SKKN: Vận dụng tri thức lí luận về thể loại vào dạy học đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975 ở trường THPT - Pdf 14

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

VẬN DỤNG TRI THỨC LÍ LUẬN
VỀ THỂ LOẠI VĂN HỌC VÀO
DẠY ĐỌC HIỂU CÁC TÁC PHẨM
VĂN HỌC VIỆT NAM SAU NĂM
1975 Ở TRƯỜNG THPT
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng cho rằng: “Văn học, một hình thái ý
thức đặc biệt của xã hội, là nghệ thuật vận dụng ngôn ngữ một cách tài tình và
sáng tạo để nhận thức và phản ánh đời sống xã hội, để biểu hiện tâm tư con
người. Văn học đã trở thành công cụ để giáo dục con người, cải tạo xã hội rất
mạnh mẽ, nó là thứ vũ khí tư tưởng rất sắc bén có tác dụng to lớn, sâu rộng và
bền bỉ mà lịch sử loài người từ trước đến nay đã xác nhận”. Môn văn ngoài “dạy
sống, dạy người, dạy mở mang trí tuệ”, còn có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh
những hiểu biết một cách có hệ thống về lí luận văn học. Đây là những tri thức
khái quát rất quan trọng bởi lẽ dạy văn không chỉ dừng lại ở chỗ giúp người học
cảm thụ được vẻ đẹp của từng tác phẩm văn chương (TPVC) cụ thể, mặt khác
góp phần trang bị cho các em những kiến thức công cụ để có thể tự mình tiếp

của mỗi cá nhân. Cho đến nay dẫu có nhiều ý kiến khác nhau nhưng không còn

ai phủ nhận những thành tựu lớn của văn học giai đoạn này. Đây là một giai
đoạn rất quan trọng trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc. Văn học giai
đoạn này đã đáp ứng yêu cầu của một đối tượng người đọc mới. Sự phát triển ý
thức và trình độ thẩm mỹ trong tiếp nhận văn học buộc văn học phải đổi mới
nhiều mặt. Sự thức tỉnh trở lại ý thức cá nhân đã mở ra cho văn học nhiều đề tài
và chủ đề mới, làm thay đổi cái nhìn của nhà văn về hiện thực, về con người.
Thế giới bên trong của con người được chú trọng hơn với những diễn biến phức
tạp hơn, đa dạng hơn và nhân văn hơn mà trước đây văn học chưa có điều kiện
nói kĩ đến.
Thêm vào đó, trong chương trình Ngữ văn THPT hiện nay, có những tác
phẩm sau năm 1975 được đưa vào trong chương trình đòi hỏi HS phải được
trang bị những hiểu biết về lí luận văn học hiện đại thì mới có thể giải mã, phát
hiện, khám phá những nét đặc sắc của nó. Vì thế, bản thân GV còn khá lúng
túng trong việc tiếp cận và tìm ra phương pháp thích hợp để tổ chức quá trình
cảm thụ, tiếp nhận cho HS. Bởi lẽ, để làm tốt công việc tổ chức cho HS chiếm
lĩnh được các văn bản văn học Việt Nam sau năm 1975 đòi hỏi ở người GV
nhiều kiến thức về lí luận văn học cũng như bản lĩnh và tài năng sư phạm.
Chính vì những lẽ trên, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Vận dụng tri thức
lí luận về thể loại vào dạy học đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau
năm 1975 ở trườngTHPT” với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng dạy
và học bộ phận văn học này ở nhà trường phổ thông.

II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài.
a. Cơ sở lí luận.
1.a.1. Tri thức lí luận văn học là tri thức phương pháp, là “chìa khóa” để
đọc hiểu tác phẩm văn chương.
Tri thức lí luận văn học là hệ thống tri thức về toàn bộ những phương diện

mong muốn sẽ tìm được tiếng nói tri âm ở người đọc. Không thể phủ nhận rằng,
kiến thức lí luận đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc giúp độc giả đọc,
cảm thụ, đánh giá và phê bình một tác phẩm văn chương cụ thể.
Với học sinh THPT, yêu cầu được đặt ra cho việc cung cấp kiến thức lí luận
văn học “không phải là để bồi duỡng tư duy lý luận mà là để tiếp nhận văn học
một cách có lý luận, tiếp nhận văn học một cách văn học”. Như vậy, có thể thấy
những kiến thức lí luận là những kiến thức cơ bản, giúp cho HS tìm hiểu, phân
tích những TPVC cụ thể. Có thể xem đây là kiến thức nhập môn có tính chất mở
đường hướng dẫn HS tiếp cận tác phẩm một cách hiệu quả. Từ đó, HS mới
khám phá được vẻ đẹp riêng của từng tác phẩm cũng như tài năng của nhà văn.
Việc giúp HS vận dụng tri thức lí luận sẽ tạo cho các em tiếp cận giải mã tác
phẩm một cách khoa học.
1. a. 2. Khái niệm.
1.a. 2.1. Thể loại văn học.
a. Khái niệm 1: Thể loại của tác phẩm văn học là sự thống nhất trọn vẹn
của các yếu tố đề tài, chủ đề, tư tưởng, nhân vật, kết cấu, cốt truyện, lời văn.
Nhưng sự thống nhất ấy lại được thực hiện theo những quy luật nhất định. Thể
loại tác phẩm văn học là khái niệm chỉ quy luật loại hình của tác phẩm, trong đó
ứng với một loại hình nội dung nhất định có một loại hình thức nhất định, tạo
cho tác phẩm một hình thức tồn tại chỉnh thể. (Lí luận văn học – Phương Lựu
(chủ biên) – NXB Giáo Dục)
b. Khái niệm 2: Thể loại văn học là dạng thức của tác phẩm văn học, được
hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển lịch sử của văn
học, thể hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của
các loại hiện tượng đời sống được miêu tả và về tính chất của mối quan hệ của
nhà văn đối với các hiện tượng đời sống ấy … Thể loại văn học trong bản chất
phản ánh những khuynh hướng phát triển vững bền, vĩnh hằng của văn học và
các thể loại văn học tồn tại để giữ gìn, đổi mới thường xuyên các khuynh hướng
ấy. Do đó mà thể loại văn học luôn luôn vừa mới vừa cũ, vừa biến đổi, vừa ổn
định. (Từ điển Thuật ngữ văn học – Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc

