SKKN Đề tài Vận dụng tri thức lí luận về thể loại vào dạy đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975 ở trường THPT - Pdf 37

Đề tài: Vận dụng tri thức lí luận về thể loại vào dạy đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975
ở trường THPT.

VẬN DỤNG TRI THỨC LÍ LUẬN VỀ THỂ LOẠI VĂN HỌC VÀO DẠY ĐỌC
HIỂU CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC VIỆT NAM SAU NĂM 1975 Ở TRƯỜNG
THPT
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng cho rằng: “Văn học, một hình thái ý thức
đặc biệt của xã hội, là nghệ thuật vận dụng ngôn ngữ một cách tài tình và sáng tạo để
nhận thức và phản ánh đời sống xã hội, để biểu hiện tâm tư con người. Văn học đã trở
thành công cụ để giáo dục con người, cải tạo xã hội rất mạnh mẽ, nó là thứ vũ khí tư
tưởng rất sắc bén có tác dụng to lớn, sâu rộng và bền bỉ mà lịch sử loài người từ trước
đến nay đã xác nhận”. Môn văn ngoài “dạy sống, dạy người, dạy mở mang trí tuệ”,
còn có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những hiểu biết một cách có hệ thống về lí
luận văn học. Đây là những tri thức khái quát rất quan trọng bởi lẽ dạy văn không chỉ
dừng lại ở chỗ giúp người học cảm thụ được vẻ đẹp của từng tác phẩm văn chương
(TPVC) cụ thể, mặt khác góp phần trang bị cho các em những kiến thức công cụ để
có thể tự mình tiếp nhận văn học một cách có lý luận, tiếp nhận văn học một cách văn
học.
Dạy học không phải là rót kiến thức vào cái bình chứa, hay nhồi nhét cho HS
một mớ kiến thức hỗn độn mà điều quan trọng là phải làm sao trang bị cho các em
phương pháp nghiên cứu, học tập, phương pháp giải quyết các vấn đề. Để đọc hiểu
TPVC, đòi hỏi ở người đọc không chỉ là trực cảm thẩm mĩ, thưởng thức rung cảm mà
còn ở khả năng phân tích, lí giải, đánh giá. Trong dạy học tác phẩm, không thể đối
lập giữa cảm và hiểu, giữa khả năng cảm thụ thẩm mĩ và tri thức lí luận văn học.
Muốn vậy, “không thể không vũ trang cho HS một vốn liếng lí luận cần thiết”. Tri
thức lí luận văn học là tri thức công cụ, tri thức phương pháp, là kiến thức siêu kiến
thức, giúp cho việc đọc văn có phương pháp, phù hợp với bản chất đặc trưng của văn
học, đồng thời giúp phân tích, lí giải TPVC một cách đầy đủ và sâu sắc. Nếu không,
những kiến thức mà HS có được cũng chỉ là những kiến thức vụn vặt, cảm tính, mang
tính tư liệu.

nhiều đề tài và chủ đề mới, làm thay đổi cái nhìn của nhà văn về hiện thực, về con
người. Thế giới bên trong của con người được chú trọng hơn với những diễn biến
phức tạp hơn, đa dạng hơn và nhân văn hơn mà trước đây văn học chưa có điều kiện
nói kĩ đến.
Thêm vào đó, trong chương trình Ngữ văn THPT hiện nay, có những tác phẩm
sau năm 1975 được đưa vào trong chương trình đòi hỏi HS phải được trang bị những
hiểu biết về lí luận văn học hiện đại thì mới có thể giải mã, phát hiện, khám phá
những nét đặc sắc của nó. Vì thế, bản thân GV còn khá lúng túng trong việc tiếp cận
và tìm ra phương pháp thích hợp để tổ chức quá trình cảm thụ, tiếp nhận cho HS. Bởi
Người thực hiện: Hà Thị Luyến

Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang2


Đề tài: Vận dụng tri thức lí luận về thể loại vào dạy đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975
ở trường THPT.

lẽ, để làm tốt công việc tổ chức cho HS chiếm lĩnh được các văn bản văn học Việt
Nam sau năm 1975 đòi hỏi ở người GV nhiều kiến thức về lí luận văn học cũng như
bản lĩnh và tài năng sư phạm.
Chính vì những lẽ trên, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Vận dụng tri thức lí
luận về thể loại vào dạy học đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm
1975 ở trườngTHPT” với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ
phận văn học này ở nhà trường phổ thông.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài.
a. Cơ sở lí luận.
1.a.1. Tri thức lí luận văn học là tri thức phương pháp, là “chìa khóa” để đọc
hiểu tác phẩm văn chương.

