S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
- Thi pháp là toàn bộ hệ thống các hình thức nghệ thuật (phương thức: tự
sự, trữ tình, kịch; phương tiện: ngôn ngữ, từ vựng, cú pháp, ngữ âm, hình tượng;
thủ pháp: ẩn dụ, hoán dụ, biểu tượng…) có chức năng biểu đạt tư tưởng, giá trị
đặc sắc của sáng tác văn học.
Thi pháp nhìn văn học dưới góc độ sáng tạo nghệ thuật - tức là các yếu tố
tạo nên cái đẹp cho văn học. Mà tác phẩm văn học là một sáng tạo thẩm mỹ,
việc nghiên cứu thi pháp văn học sẽ giúp người đọc nâng cao khả năng cảm thụ
một tác phẩm văn học.
Khái niệm Thi pháp không phải là mới song đối với học sinh trong nhà
trường phổ thông dường như đó vẫn là một vấn đề khá lạ lẫm. Các em được
hướng dẫn tìm hiểu, khám phá những giá trị nội dung, nghệ thuật đặc sắc của tác
phẩm hoặc tác giả nhưng chưa được cung cấp một cái nhìn khái quát và toàn
diện về toàn bộ hệ thống các hình thức nghệ thuật (thi pháp) của một tác giả hay
một thại đại, một giai đoạn văn học…Việc nắm bắt đặc trưng thi pháp của một
giai đoạn văn học, một hệ thống tác phẩm, hoặc tác giả của các em vẫn còn lúng
túng và chưa đầy đủ.
- Trong toàn bộ tiến trình VHVN, Văn học trung đại là một trong những
chặng đường đầu tiên của bộ phận văn học viết. Đây là chặng đường văn học
khá dài (khoảng 10 thế kỉ), phát triển phức tạp và đạt được nhiều thành tựu
phong phú, góp phần quan trọng vào sự phát triển của chặng đường Văn học
hiện đại sau này.
- Soi chiếu vào Sách giáo khoa Ngữ văn THPT, văn học Trung đại chiểm
2/3 chương trình Ngữ văn 10 và chiếm gần 1/2 chương trình ngữ văn 11. Thực
tế này một lẫn nữa khẳng định vị trí quan trọng của Văn học trung đại đối với
học sinh trung học phổ thông. Tuy nhiên, từ thực tiễn kinh nghiệm giảng dạy,
người viết nhận thấy đối với học sinh THPT việc tìm hiểu và giãi mã các tác
phẩm trung đại vẫn là một khó khăn lớn đối với các em bởi khoảng cách về văn
Ph¹m ThÞ B×nh – Chuyªn Hng Yªn
- Phạm vi nghiên cứu: Bám sát vào các tác phẩm tiêu biểu của các tác giả
Trung đại trong nhà trường phổ thông (chẳng hạn như các tác phẩm của Nguyễn
Ph¹m ThÞ B×nh – Chuyªn Hng Yªn
2
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến…).
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu.
- Phương pháp đọc - hiểu văn bản.
1.5. Cấu trúc của sáng kiến kinh nghiệm.
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, phần Nội dung của đề tài gồm
năm phần chính sau đây:
I. Khái niệm chung về thi pháp văn học trung đại
II. Những đặc điểm tư tưởng, văn hoá thời trung đại - Tiền đề của thi
pháp VHTĐVN.
III. Đặc điểm Thi pháp văn học trung đại.
IV. Vận dụng làm bài tập.
V. Kết quả thực nghiệm.
Ph¹m ThÞ B×nh – Chuyªn Hng Yªn
3
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
PHẦN NỘI DUNG
I. Khái niệm chung về thi pháp và thi pháp văn học trung đại
Thi pháp là toàn bộ hệ thống các hình thức nghệ thuật (phương thức: tự
sự, trữ tình, kịch; phương tiện: ngôn ngữ, từ vựng, cú pháp, ngữ âm, hình tượng;
thủ pháp: ẩn dụ, hoán dụ, biểu tượng…) có chức năng biểu đạt tư tưởng, giá trị
đặc sắc của sáng tác văn học.