1.a.2.4. Khái niệm Truyện:
Truyện – tự sự là phương thức tái hiện đời sống, bên cạnh hai phương
thức khác là trữ tình và kịch được dùng làm cơ sở để phân loại các tác phẩm văn
học.
Truyện là phương thức phản ánh hiện thực qua các sự kiện, biến cố và hành
vi con người làm cho tác phẩm tự sự trở thành một câu chuyện về ai đó hay về
cái gì đó. Cho nên tác ophaamr tự sự bao giờ cũng có cốt truyện… cốt truyện
được khắc họa nhờ một hệ thống chi tiết nghệ thuật phong phú, đa dạng, bao
gồm chi tiết, sự kiện, xung đột, chi tiết nội tâm, ngoại hình của nhân vật, chi tiết
tính cách… đời sống, văn hóa, lịch sử, lại còn có cả những chi tiết liên tưởng,
tưởng tượng, hoang đường mà không nghệ thuật nào tái hiện được…(Từ điển
Thuật ngữ văn học).
1.a.2.5. Khái niệm Kí:
Kí là một loại hình văn học trung gian nằm giữa báo chí và văn học, gồm
nhiều thể, chủ yếu là văn xuôi tự sự.
Tính xác thực là đặc trưng cơ bản của thể kí, Kí phản ánh hiện thực khách
quan. Những sự kiện, con người đều mang tính xác thực. Kí cũng có khả năng
hư cấu nhưng liều lượng hư cấu có giới hạn và không thể xa rời thực tiễn.

Kí là thể loại in đậm dấu ấn hình tượng tác giả. Người viết kí không ẩn
mình mà trực tiếp viết ra những gì mình chứng kiến, quan sát. Cái tôi tác giả kể,
thông tin, miêu tả hoặc dẫn dắt người đọc tiếp cận cuộc sống, con người
Ngôn ngữ kí chủ yếu là ngôn ngữ của tác giả. Là thể loại nhanh nhạy, kí
phản ánh kịp thời những vấn đề sôi bỏng của đời sống, nên ngôn ngữ kí gần với
ngôn ngữ đời thường.
Cấu trúc tác phẩm kí thường theo trục tuyến thời gian, cảm xúc, sự kiện.
Thể loại kí có những thể cơ bản sau: bút kí, sử kí, phóng sự, tuỳ bút, kí sự,
hồi kí, nhật kí. (Từ điển Thuật ngữ văn học).
b. Cơ sở thực tiễn.
1.b.1. Khảo sát các tác phẩm văn học sau năm 1975 trong SGK Ngữ

vào đó, nhiều GV vẫn chưa ý thức đúng mức về tầm quan trọng của tri thức lí
luận văn học trong quá trình dạy học tác phẩm văn chương. Vì thế, vấn đề làm
thế nào để hình thành kiến thức lí luận cho HS, giúp các em vận dụng những

kiến thức công cụ này vào khám phá tác phẩm cũng không được chú ý đến. Rất
nhiều GV chưa thực sự chú trọng trang bị, hình thành cho HS những kiến thức lí
luận văn học một cách trực tiếp bên cạnh việc bồi dưỡng tri thức lí luận cho HS
thông qua việc dạy tác phẩm.
Văn học Việt Nam sau năm 1975 với sự nở rộ của các phong cách, bút
pháp, bộc lộ hết mình các cá tính sáng tạo của nhà văn cùng với việc ra sức tìm
kiếm, thể nghiệm nhiều hình thức và thủ pháp mới thực sự là những “thách
thức” đối với GV trong việc tổ chức quá trình đọc hiểu ở HS. Để giờ học đạt
hiệu quả như mong muốn, GV cần phải nhận thức được vai trò quan trọng của
tri thức lí luận văn học đối với việc đọc hiểu tác phẩm. Trên cơ sở đó, có những
định hướng giúp HS vận dụng những tri thức mang tính công cụ này vào quá
trình tiếp nhận tác phẩm. Thông qua từng bài học cụ thể, giúp HS tích luỹ, củng
cố và khắc sâu tri thức lí luận văn học. Có như vậy, mới khắc phục nguy cơ
những tri thức lí luận văn học đang biến thành những tri thức thuần lí.
Việc nhận diện, nắm chắc thể loại và vận dụng tri thức về thể loại vào dạy
học các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975 cũng là một hướng đi góp
phần nâng cao hiệu quả dạy học bộ phận văn học này. Bởi lẽ, trong chương trình
Ngữ văn lớp 12, phần văn học sau 1975 xuất hiện nhiều thể loại khác nhau. Nếu
như GV không có trong tay những tri thức cần thiết về thể loại thì việc định
hướng và tổ chức cho HS chiếm lĩnh tác phẩm sẽ không hề đơn giản. Phải làm
sao để HS thực sự đến với văn chương bằng cả trái tim và trí tuệ. Có như vậy,
giờ văn mới thực sự được trả về đúng với bản chất của nó.
Phần văn học Việt Nam sau 1975 có nhiều tác phẩm mới với hướng tiếp
cận mở, GV gặp không ít khó khăn trong quá trình tổ chức cho HS đọc hiểu văn
bản. Bản thân một bộ phận GV còn lúng túng trong việc hướng dẫn HS tìm ra
hướng phân tích tác phẩm. Rõ ràng GV muốn tiếp cận, giải mã những tác phẩm