đọc năng động và sáng tạo. Với các em học sinh THPT, dẫu rằng giữa cảm tính và lý
thuyết thì cái quan trọng trước nhất vẫn là cảm tính. Điều đó có nghĩa, trong giảng
dạy văn chương trước hết phải làm sao tạo nên ở các em những rung động thẩm mỹ
để các em biết yêu, ghét, biết “cúi xuống trước nỗi đau của người khác”... Tuy nhiên
nếu chỉ dừng lại ở đó thì chưa đủ. Bởi lẽ những cảm xúc ấy sẽ trở nên nông cạn, hời
hợt, chợt loé sáng rồi chợt tắt nếu các em không cảm nhận một cách có ý thức. TPVC
là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Bức thông điệp thẩm mỹ- đứa con đẻ
tinh thần của nhà văn đã đi trọn vòng đời của mình khi đến với độc giả. Khi sáng tác,
nhà văn luôn mong muốn sẽ tìm được tiếng nói tri âm ở người đọc. Không thể phủ
nhận rằng, kiến thức lí luận đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc giúp độc giả
đọc, cảm thụ, đánh giá và phê bình một tác phẩm văn chương cụ thể.
Với học sinh THPT, yêu cầu được đặt ra cho việc cung cấp kiến thức lí luận văn
học “không phải là để bồi duỡng tư duy lý luận mà là để tiếp nhận văn học một cách
có lý luận, tiếp nhận văn học một cách văn học”. Như vậy, có thể thấy những kiến
thức lí luận là những kiến thức cơ bản, giúp cho HS tìm hiểu, phân tích những TPVC
cụ thể. Có thể xem đây là kiến thức nhập môn có tính chất mở đường hướng dẫn HS
tiếp cận tác phẩm một cách hiệu quả. Từ đó, HS mới khám phá được vẻ đẹp riêng của
từng tác phẩm cũng như tài năng của nhà văn. Việc giúp HS vận dụng tri thức lí luận
sẽ tạo cho các em tiếp cận giải mã tác phẩm một cách khoa học.
1. a. 2. Khái niệm.
1.a. 2.1. Thể loại văn học.
a. Khái niệm 1: Thể loại của tác phẩm văn học là sự thống nhất trọn vẹn của các
yếu tố đề tài, chủ đề, tư tưởng, nhân vật, kết cấu, cốt truyện, lời văn. Nhưng sự thống
nhất ấy lại được thực hiện theo những quy luật nhất định. Thể loại tác phẩm văn học
là khái niệm chỉ quy luật loại hình của tác phẩm, trong đó ứng với một loại hình nội
Người thực hiện: Hà Thị Luyến

Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang4


Vì thế Chủ nghĩa siêu thực chủ trương thơ ca phải được tuôn trào tự do, không
cần sử dụng các dấu chấm câu, không cần tuân thủ trật tự ngữ pháp, đề cao sự liên
tưởng tự do cá nhân. (Từ điển Thuật ngữ văn học).
1.a.2.3. Khái niệm Thơ trữ tình:
Người thực hiện: Hà Thị Luyến

Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang5


Đề tài: Vận dụng tri thức lí luận về thể loại vào dạy đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975
ở trường THPT.

Thuật ngữ dùng chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình trong đó, những cảm
xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện tượng của đời
sống được thể hiện một cách trực tiếp. Tính chất cái thể hóa của cảm nghĩ và tính
chất chủ quan hóa của sự thể hiện là những dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình. Là
tiếng hát của tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng thể hiện những biểu hiện phức tạp của
thế giới nội tâm, từ các cung bậc của tác phẩm cho tới những chính kiến, những tư
tưởng triết học. (Từ điển Thuật ngữ văn học).
1.a.2.4. Khái niệm Truyện:
Truyện – tự sự là phương thức tái hiện đời sống, bên cạnh hai phương thức
khác là trữ tình và kịch được dùng làm cơ sở để phân loại các tác phẩm văn học.
Truyện là phương thức phản ánh hiện thực qua các sự kiện, biến cố và hành vi
con người làm cho tác phẩm tự sự trở thành một câu chuyện về ai đó hay về cái gì
đó. Cho nên tác ophaamr tự sự bao giờ cũng có cốt truyện… cốt truyện được khắc
họa nhờ một hệ thống chi tiết nghệ thuật phong phú, đa dạng, bao gồm chi tiết, sự
kiện, xung đột, chi tiết nội tâm, ngoại hình của nhân vật, chi tiết tính cách… đời sống,
văn hóa, lịch sử, lại còn có cả những chi tiết liên tưởng, tưởng tượng, hoang đường
mà không nghệ thuật nào tái hiện được…(Từ điển Thuật ngữ văn học).

