc rèn luyện tư duy một cách thông dụng nhất trong thực tế học tập là dựa vào việc tự trả
lời các câu hỏi và thực hiện các bài tập (ở SGK, sách bài tập, từ thực tế môi trường xung quanh
đặt ra...). Ứng với mỗi thao tác tư duy, có một loại câu hỏi tương ứng để tập trung rèn luyện
thao tác tư duy đó. Ví dụ, câu hỏi yêu cầu phân tích sẽ góp phần rèn luyện thao tác phân tích
của tư duy, câu hỏi yêu cầu trừu tượng hoá góp phần rèn luyện thao tác trừu tượng hoá của tư
duy...
Trong học tập địa lí hiện nay, HS nên rèn luyện kĩ năng tư duy theo các loại câu hỏi sau :
+ Câu hỏi phân tích : nhằm gợi ý HS tách riêng từng phần của sự vật và hiện tượng địa lí, hoặc
các thành phần của mối liên hệ. Ví dụ, phân tích những khả năng để Đồng bằng sông Cửu Long
thành vùng lương thực, thực phẩm hàng đầu của cả nước.
+ Câu hỏi tổng hợp : nhằm làm cho HS xác lập được tính thống nhất và mối liên hệ giữa các
thuộc tính của các sự vật, bộ phận hay dấu hiệu của chúng. Câu hỏi tổng hợp không phải là
tổng cộng đơn thuần các bộ phận của sự vật địa lí. Sự tổng hợp đúng sẽ là một hoạt động tư duy