DẠY HỌC ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM VĂN HỌC VIỆT NAM SAU NĂM
1975 Ở TRƯỜNG THPT
2.1. Hướng dẫn học sinh đọc hiểu tác phẩm Đàn ghi ta của Lorca –
Thanh Thảo theo hướng vận dụng tri thức lí luận về thể loại thơ hiện đại.
a. Thơ:
Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm
trạng, những xúc cảm mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất
là có nhịp điệu. Bàn về thơ, Sóng Hồng viết: Thơ là một hình thái nghệ thuật
cao quý, tinh vi. Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng
cháy trong lòng. Nhưng thơ là tình cảm và lí trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn
và có nghệ thuật. Tình cảm và lí trí ấy được diễn tả bằng những hình tượng đẹp
đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác thường. (Từ điển
Thuật ngữ văn học – Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ
biên) – NXB Giáo Dục).
b. Đặc điểm của thơ hiện đại:
* Về cơ bản, thơ thuộc loại trữ tình, dù trong thơ có thể chứa đựng những
yếu tố của tự sự. Đi vào thế giới của thơ, người đọc bắt gặp ở đó những biểu
hiện trực tiếp cảm xúc, cả những suy tư của chủ thể trữ tình. Chính vì tập trung
vào thể hiện những cảm xúc, tâm trạng, nỗi niềm thầm kín, chủ quan của chủ thể
trữ tình nên thơ có khả năng biểu hiện những vấn đề và chân lý phổ quát của tồn
tại con người như sự sống, cái chết, tình yêu, niềm tin, lý tưởng Ở thơ, bao giờ
cũng là một cách tổ chức ngôn ngữ khác thường, trong đó, đặc biệt chú trọng
đến nhịp điệu và sự hàm súc, khả năng biểu đạt đặc biệt của từ ngữ ở phương
diện âm thanh và phương diện tạo hình. Có thể khẳng định: thơ là tiếng nói của
tình cảm, cảm xúc, là tiếng nói, khúc hát của tâm hồn. Vì vậy, đến với thơ là tìm
đến với những tâm hồn đồng điệu, để bắt gặp tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng
nói đồng chí.
*Ở trường phổ thông hiện nay, hiện tượng HS ít hiểu biết về thơ, ít yêu
thơ không phải là điều hiếm gặp. Thậm chí với nhiều em, thế giới thơ hoàn toàn
là một thế giới xa lạ. Bản thân các em hiểu biết rất ít về thơ hiện đại. Để tìm

M.Gorki từng nói: “Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên của văn học”. Ngôn ngữ
là chất liệu để người nghệ sĩ vẽ nên bức tranh đời sống và truyền đạt những
thông điệp tư tưởng – thẩm mĩ đến người đọc. Ngôn từ tác phẩm chính là chiếc
cầu nối giữa nhà văn và người đọc. Như vậy, ngôn ngữ chính là công cụ, chất
liệu cơ bản của văn học, được chọn lọc, rèn giũa qua lao động nghệ thuật của
người nghệ sĩ. Ngôn ngữ là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện các tính
sáng tạo, phong cách, tài năng của người cầm bút. Đặc biệt trong thơ, mọi khả
năng biểu đạt, sức mạnh và vẻ đẹp của ngôn ngữ văn học được thể hiện đầy đủ
hơn cả. Ngôn ngữ thơ gắn chặt với đặc điểm ngôn ngữ của mỗi dân tộc, đồng
thời mang đậm dấu ấn cá tính phong cách của nhà thơ. Nếu trong thơ trung đại,
do sự chi phối của cảm quan thời trung đại về vũ trụ và nhân sinh, do quan niệm
mỹ học thiên về tính cân xứng, tính sùng cổ, mà ngôn ngữ thơ đậm tính ước lệ,
tượng trưng thì trong thơ hiện đại, ngôn ngữ thơ thoát khỏi tình trạng nặng về
tính trang nhã, ước lệ, dày đặc điển cố trong từ chương sách vở để gần hơn với
tình cảm, cảm xúc tự nhiên của con người do chủ thể trữ tình được giải phóng
thoát khỏi những ràng buộc con người cá nhân. Chính sự đa dạng về tư duy nghệ
thuật và sự phong phú về giọng điệu đã khiến cho ngôn ngữ thơ có sự phân hoá
và phân cực về cả bề nổi và về cả tầng sâu: bên cạnh thứ ngôn ngữ gần gũi với
đời thường là loại ngôn ngữ mờ nhoè, đậm chất tượng trưng, siêu thực, bên cạnh

thứ ngôn ngữ bình dị là những văn bản thơ ngôn ngữ chắp vá một cách cố ý
nhằm tạo nên sự lạ hoá…
c. Cách thực hiện.
c.1. Về tác giả: GV hướng dẫn học sinh tìm hiểu sự đổi mới trong thơ
Thanh Thảo. Đàn ghi ta của Lorca rất tiêu biểu cho nỗ lực cách tân thơ Việt
Nam của Thanh Thảo, bài thơ có phần khó hiểu vì nó nhuốm màu sắc tượng
trưng và siêu thực mà ông chịu ảnh hưởng ít nhiều ở chính nhà thơ hiện đại Tây
Ban Nha Gar-xi-a Lorca mà ông hết lòng ngợi ca. Cho nên khi dạy bài thơ này
giáo viên phải cung cấp và giảng giải cho học sinh khái niệm thơ tượng trưng
và siêu thực, được thể hiện cụ thể trong bài thơ như thế nào?