- Về kịch, có tác phẩm: Hồn Trương Ba, da hàng thịt của lưu Quang Vũ.
Như vậy, văn học Việt Nam sau năm 1975 ở chương trình Ngữ văn 12 THPT có
sự xuất hiện của nhiều tác phẩm với nhiều thể loại mà việc tổ chức quá trình đọc hiểu
không hề đơn giản. Nhiều tác phẩm có nhiều hướng tiếp cận, khai thác khác nhau.
Văn học thời kì này phát triển theo tinh thần dân chủ hoá. Giữa tác phẩm và người
đọc là một cuộc đối thoại. Vì thế, bản thân GV cũng như HS cần được trang bị những
tri thức về lí luận văn học và biết cách vận dụng những tri thức này vào quá trình tiếp
nhận thì mới có thể lĩnh hội được cái hay, cái đẹp của tác phẩm. Việc phân tích các
tác phẩm này sẽ có ý nghĩa mở ra hướng tiếp cận, khám phá cho HS trong quá trình
đọc hiểu các văn bản khác. Từ đó, trang bị cho HS những kiến thức công cụ nhằm
hoàn thiện nâng cao phương pháp đọc hiểu tác phẩm ở các em. Điều đó có nghĩa là
cần tích cực hình thành cho HS một cách đọc đối thoại, đọc đồng sáng tạo để HS có
thể cảm nhận và phân tích tác phẩm một cách chủ động. Để các em đến với văn học
và tìm hiểu giá trị của các TPVC không chỉ đơn thuần bằng những rung động cảm
tính mà thực sự khám phá tác phẩm một cách có khoa học, có lý luận. Đây là một đòi
hỏi mang tính chất bắt buộc trong yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học đọc văn ở
nhà trường phổ thông trong giai đoạn hiện nay.
1.b.2. Thực trạng dạy và học môn Ngữ văn của giáo viên và học sinh lớp
12 ở trường THPT Sông Ray
* Về phía GV:

Người thực hiện: Hà Thị Luyến

Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang7


Đề tài: Vận dụng tri thức lí luận về thể loại vào dạy đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975
ở trường THPT.


Người thực hiện: Hà Thị Luyến

Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang8


Đề tài: Vận dụng tri thức lí luận về thể loại vào dạy đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975
ở trường THPT.

thân một bộ phận GV còn lúng túng trong việc hướng dẫn HS tìm ra hướng phân tích
tác phẩm. Rõ ràng GV muốn tiếp cận, giải mã những tác phẩm trong giai đoạn này thì
phải biết tự tìm tòi đổi mới trong phương pháp tiếp cận văn chương đương đại.
Những tri thức lí luận thực sự phải trở thành tri thức phương pháp, chìa khoá để giải
mã tác phẩm. Có như vậy, GV mới có thể tổ chức, định hướng quá trình tiếp nhận tác
phẩm ở HS một cách có hiệu quả.
* Về phía HS:
Hầu hết HS ý thức về tầm quan trọng của tri thức lí luận trong quá trình đọc hiểu
tác phẩm. Tuy nhiên bên cạnh đó còn không ít HS chưa nhận thức được điều này.
Tình trạng HS chưa biết cách vận dụng những tri thức lí luận văn học vào quá trình
tiếp nhận tác phẩm văn chương là một thực tế khá phổ biến ở nhà trường phổ thông
hiện nay. Điều đó khiến cho các em tiếp thu các tác phẩm một cách thụ động, mất
dần kĩ năng đọc hiểu văn bản, thiếu năng lực đọc một cách sáng tạo.
Khi học các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975, HS còn gặp nhiều khó
khăn: khó khăn về tài liệu tham khảo, có kiến thức nhưng khó vận dụng...Để có thể
cảm và hiểu được những tác phẩm sau năm 1975, đòi hỏi ở HS những tri thức về lí
luận văn học và sự hướng dẫn của GV để HS có thể vận dụng được những tri thức ấy
vào tiếp nhận tác phẩm. Trong quá trình giảng dạy, GV phải định hướng cho HS
những tri thức cần thiết bổ trợ cho việc phân tích tác phẩm. Có làm được như vậy, HS
mới có thể khám phá các lớp ý nghĩa của những tác phẩm văn học Việt Nam sau năm
1975 ở chương trình Ngữ văn lớp 12 THPT.

Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) – NXB Giáo Dục).
b. Đặc điểm của thơ hiện đại:
* Về cơ bản, thơ thuộc loại trữ tình, dù trong thơ có thể chứa đựng những yếu
tố của tự sự. Đi vào thế giới của thơ, người đọc bắt gặp ở đó những biểu hiện trực
tiếp cảm xúc, cả những suy tư của chủ thể trữ tình. Chính vì tập trung vào thể hiện
những cảm xúc, tâm trạng, nỗi niềm thầm kín, chủ quan của chủ thể trữ tình nên thơ
có khả năng biểu hiện những vấn đề và chân lý phổ quát của tồn tại con người như sự
sống, cái chết, tình yêu, niềm tin, lý tưởng...Ở thơ, bao giờ cũng là một cách tổ chức
ngôn ngữ khác thường, trong đó, đặc biệt chú trọng đến nhịp điệu và sự hàm súc, khả
năng biểu đạt đặc biệt của từ ngữ ở phương diện âm thanh và phương diện tạo hình.
Có thể khẳng định: thơ là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc, là tiếng nói, khúc hát của
tâm hồn. Vì vậy, đến với thơ là tìm đến với những tâm hồn đồng điệu, để bắt gặp
tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí.
*Ở trường phổ thông hiện nay, hiện tượng HS ít hiểu biết về thơ, ít yêu thơ
không phải là điều hiếm gặp. Thậm chí với nhiều em, thế giới thơ hoàn toàn là một
thế giới xa lạ. Bản thân các em hiểu biết rất ít về thơ hiện đại. Để tìm được con
đường đưa thơ đến với HS, thiết nghĩ bản thân mỗi GV chỉ giảng được thơ trên trang
Người thực hiện: Hà Thị Luyến

Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang10


Đề tài: Vận dụng tri thức lí luận về thể loại vào dạy đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975
ở trường THPT.

sách khi nắm được thơ của cuộc đời và tấm lòng người giảng cũng là một tấm lòng
thơ. Bởi lẽ, dù là thơ cổ điển hay hiện đại, dù người làm thơ có muốn đổi mới gì đi
chăng nữa thì thơ ca muôn đời vẫn là tiếng nói hồn nhiên nhất, nguyên sơ nhất và
giàu tính nhân bản nhất của con người về cuộc sống, về sự cao đẹp của con người.



Đề tài: Vận dụng tri thức lí luận về thể loại vào dạy đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975
ở trường THPT.

trong những yếu tố quan trọng thể hiện các tính sáng tạo, phong cách, tài năng của
người cầm bút. Đặc biệt trong thơ, mọi khả năng biểu đạt, sức mạnh và vẻ đẹp của
ngôn ngữ văn học được thể hiện đầy đủ hơn cả. Ngôn ngữ thơ gắn chặt với đặc điểm
ngôn ngữ của mỗi dân tộc, đồng thời mang đậm dấu ấn cá tính phong cách của nhà
thơ. Nếu trong thơ trung đại, do sự chi phối của cảm quan thời trung đại về vũ trụ và
nhân sinh, do quan niệm mỹ học thiên về tính cân xứng, tính sùng cổ, mà ngôn ngữ
thơ đậm tính ước lệ, tượng trưng thì trong thơ hiện đại, ngôn ngữ thơ thoát khỏi tình
trạng nặng về tính trang nhã, ước lệ, dày đặc điển cố trong từ chương sách vở để gần
hơn với tình cảm, cảm xúc tự nhiên của con người do chủ thể trữ tình được giải
phóng thoát khỏi những ràng buộc con người cá nhân. Chính sự đa dạng về tư duy
nghệ thuật và sự phong phú về giọng điệu đã khiến cho ngôn ngữ thơ có sự phân hoá
và phân cực về cả bề nổi và về cả tầng sâu: bên cạnh thứ ngôn ngữ gần gũi với đời
thường là loại ngôn ngữ mờ nhoè, đậm chất tượng trưng, siêu thực, bên cạnh thứ
ngôn ngữ bình dị là những văn bản thơ ngôn ngữ chắp vá một cách cố ý nhằm tạo nên
sự lạ hoá…
c. Cách thực hiện.
c.1. Về tác giả: GV hướng dẫn học sinh tìm hiểu sự đổi mới trong thơ Thanh
Thảo. Đàn ghi ta của Lorca rất tiêu biểu cho nỗ lực cách tân thơ Việt Nam của Thanh
Thảo, bài thơ có phần khó hiểu vì nó nhuốm màu sắc tượng trưng và siêu thực mà
ông chịu ảnh hưởng ít nhiều ở chính nhà thơ hiện đại Tây Ban Nha Gar-xi-a Lorca
mà ông hết lòng ngợi ca. Cho nên khi dạy bài thơ này giáo viên phải cung cấp và
giảng giải cho học sinh khái niệm thơ tượng trưng và siêu thực, được thể hiện cụ thể
trong bài thơ như thế nào?
c.2. Về bài thơ: Gv phải giảng cho học sinh hiểu được giá trị của bút pháp siêu
thực trong Đàn ghi ta của Lorca – Thanh Thảo.