Lorca và của nền văn hóa đấu bò Tây Ban Nha, đồng thời gợi cái chết bi thảm
của người nghệ sĩ khao khát tự do, khao khát cách tân nghệ thuật.
Từ cái nhìn này, GV phải giảng giải cho học sinh hiểu được: thơ siêu
thực tạo nên những kết nối ngẫu nhiên (tiếng ghi ta nâu/ bầu trời cô gái ấy). Kĩ
thuật liền kề này thực chất là đả phá trật tự tuyến tính trong tư duy thơ trước đó.

Người viết đề cao lối tư duy đồng hiện. Nghệ thuật ngôn từ lúc này không diễn
ra trong thời gian, nơi màu sắc, bố cục của màu sắc, của âm thanh được chú
trọng: giọt nước mắt vầng trăng/ long lanh trong đáy giếng. Những câu thơ này
thiên về gợi hình. Chúng chiếm lĩnh không gian và tạo ra các không gian tiếp
nối. Vì lẽ này, thơ siêu thực hấp dẫn người đọc theo lối một bức tranh.
Bài thơ có sự kết hợp độc đáo giữa màu sắc, hình khối và âm thanh. Đấy
là nghệ thuật tổng hợp các loại hình nghệ thuật hội họa, điêu khắc, âm nhạc và
dĩ nhiên là cả văn học. Nhà thơ “nói” mọi thứ bằng chất liệu ngôn từ trên nền kĩ
thuật đặc trưng của các loại hình nghệ thuật. Vậy nên, khi tiếp xúc với bài thơ,
người đọc cần huy động tối đa các giác quan để cảm nhận. Bởi mỗi câu thơ là
một gián đoạn: tiếng ghi ta xanh (màu sắc), tiếng ghi ta tròn (hình khối), tiếng
ghi ta chảy máu (kết hợp màu sắc và sự chuyển động). Những kết hợp đầy sáng
tạo, người đọc khó có thể hình dung được những biểu hiện ấy của ghi ta khi
chưa đọc bài thơ.
Bút pháp siêu thực còn có sự kết hợp giữa những yếu tố hiện thực với các
yếu tố tưởng tượng, hoang đường và cả những yếu tố tôn giáo (thông thường là
những yếu tố lấy từ giấc mơ): đường chỉ tay, lá bùa, dòng sông (gợi triết lí siêu
thoát của nhà Phật). Trong trường hợp này, kĩ thuật siêu thực chính là sự tổng
hợp nhiều mô thức văn hóa của nhân loại.
Tất cả những dụng công nghệ thuật trên nhằm để bày tỏ nỗi xót xa trước
cái chết của Lorca. Khẳng định tầm vóc thiên tài và sự bất tử của nghệ sĩ, khẳng
định sứ mạng nghệ thuật, và đề cao khả năng nhận thức và tái tạo vô hạn của
nghệ sĩ, của ngôn từ trên cuộc đời.
Rõ ràng kiến thức lí luận văn học thuần túy sẽ trở nên dễ hiểu thông qua sự

phạm thì mới có thể tổ chức tốt quá trình tiếp cận phân tích các tác phẩm thơ
hiện đại cho HS.
2.2. Hướng dẫn học sinh đọc hiểu tác phẩm truyện Chiếc thuyền ngoài
xa – Nguyễn Minh Châu theo hướng vận dụng tri thức về thể loại truyện hiện
đại.
a. Truyện :
Nếu tác phẩm trữ tình phản ánh hiện thực trong sự cảm nhận chủ quan về
nó, thì tác phẩm tự sự lại tái hiện đời sống trong toàn bộ tính khách quan của nó.
Tác phẩm tự sự phản ánh hiện thực qua bức tranh mở rộng của đời sống, trong
không gian, thời gian, qua các sự kiện, biến cố xảy ra trong cuộc đời con người.
trong tác phẩm tự sự nhà văn cũng thể hiện tư tưởng và tình cảm của mình.
Nhưng ở đây, tư tưởng và tình cảm của nhà văn thâm nhập sâu sắc vào sự kiện
và hoạt động bên ngoài của con người tới mức giữa chúng giường như không có
sự phân biệt nào cả. Nhà văn kể lại, tả lại những gì xảy ra bên ngoài mình, khiến
cho người đọc có cảm giác rằng hiện thực được phản ánh trong tác phẩm tự sự là
một thế giới tạo hình xác định đang tự phát triển, tồn tại bên ngoài nhà văn,
không phụ thuộc vào tình cảm, ý muốn của nhà văn. (Từ điển Thuật ngữ văn
học).
b. Đặc điểm của truyện hiện đại :
“Ở văn học hiện đại, “truyện” là một khái niệm không thật xác định. Một
mặt, nó vẫn được dùng để trỏ mọi loại tác phẩm tự sự có cốt truyện nói chung
(bao gồm cả truyện ký, tiểu thuyết), mặt khác, lại có lối dùng nó như một thuật
ngữ trỏ dung lượng tác phẩm tự sự (“truyện dài”, “truyện vừa”, “truyện ngắn”).
Theo tác giả Trần Thanh Đạm, “truyện là một khái niệm rộng bao gồm các thể
tài chủ yếu thuộc loại hình tự sự. Tự sự có nghĩa là kể chuyện. Và có kể chuyện
ắt là có truyện”.
Về các yếu tố cơ bản của truyện, có: cốt truyện, nhân vật, trần thuật, thời
gian, không gian trong truyện và lời văn của truyện. Ở thể loại truyện hiện đại,
về trần thuật, nhiều tác giả sử dụng cách trần thuật nhập vai nhân vật, hoặc xen
kẽ, hoà nhập lời của người trần thuật khách quan với lời của nhân vật, tạo thành