hà khắc.
Bài thơ dẫu có chịu ảnh hưởng của bút pháp ấn tượng, tượng trưng nhưng kĩ
thuật siêu thực mới thực sự quyết định giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm.
Nghệ thuật siêu thực tập trung ở cái nhìn, một cái nhìn đặc biệt, không phân
biệt sự vật hiện tượng trong không gian thời gian, không phân biệt yếu tố trừu tượng
hay cụ thể. Chiếc áo choàng đỏ gắt gợi vẻ ngang tàng, khí phách của Lorca và của
nền văn hóa đấu bò Tây Ban Nha, đồng thời gợi cái chết bi thảm của người nghệ sĩ
khao khát tự do, khao khát cách tân nghệ thuật.
Từ cái nhìn này, GV phải giảng giải cho học sinh hiểu được: thơ siêu thực tạo
nên những kết nối ngẫu nhiên (tiếng ghi ta nâu/ bầu trời cô gái ấy). Kĩ thuật liền kề
này thực chất là đả phá trật tự tuyến tính trong tư duy thơ trước đó. Người viết đề cao
lối tư duy đồng hiện. Nghệ thuật ngôn từ lúc này không diễn ra trong thời gian, nơi
màu sắc, bố cục của màu sắc, của âm thanh được chú trọng: giọt nước mắt vầng
trăng/ long lanh trong đáy giếng. Những câu thơ này thiên về gợi hình. Chúng chiếm
Người thực hiện: Hà Thị Luyến

Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang13


Đề tài: Vận dụng tri thức lí luận về thể loại vào dạy đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975
ở trường THPT.

lĩnh không gian và tạo ra các không gian tiếp nối. Vì lẽ này, thơ siêu thực hấp dẫn
người đọc theo lối một bức tranh.
Bài thơ có sự kết hợp độc đáo giữa màu sắc, hình khối và âm thanh. Đấy là
nghệ thuật tổng hợp các loại hình nghệ thuật hội họa, điêu khắc, âm nhạc và dĩ nhiên
là cả văn học. Nhà thơ “nói” mọi thứ bằng chất liệu ngôn từ trên nền kĩ thuật đặc
trưng của các loại hình nghệ thuật. Vậy nên, khi tiếp xúc với bài thơ, người đọc cần
huy động tối đa các giác quan để cảm nhận. Bởi mỗi câu thơ là một gián đoạn: tiếng


Thơ ngày nay khó nhớ, khó thuộc hơn so với thơ ca giai đoạn trước. Điều này
là một thực tế. Nó cho thấy sự vận động khá rõ trong tư duy thơ. Trước đây, các nhà
thơ chủ yếu tập trung xây dựng những câu thơ ám ảnh, cấu trúc thơ chủ yếu xoay
quanh nghệ thuật lập tứ và nghệ thuật dùng từ, xây dựng tính nhạc nhằm tạo nên sức
mê hoặc khiến cho thơ dễ ru người đọc. Hiện nay, các nhà thơ lại tập trung vào tổ
chức cấu trúc chỉnh thể, xây dựng hàng chuỗi biểu tượng và các biểu tượng ấy nhiều
khi không dễ nhận ra bằng sự cảm nhận thông thường. Nó đòi hỏi người tiếp nhận
vừa giàu trải nghiệm vừa phải có khả năng tiếp nhận cái siêu nghiệm trong thơ. Đọc
thơ, suy cho cùng cũng là một cách tiếp cận kinh nghiệm sống, tiếp cận những giá trị
tinh thần do nhà thơ sáng tạo nên. Nhưng mỗi nhà thơ đều phải sống trong một thời
đại cụ thể, trong một không gian tinh thần cụ thể. Vì thế, thơ họ, một mặt, thể hiện
những suy tư cá nhân độc đáo nhưng mặt khác, những suy tư ấy phải thể hiện được
tâm thế và trạng thái tinh thần của thời đại mình. Rõ ràng, để giúp HS khám phá được
ý nghĩa của những bài thơ hiện đại là việc làm không hề đơn giản. Bởi lẽ, ở nhiều tác
phẩm, nhà thơ không đứng ra làm nhiệm vụ giải thích, thuyết minh mà để cho người
đọc tự khám phá những bí mật sau những cách nói ngỡ như không ăn nhập gì với
nhau, cấu trúc thi phẩm nhìn qua hết sức lỏng lẻo nhưng thật ra lại hết sức chặt chẽ.
Vì vậy, GV cần có một kiến thức sâu, vững chắc, cả sự trải nghiệm và tài năng sư
phạm thì mới có thể tổ chức tốt quá trình tiếp cận phân tích các tác phẩm thơ hiện đại
cho HS.
2.2. Hướng dẫn học sinh đọc hiểu tác phẩm truyện Chiếc thuyền ngoài xa –
Nguyễn Minh Châu theo hướng vận dụng tri thức về thể loại truyện hiện đại.
a. Truyện :
Nếu tác phẩm trữ tình phản ánh hiện thực trong sự cảm nhận chủ quan về nó, thì
tác phẩm tự sự lại tái hiện đời sống trong toàn bộ tính khách quan của nó. Tác phẩm
tự sự phản ánh hiện thực qua bức tranh mở rộng của đời sống, trong không gian, thời
gian, qua các sự kiện, biến cố xảy ra trong cuộc đời con người. trong tác phẩm tự sự
nhà văn cũng thể hiện tư tưởng và tình cảm của mình. Nhưng ở đây, tư tưởng và tình
cảm của nhà văn thâm nhập sâu sắc vào sự kiện và hoạt động bên ngoài của con

mang đậm phong cách cá nhân và đa giọng điệu. Các thể chính của truyện hiện đại:
tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn.
*Từ việc nắm được những đặc trưng của thể loại truyện hiện đại, khi tổ chức
quá trình đọc hiểu cho HS, trước hết, GV cần lưu ý hướng dẫn các em tìm hiểu những
phương diện chung như đề tài, bố cục, cốt truyện...Sau đó, tùy theo đặc điểm của
từng tác phẩm mà đi vào các bình diện khác. Ví dụ: có những truyện không thể
không quan tâm đến tình huống truyện, nhân vật, xung đột, có những truyện lại phải
đặc biệt chú ý đến không gian, thời gian...Thông qua việc phân tích nhân vật, hình
ảnh, các lớp ngôn từ, chi tiết nghệ thuật đặc sắc mà nhà văn đã xây dựng để khám
phá, đúc kết những khái quát về tư tưởng, chủ đề của tác phẩm.
Người thực hiện: Hà Thị Luyến

Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang16


Đề tài: Vận dụng tri thức lí luận về thể loại vào dạy đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975
ở trường THPT.

c. Cách thực hiện.
Để giúp HS nắm được sự phát triển của tình tiết trong tác phẩm (tức là nắm
được cốt truyện), GV có thể yêu cầu HS kể lại tác phẩm sau khi đã đọc. Thao tác này,
không những có tác dụng củng cố tri thức văn học mà còn có tác dụng trau dồi tư duy
và ngôn ngữ, phát triển năng khiếu thẩm mĩ của HS. Điều quan trọng để nắm vững
tình tiết trong tác phẩm là phân tích các chặng đường phát triển chủ yếu của nó. Điều
này sẽ tạo ở các em một ấn tượng hoàn chỉnh về đối với hình tượng tự sự của tác
phẩm.
Sau khi giúp HS nắm được các giai đoạn phát triển của tình tiết, GV cần tiến
tới hướng dẫn HS cảm thụ được sâu sắc và đánh giá đúng các nhân vật trong truyện
về ngoại hình, tính cách thông qua ngôn ngữ, hành động, cử chỉ. Điều đặc biệt cần

nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào. Chẳng biết ai đó đã lần đầu phát
hiện ra cái đẹp chính là đạo đức? Trong giây phút bối rối, tôi tưởng mình vừa khám
phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của
tâm hồn”. Nhưng mọi chuyện lại bắt đầu từ cái ngã rẽ bất ngờ này. Ngay sau sự phát
hiện thứ nhất về cái đẹp, cái lãng mạn của đời sống là sự phát hiện thứ hai đầy trớ
trêu đến tàn nhẫn để lộ ra cái mặt trái của cuộc đời và con người nhiều “đa sự, đa
đoan”. Ám ảnh không rời khi đọc xong tác phẩm chính là bi kịch của cặp vợ chồng
hàng chài. Hình ảnh người đàn bà khốn khổ với cặp mắt mệt mỏi vì thiếu ngủ, bàn
chân nhợt trắng vì ngâm nước đang trần tấm lưng áo ướt sũng và bạc phếch vì muối
mặn hứng chịu một cách nhẫn nhục cơn thịnh nộ của chồng. Và hình ảnh lão đàn ông
độc ác, vũ phu đang nghiến răng nghiến lợi trút những uất ức, cay cực, bức xúc của
cuộc đời thường nhật lên đôi vai vốn đã nặng trĩu gánh nặng đời sống của người vợ
đang cùng mình chung lưng đấu cật để tồn tại trong cuộc sống. Cần lưu ý rằng:
truyện ngắn hiện đại không hướng đến sự kết thúc mà hướng vào sự mở đầu. Vấn đề
căn bản không phải là “kết thúc bằng cách nào” mà là “mọi chuyện bắt đầu từ đâu”.
Đưa kết thúc vào thì truyện ngắn hiện đại lại trở nên không trọn vẹn.
Trong truyện, trần thuật là một phương diện không thể thiếu. Cần lưu ý đến
những yếu tố sau khi tìm hiểu nghệ thuật trần thuật: vai trần thuật, điểm nhìn và
giọng điệu.Có nhiều hình thức trần thuật: trần thuật từ ngôi thứ ba, trần thuật từ ngôi
thứ nhất. Trong văn học hiện đại, nhà văn kết hợp nhiều điểm nhìn trần thuật, chủ yếu
xoay quanh hệ thống nhân vật, chủ yếu là nhân vật chính. Từ các điểm nhìn khác
nhau, nhân vật được soi chiếu từ nhiều góc độ, từ đó khắc hoạ toàn vẹn chân dung,
tính cách, số phận và khái quát nêu lên những vấn đề nhân sinh có tính tổng quát.
“Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu là một tác phẩm có sự phối hợp các
điểm nhìn. Với truyện ngắn này, Nguyễn Minh Châu đã khám phá con người trong sự
phức hợp, đa chiều của nó. Nhân vật của ông không đơn giản, nhất phiến mà được soi
chiếu, lật xới mọi chiều cạnh của khối vuông ru bích. Người đọc cảm nhận được ở
người phụ nữ thuyền chài với vẻ ngoài xấu xí, thô kệch ấy ẩn giấu bên trong một tâm
Người thực hiện: Hà Thị Luyến