GV cũng cần giúp HS hiểu và khai thác được tình huống của truyện. Vì
đối với cốt truyện, tình huống chính là điểm nhấn, là đầu mối của các biến cố
trọng yếu. Trong truyện, tình huống là một tâm trạng của một nhân vật hoặc một
trạng thái của đời sống dưới cái bề ngoài lặng lẽ, bình thường, mà phải bằng một
sự tinh tế, nhạy cảm đặc biệt nhà văn mới cảm nhận và thể hiện được. Ví dụ,
trong “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu, tình huống bất ngờ,
cảnh anh chồng đánh đập tàn bạo người vợ và cảnh chị ta chỉ im lặng chịu đựng,
diễn ra trước mắt người phóng viên nhiếp ảnh, chỉ là tình huống bên ngoài để
dẫn đến tình huống bên trong: sự nhận thức lại hay là “vỡ lẽ” của hai nhân vật
Phùng và Đẩu về nhiều điều không hề đơn giản, cả những nghịch lý trong đời
sống. Tác phẩm bắt đầu bằng cái vẻ ngoài bình dị của một câu chuyện đời
thường với những chi tiết bình thường của đời sống. Một phóng viên nhiếp ảnh
tìm về một vùng biển miền Trung và nằm phục ở đó cả tháng trời để tìm cảnh
cho cho một tấm lịch trong chuyên đề về thuyền và biển Anh đã tìm kiếm, đã
bấm máy và có lúc đã ngập tràn hạnh phúc ngỡ như mình vừa chứng kiến, vừa
đối diện với vẻ đẹp toàn bích, với cái tận thiện, tận mĩ của đời sống. Ấy là khi
đôi mắt nhà nghề của anh phát hiện một vẻ đẹp “trời cho” trên mặt biển mù
sương: “Trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ. Mũi
thuyền in một nét mơ hồ, loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi
chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào Toàn bộ khung cảnh từ đường
nét đến ánh sáng đều hài hoà và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích
khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào.

Chẳng biết ai đó đã lần đầu phát hiện ra cái đẹp chính là đạo đức? Trong giây
phút bối rối, tôi tưởng mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện,
khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Nhưng mọi chuyện lại
bắt đầu từ cái ngã rẽ bất ngờ này. Ngay sau sự phát hiện thứ nhất về cái đẹp, cái
lãng mạn của đời sống là sự phát hiện thứ hai đầy trớ trêu đến tàn nhẫn để lộ ra
cái mặt trái của cuộc đời và con người nhiều “đa sự, đa đoan”. Ám ảnh không
rời khi đọc xong tác phẩm chính là bi kịch của cặp vợ chồng hàng chài. Hình

đồng và xốc nổi thì kịch liệt kết tội bố đã gây ra cảnh ngộ này. Vị thẩm phán
dưới góc độ pháp luật để bảo vệ cho người bị hại thì li hôn là phương cách tối
ưu. Còn người đàn bà thì sao? Bà không bỏ chồng mặc dù bị đối xử tàn tệ có
phải bởi lo sợ hay nhẫn nhục cam chịu cho qua một kiếp làm người? Cách nghĩ
của chị khiến nhiều người phải giật mình xem lại mình. Ba lí do thật đơn giản
nhưng vô cùng sâu sắc: bản tính ấy của chồng theo chị không phải bản chất mà
do hoàn cảnh nghèo, đông con gây ra; với chị- người đàn bà sống lênh đênh trên
thuyền thì rất cần người đàn ông như một chỗ dựa để chống chọi phong ba bão

tố; cuối cùng, nhân bản nhất đó là vì con, vì những ngày tháng hạnh phúc mà họ
từng có. Nhà văn không hề áp đặt người đọc bởi một cách nghĩ nào cả mà đặt
trong sự bỏ ngỏ tùy người đọc lựa chọn. Vì thế, tác phẩm giàu tính đối thoại mà
mỗi một người đọc đều có quyền lựa chọn cho mình một đáp án riêng. Do đó,
GV cần làm tốt vai trò định hướng, dẫn dắt quá trình cảm thụ ở HS.
2.3. Hướng dẫn học sinh đọc hiểu tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng
sông ? – Hoàng Phủ Ngọc Tường theo hướng vận dụng tri thức về thể loại kí.
a. Về thể loại Bút kí :
Bút kí là thể loại thuộc loại hình kí thường có quy mô tương ứng với truyện
ngắn. Bút kí khác với truyện ngắn ở chỗ tác giả bút kí không sử dụng hư cấu vào
việc phản ánh hiện thực.
b. Đặc điểm của bút kí.
Bút kí ghi lại những con người thực và sự việc mà nhà văn đã tìm hiểu,
nghiên cứu cùng với những cảm nghĩ của mình nhằm thề hiện một tư tưởng nào
đó. Sức hấp dẫn và thuyết phục của bút kí tùy thuộc vào tài năng, trình độ quan
sát, nghiên cứu, khám phá, diễn đạt những khía cạnh « có vấn đề », những ý
nghĩ mới mẻ, sâu sắc trong va chạm giữa tính cách và hoàn cảnh, cá nhân và
môi trường. Nói cách khác, giá trị hàng đầu của bút kí là giá trị nhận thức.
…(Từ điển Thuật ngữ văn học).
Khi giảng dạy kí, điều lưu ý trước tiên là GV cần bám chắc vào đặc điểm
cơ bản của kí là tính xác thực. Mỗi thể kí lại có những đặc điểm riêng. Vì thế,