phản ánh hiện thực.
b. Đặc điểm của bút kí.
Bút kí ghi lại những con người thực và sự việc mà nhà văn đã tìm hiểu, nghiên
cứu cùng với những cảm nghĩ của mình nhằm thề hiện một tư tưởng nào đó. Sức hấp
dẫn và thuyết phục của bút kí tùy thuộc vào tài năng, trình độ quan sát, nghiên cứu,
khám phá, diễn đạt những khía cạnh « có vấn đề », những ý nghĩ mới mẻ, sâu sắc
Người thực hiện: Hà Thị Luyến

Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang19


Đề tài: Vận dụng tri thức lí luận về thể loại vào dạy đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975
ở trường THPT.

trong va chạm giữa tính cách và hoàn cảnh, cá nhân và môi trường. Nói cách khác,
giá trị hàng đầu của bút kí là giá trị nhận thức. …(Từ điển Thuật ngữ văn học).
Khi giảng dạy kí, điều lưu ý trước tiên là GV cần bám chắc vào đặc điểm cơ bản
của kí là tính xác thực. Mỗi thể kí lại có những đặc điểm riêng. Vì thế, GV cần xác
định rõ để bảo đảm HS tiếp nhận tác phẩm kí đúng hướng. Có kiến thức về đặc điểm
của từng thể kí thì khi giảng mới khai thác hết được giá trị tư tưởng và nghệ thuật của
tác phẩm. Việc dạy tác phẩm kí theo đặc trưng thể loại sẽ giúp HS có sự so sánh, đối
chiếu nhiều thể kí khác nhau để có được một nhận thức sâu sắc về thể loại này, trên
cơ sở đó, các em có thể tự mình tiếp nhận các tác phẩm kí ngoài chương trình.
Trên cơ sở đặc trưng thể loại và yêu cầu của dạy học hiện đại, dạy học kí hướng
đến mục tiêu phát triển kĩ năng tiếp thu tri thức và năng lực cảm thụ nghệ thuật. Qua
đó, giúp HS biết vận dụng sáng tạo tri thức và cảm xúc trong việc đọc và tạo lập văn
bản, biết suy nghĩ và rung động trước những vấn đề của đời sống.
c. Cách thực hiện :
Khi dạy tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông ?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường,

nhận trực giác của người đọc, giúp HS tìm ra cái hay, cái đẹp của văn bản. GV hướng
dẫn HS tiếp thu lượng thông tin tri thức về đối tượng mà nhà văn nói đến trong văn
bản và tìm hiểu nghệ thuật trần thuật tài hoa của người viết. “Ai đã đặt tên cho dòng
sông” là một áng thơ trữ tình bằng văn xuôi ca ngợi sông Hương và thiên nhiên Huế.
Thông qua tác phẩm, nhà thơ bộc lộ niềm tự hào về lịch sử - văn hoá Huế, đồng thời
thể hiện tấm lòng yêu quê hương, đất nước của mình. Qua đó, giúp HS có thêm tri
thức về thiên nhiên, con người, lịch sử và văn hóa xứ Huế, đồng thời có được tri thức
về thể loại, về nghệ thụât trần thuật và cảm nhận về những rung động tinh tế của nhà
văn.

Việc vận dụng tri thức lý luận văn học vào quá trình dạy học nhằm tạo cơ sở khoa
học cũng như đem lại con đường tiếp cận và đánh giá tác phẩm một cách có hiệu quả.
Khi vận dụng tri thức lý luận văn học vào dạy học đọc văn cần tránh việc cung cấp lý
thuyết mang tính thuần lý mà hướng tới giúp HS vận dụng vào phát hiện, phân tích
những chi tiết, hình ảnh trong tác phẩm cụ thể. Để cảm cái hay, cái đẹp được thể hiện
qua bức thông điệp thẩm mĩ. Vận dụng tri thức lý luận vào dạy học đọc hiểu tác
phẩm cần bảo đảm sự cân bằng giữa cảm và hiểu. Có như vậy, HS mới tìm được
tiếng nói tri âm trong tác phẩm và sống cùng thế giới nghệ thuật mà nhà văn đã sáng
tạo nên. Những kiến thức lý luận sẽ giúp cho GV và HS khai thác những đặc sắc
nghệ thuật trong từng tác phẩm. Mặt khác, thông qua giờ dạy đọc hiểu tác phẩm văn
học, những tri thức về lý luận sẽ được tích lũy, củng cố và khắc sâu ở HS.
Người thực hiện: Hà Thị Luyến

Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang21


Đề tài: Vận dụng tri thức lí luận về thể loại vào dạy đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975
ở trường THPT.


Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang22


Đề tài: Vận dụng tri thức lí luận về thể loại vào dạy đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975
ở trường THPT.

B. ĐỊNH HƯỚNG VỀ NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐỌC HIỂU
1. Định hướng về nội dung
* Đặc điểm bài học
+ Về nội dung
Bài thơ viết về cái chết của Lorca, nhà thơ, nhạc sĩ, nhà viết kịch, nhà hoạt động
sân khấu thiên tài người Tây Ban Nha vào năm 1936, khi ông mới 38 tuổi.
Cái chết của Lorca là sự kiện gây chấn động lớn không chỉ ở Tây Ban Nha mà
còn với toàn thế giới, không chỉ lúc bấy giờ mà còn âm vang tới nhiều năm sau.
Thanh Thảo muốn phục sinh thời khắc bi tráng đó, tỏ lòng ngưỡng mộ, đau xót và
qua đó xây dựng biểu tượng nghệ thuật Lorca qua một hình ảnh quen thuộc mà độc
đáo: đàn ghita.
+ Về hình thức
Với Lorca, người được coi như một trong những bậc thầy của thi ca hiện đại thế
giới, đại diện tiêu biểu cho một thế hệ nghệ sĩ mới đầy tình công dân và ý thức cách
tân nghệ thuật, nên với bài tưởng mộ của mình, Thanh Thảo không muốn dừng lại
với hình thức thông thường, ông thể nghiệm một hình thức mới, gần gũi với dòng
mạch tượng trưng và siêu thực, tạm gọi là kết hợp và giao hoà: kết hợp giữa tự sự và
trữ tình, giữa thơ và nhạc, giữa màu sắc thơ viếng phương Đông và chất bi tráng của
nhạc giao hưởng phương Tây, giữa hệ thống thi ảnh Lorca và hệ thống của chính tác
giả. Tất cả lại đưa vào một cấu trúc mới cũng mang tính chất kết hợp và giao hoà:
giao hoà giữa tính liên tục trong cốt tự sự với tính gián đoạn trong suy cảm và ngôn
ngữ thơ.
* Trọng tâm bài học:

2. Kiểm tra bài cũ:
Cảm nhận của em về hình tượng sóng trong bài thơ cùng tên của nhà thơ Xuân
Quỳnh?
3.Bài mới:
Dẫn nhập: “Có những phút làm nên lịch sử
Có cái chết hoá thành bất tử
Có những lời hơn mọi bài ca
Có những con người như chân lí sinh ra.”
(Tố Hữu)
Những câu thơ trên của Tố Hữu có thể dùng để nói đến Lorca mà cái chết của
ông đã trở thành một trong những sự kiện bi tráng trong lịch sử Tây Ban Nha hiện
đại. Có thể coi bài thơ “Đàn ghita của Lorca” (Thanh Thảo) như là một khúc tưởng
mộ mà Thanh Thảo dành cho Lorca, người nghệ sĩ thiên tài Tây Ban Nha.
* Tiến trình tổ chức, hướng dẫn HS đọc – hiểu văn bản
HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS

NỘI DUNG KIẾN THỨC CẦN ĐẠT

Người thực hiện: Hà Thị Luyến

Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang24


Đề tài: Vận dụng tri thức lí luận về thể loại vào dạy đọc hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam sau năm 1975
ở trường THPT.

HS nêu kết quả cần đạt,->xác định trọng tâm I.Tiểu dẫn
bài học.


bất thường, những kiểu kết hợp lạ kì, thi ảnh
và ngôn ngữ mới mẻ.
2. Tác phẩm
Nêu xuất xứ và thể thơ?

a. Xuất xứ:

Hs dựa vào tiểu dẫn trả lời câu hỏi.

-Bài thơ “Đàn ghita của Lor-ca” rút
trong tập “Khối vuông ru-bich”

GV: Bài thơ lấy cảm hứng từ số phận và nhân (1985)
cách cao đẹp của Lorca. Là một trong những
sáng tác tiêu biểu cho kiểu tư duy thơ của
Thanh Thảo: giàu suy tư, phóng túng và ít
nhiều nhuốm màu sắc tượng trưng, siêu thực.
(viết bài thơ trong trạng thái không nghĩ ngợi
Người thực hiện: Hà Thị Luyến

Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status