nhà văn để HS có hướng tiếp cận tác phẩm này một cách chính xác hơn. “Ai đã
đặt tên cho dòng sông ?” là tác phẩm kí viết về Huế mà nhân tố làm nên giá trị
đặc sắc của tác phẩm là màu sắc văn hóa. Bởi các dòng sông luôn là cái nôi của
những vùng, những nền văn hoá đa dạng, nhiều màu sắc.
Về quá trình đọc hiểu tác phẩm: qua việc phân tích văn bản ngôn từ, qua
cảm nhận trực giác của người đọc, giúp HS tìm ra cái hay, cái đẹp của văn bản.
GV hướng dẫn HS tiếp thu lượng thông tin tri thức về đối tượng mà nhà văn nói
đến trong văn bản và tìm hiểu nghệ thuật trần thuật tài hoa của người viết. “Ai
đã đặt tên cho dòng sông” là một áng thơ trữ tình bằng văn xuôi ca ngợi sông
Hương và thiên nhiên Huế. Thông qua tác phẩm, nhà thơ bộc lộ niềm tự hào về
lịch sử - văn hoá Huế, đồng thời thể hiện tấm lòng yêu quê hương, đất nước của
mình. Qua đó, giúp HS có thêm tri thức về thiên nhiên, con người, lịch sử và văn
hóa xứ Huế, đồng thời có được tri thức về thể loại, về nghệ thụât trần thuật và
cảm nhận về những rung động tinh tế của nhà văn.
Việc vận dụng tri thức lý luận văn học vào quá trình dạy học nhằm tạo cơ sở
khoa học cũng như đem lại con đường tiếp cận và đánh giá tác phẩm một cách
có hiệu quả. Khi vận dụng tri thức lý luận văn học vào dạy học đọc văn cần
tránh việc cung cấp lý thuyết mang tính thuần lý mà hướng tới giúp HS vận
dụng vào phát hiện, phân tích những chi tiết, hình ảnh trong tác phẩm cụ thể. Để
cảm cái hay, cái đẹp được thể hiện qua bức thông điệp thẩm mĩ. Vận dụng tri
thức lý luận vào dạy học đọc hiểu tác phẩm cần bảo đảm sự cân bằng giữa cảm
và hiểu. Có như vậy, HS mới tìm được tiếng nói tri âm trong tác phẩm và sống
cùng thế giới nghệ thuật mà nhà văn đã sáng tạo nên. Những kiến thức lý luận sẽ
giúp cho GV và HS khai thác những đặc sắc nghệ thuật trong từng tác phẩm.
Mặt khác, thông qua giờ dạy đọc hiểu tác phẩm văn học, những tri thức về lý
luận sẽ được tích lũy, củng cố và khắc sâu ở HS.
Lí luận văn học hiện đại đã chỉ ra nhiều cách tiếp cận tác phẩm: tiếp cận theo

nhưng phải biết vượt lên nó để sáng tạo.
B. ĐỊNH HƯỚNG VỀ NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐỌC HIỂU
1. Định hướng về nội dung
* Đặc điểm bài học
+ Về nội dung
Bài thơ viết về cái chết của Lorca, nhà thơ, nhạc sĩ, nhà viết kịch, nhà hoạt
động sân khấu thiên tài người Tây Ban Nha vào năm 1936, khi ông mới 38 tuổi.
Cái chết của Lorca là sự kiện gây chấn động lớn không chỉ ở Tây Ban Nha
mà còn với toàn thế giới, không chỉ lúc bấy giờ mà còn âm vang tới nhiều năm
sau. Thanh Thảo muốn phục sinh thời khắc bi tráng đó, tỏ lòng ngưỡng mộ, đau
xót và qua đó xây dựng biểu tượng nghệ thuật Lorca qua một hình ảnh quen
thuộc mà độc đáo: đàn ghita.
+ Về hình thức
Với Lorca, người được coi như một trong những bậc thầy của thi ca hiện
đại thế giới, đại diện tiêu biểu cho một thế hệ nghệ sĩ mới đầy tình công dân và ý
thức cách tân nghệ thuật, nên với bài tưởng mộ của mình, Thanh Thảo không
muốn dừng lại với hình thức thông thường, ông thể nghiệm một hình thức mới,
gần gũi với dòng mạch tượng trưng và siêu thực, tạm gọi là kết hợp và giao hoà:
kết hợp giữa tự sự và trữ tình, giữa thơ và nhạc, giữa màu sắc thơ viếng phương
Đông và chất bi tráng của nhạc giao hưởng phương Tây, giữa hệ thống thi ảnh
Lorca và hệ thống của chính tác giả. Tất cả lại đưa vào một cấu trúc mới cũng
mang tính chất kết hợp và giao hoà: giao hoà giữa tính liên tục trong cốt tự sự
với tính gián đoạn trong suy cảm và ngôn ngữ thơ.
* Trọng tâm bài học:

- Phân tích và cảm nhận được vẻ đẹp của hình tượng Lorca và biểu tượng
nghệ thuật Lorca trong mạch cảm xúc và suy tư đa chiều vừa sâu sắc, vừa mãnh
liệt của tác giả bài thơ.
- Cảm nhận vẻ đẹp độc đáo trong hình thức biểu đạt mang phong cách
hiện đại.

Ban Nha.
* Tiến trình tổ chức, hướng dẫn HS đọc – hiểu văn bản
HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS NỘI DUNG KIẾN THỨC CẦN
ĐẠT

HS nêu kết quả cần đạt,->xác định trọng
tâm bài học.
HS đọc tiểu dẫn và ghi lại những nét chính
về tác giả và tác phẩm.
Em hãy trình bày những nét chính về tác
giả?
HS giới thiệu. GV nhấn mạnh những điểm
cần ghi nhớ.
GV kết hợp gợi mở và diễn giảng về phong
cách thơ Thanh Thảo:
- Nhà thơ được công chúng đặc biệt chú ý
bởi những bài thơ và trường ca mang diện
mạo độc đáo viết về chiến tranh và thời hậu
chiến, thể hiện nhiều trăn trở và suy tư về xã
hội và thời đại.
- Sau năm 1975, dành tâm huyết cho việc
đổi mới thơ ca qua cách diễn đạt mới: hình
thức thơ ca tự do (có khi là thơ văn xuôi),
nhịp vần bất thường, những kiểu kết hợp lạ
kì, thi ảnh và ngôn ngữ mới mẻ.

Nêu xuất xứ và thể thơ?
Hs dựa vào tiểu dẫn trả lời câu hỏi.

GV: Bài thơ lấy cảm hứng từ số phận và - Thơ Thanh Thảo đậm chất triết
luận, giàu suy tư với những cách
tân nghệ thuật độc đáo, mới mẻ,
mang màu sắc tượng trưng, siêu
thực. 2. Tác phẩm
a. Xuất xứ:
-Bài thơ “Đàn ghita của Lor-ca”
rút trong tập “Khối vuông ru-
bich” (1985)
b. Thể thơ: Tự do, mang màu sắc
tượng trưng, siêu thực

Khổ 4: tha thiết, tiếc nuối.
Khổ 5: trầm lắng, suy tư.
- GV nhận xét cách đọc
- HS tìm hiểu chú thích để có thể cảm nhận
sâu sắc hơn vể bài thơ.
Qua việc đọc và soạn bài, em hãy cho biết
kết cấu của bài thơ? Nội dung của từng
phần?
- HS trả lời
- GV nhận xét, định hướng.
- GV yêu cầu HS dựa vào phần chú thích để
giải thích ý nghĩa nhan đề của bài thơ.
+ HS đọc và giải thích
+ GV nhấn mạnh.


-Ghita không chỉ là nhạc cụ
truyền thống của Tây Ban Nha mà
còn được coi là biểu tượng cho
nền nghệ thuật của đất nước này:
Tây Ban Cầm
-Lorca: + Một nghệ sĩ thiên tài.
+ Một nhân cách cao đẹp.

Nêu xuất xứ và ý nghĩa của lời đề từ?
GV nhấn mạnh và liên hệ với câu nói của
Gôm-brô-vích và Trần Dần. Chân dung nghệ sĩ Lorca được gợi lên
trong một không gian như thế nào? được

b. Lời đề từ: cũng chính là
di chúc của Lorca “khi tôi chết
hãy chôn tôi với cây đàn”, thể
hiện:
+ Tình yêu tha thiết xứ sở Tây
Ban Nha
+ Khao khát cách tân nghệ
thuật
+ Mong muốn xoá bỏ ảnh
hưởng của bản thân để dọn đường
cho thế hệ sau vươn tới->Nhân
cách cao đẹp.
=>Khơi nguồn dẫn dắt cảm
xúc của Thanh Thảo.
2.2 Đoạn 1: Lorca- nghệ sĩ
tự do nhưng đơn độc.
- Không gian văn hoá mang
đậm bản sắc Tây Ban Nha: tiếng
đàn, đấu trường, hoa lila.
+Vầng trăng, yên ngựa trong
không gian mênh mông của thảo
nguyên, với bầu trời và đồng cỏ.
+ Những tiếng đàn bọt nước: thị
giác, thính giác-> trong trẻo, dễ
vỡ của nền nghệ thuật mới (báo
trước định mệnh phũ phàng
Lorca).
+Áo choàng đỏ gắt ->Đấu trường
bò tót Tây Ban Nha.
+ Li la: mô phỏng tiếng đàn ghi


GV: liên hệ số phận nhân vật Hạ Du trong
“Thuốc” của Lỗ Tấn.

Thái độ và phản ứng của Lorca khi bị
bắt?
(Phản ứng: kinh hoàng-> bất ngờ, kinh
ngạc; thái độ: đi như người mộng du, vẫn
ngẩng cao đầu, không bận lòng tới cái chết).
Cái chết của Lorca được gợi tả bằng
những hình ảnh nào? Ý nghĩa?
GV giảng: Tấm áo choàng đỏ là ngọn lửa
đấu tranh,là khát vọng cháy bỏng, là lời
tuyên chiến; giờ đâu thấm đẫm máu của
người anh hùng. Diễn tả cái chết của Lorca, Thanh Thảo
đã sử dụng thủ pháp nghệ thuật gì?
(Lorca không còn xuất hiện, chỉ có tiếng
đàn không còn vẹn nguyên, nó đã vỡ ra qua
nghệ thuật…)
Tiếng ghita được hình dung bằng những
hình ảnh khác nhau, hãy lí giải ý nghĩa
khát vọng dân chủ và cách tân
nghệ thuật.
=>Tất cả làm nổi bật không
gian văn hóa Tây Ban Nha. Hình
ảnh thơ gợi lên không gian chính
trị khốc liệt với những cuộc đàn

=>Cái chết:-Bi thảm, tàn
khốc.
-Bi tráng: một
dũng sĩ, nghệ sĩ hi sinh vì nghệ
thuật, vì tự do, dân chủ.
+Nghệ thuật:
*Hoán dụ: Tiếng đàn- Cuộc
đời Lorca.
Áo choàng bê bết đỏ- Cái

tượng trưng của những hình ảnh đó?
+Tiếng ghita nâu (màu mắt nâu huyền của
cô gái ấy, màu đất, màu gỗ của cây đàn đặc
trưng).
+Tiếng ghita lá xanh: tuổi trẻ, tuổi xuân,
niềm tin và hi vọng của Lorca.
+Tiếng ghita tròn bọt nước vỡ tan: tượng
trưng cho cái chết bất ngờ, nhanh chóng,
không thể cứu vãn.
+Tiếng ghita ròng ròng máu chảy: cái chết
thảm khốc, bi thiết, ám ảnh người đọc

-Thanh Thảo gửi niềm xót thương vô hạn
của mình với Lorca vào hình ảnh những
tiếng ghita.
+Điệp từ “Tiếng ghita” như tấu lên một
khúc nhạc đau đớn, nhức nhối.
+Từ cảm thán “biết mấy”->gợi sự tiếc
thương vô hạn vì hành trình dở dang của
những cách tân nghệ thuật.

khối (tròn bọt nước) thành dòng
chuyển động.
-Tượng trưng: bầu
trời-tự do, cô gái-tình yêu, bọt
nước-mong manh, ròng ròng máu
chảy- đau đớn tột cùng.
->Âm nhạc thành sinh thể có linh
hồn, thân phận, cùng chịu
chung số phận với người nghệ sĩ
sáng tạo ra nó.
=>Tiếng ghita gắn với người nghệ
sĩ, là hình ảnh ẩn dụ về cuộc đời,
cái chết của Lorca.
Bằng những hình ảnh đậm màu
sắc tượng trưng, siêu thực, tác giả
đã làm phục sinh giây phút bi
phẫn trong cuộc đời của Lorca;
thể hiện nỗi đau xót trước cái chết

có ý nghĩa gì?
Chiếc ghita đã giúp Lorca siêu thoát đến cõi
vĩnh hằng-> Tình yêu nghệ thuật và sự gắn
bó thiết tha của Lorca với nghệ thuật đi vào
bất tử. Lorca sang sông là Lorca đi vào cõi
khác bằng một phương tiện thật đẹp “Lorca
bơi sang ngang/ trên chiếc ghi ta màu bạc”
Hành động ném lá bùa, trái tim có ý nghĩa
tượng trưng gì?
- HS trao đổi, thảo luận về hình ảnh “lá bùa
cô gái Di Gan, trái tim mình, xoáy nước” và
hành động của Lorca để sang bên kia sông.

GV yêu cầu HS nêu giá trị nội dung và nghệ
thuật của bài thơ.
HS trả lời.
GV khắc sâu kiến thức.
* Nội dung
-Hình tượng Lorca hiện lên mạnh mẽ nhưng
hiểu Lorca, không ai hiểu di chúc
Lorca nên không ai “chôn” nghệ

c. Khổ 6:
-Hành động ném: dứt khoát, mạnh
mẽ.
- Hình ảnh: +lá bùa: huyền bí
+Trái tim: tình yêu.
+Xoáy nước: kiếp nạn
của con người.
-> Lorca dứt khoát từ giã cuộc
sống một cách thanh thản, thái độ
coi thường cái chết.
=> Bài ca về sự bất tử của người
nghệ sĩ chân chính. Tác giả thể
hiện niềm ngưỡng mộ và xót

cũng thật lẻ loi trên con đường gập ghềnh,
xa thẳm.
-Lời thơ di chúc của Lorca hàm ẩn tình yêu
đất nước, tình yêu nghệ thuật và khát vọng
cách tân mãnh liệt.
-Cái chết không thể tiêu diệt được tâm hồn
và nghệ thuật của Lorca.
=>Tình cảm yêu mến, trân trọng, ngưỡng
mộ và tri âm của Thanh Thảo dành cho
Lorca.
* Nghệ thuật
Sử dụng thành công những thủ pháp tiêu
biểu của thơ tượng trưng , siêu thực. Ngôn
ngữ thơ hàm súc, giàu sức gợi.
thương vô hạn với Lorca.
III. Tổng kết (ghi nhớ SGK)


16 35.6

3 6.7
11B4 44 0 0.0 1 2.3 28 63.6

12 27.3

2 4.5
Tổng 174 2 3.5 45 25.9

90 51.7

30 17.2

5 2.9

Bảng 2. Kết quả học tập của năm học 2011 -2012
Lớp Sĩ số

Giỏi Khá TB Yếu Kém
Ghi
chú
Ts

% TS % TS % TS % TS



4 9.8 29 70.7

8 19.5

0 0.0 11B4


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status