Thi pháp có nhiều cấp độ:
Xét từ chỉnh thể văn học có: thi pháp tác phẩm, thi pháp tác giả, thi pháp
Hay trong bài thơ “Cáo tật thị chúng”, Mãn Giác thiền sư cũng viết:
Xuân qua, trăm hoa rụng
Xuân tới, trăm hoa tươi
Hai câu thơ nói về quy luật của tự nhiên: mùa xuân qua hoa cỏ úa tàn, khi
xuân đến hoa cỏ lại tươi tốt. Mãn Giác thiền sư đã dùng hình ảnh hoa rụng, hoa
nở là để nói về sự sống tuần hoàn theo vòng tuần hoàn, luân hồi của thời gian.
+ Lịch sử như một quá trình xoay vòng tròn, một sự xoay vần vĩnh cửu
của chừng ấy hình thức chính trị theo một trình tự nhất định. Sở dĩ có quan niệm
này bởi trong thời trung đại, hình thái lịch sử xã hội phong kiến kéo quá dài,
triều đại này suy sụp thì triều đại khác lại thay thế và hưng thịnh. Vì thế, nói đến
lịch sử là nói đến sự thay thế triều đại, sự hưng vong thành bại của những con
người xuất chúng.
Tượng trưng có ý nghĩa sâu sắc cho quan niệm của người trung đại về thời
gian là cái bánh xe. Chiếc bánh xe vũ trụ vận động vĩnh viễn, đó là vòng tuần
hoàn lặp đi lặp lại.Vì quan niệm thời gian là một vòng tuần hoàn vĩnh cửu nên
con người luôn bình thản, lạc quan, không chút lo âu, vội vã.
- So sánh: Quan niệm đó khác hẳn với quan niệm của con người hiện đại.
Người hiện đại quan niệm tuyến tính về thời gian. Thời gian như một véctơ, trôi
một chiều, trôi đi là mãi mãi không bao giờ trở lại và nó sẽ bào mòn đi tất cả. Vì
thế con người hiện đại luôn bị ám ảnh bởi thời gian. Họ thường lo lắng, hốt
hoảng, vội vã trước dòng chảy của thời gian, thậm chí chạy đua với thời gian.
Thi sĩ Xuân Diệu hơn một lần giục giã:
Mau với chứ! Vội vàng lên với chứ
Em, em ơi! Tình non sắp già rồi.
Ph¹m ThÞ B×nh – Chuyªn Hng Yªn
5
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
Một điều lưu ý là trong thời trung đại có quan niệm “thời gian như bóng
câu qua cửa sổ” song đó không phải là thời gian một đi không trở lại như thời
hiện đại mà chỉ là thời gian trôi nhanh trong sự tuần hoàn mà thôi.
nhận trong sự đồng tâm đã tác động đến quan niệm con người được đặt trong
cái chung, ít thể hiện cá tính.
+ Con người hiện lên với một kiểu mẫu có sẵn, cá tính được “khuôn
đúc”. Chẳng hạn người con gái vẹn toàn phải có: công, dung, ngôn, hạnh; người
nam tử phải có: trung, hiếu, tiết, nghĩa. Quan niệm này có thể thấy rõ qua các
hình tượng nhân vật Kiều Nguyệt Nga, Lục Vân Tiên trong truyện thơ của
Nguyễn Đình Chiểu:
Trai thời trung hiếu làm đầu
Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình
+ Từ quan niệm đặt con người trong cái chung, con người trong thời trung
đại đề cao tinh thần hi sinh vì cộng đồng, trách nhiệm chung với cả cộng đồng.
Đó là quan niệm vua – tôi, cha – con. Ý thức về trách nhiệm với nhân dân, hay
đó là ý thức về việc lập công danh của người nam tử.
- Từ quan niệm thời gian là một vòng tuần hoàn, lặp đi lặp lại, bất biến đã
ảnh hưởng tới quan niệm con người được nhìn nhận trong sự tĩnh tại chứ
không phát triển. Con người thời trung đại không phát triển mà chỉ chuyển từ
tuổi này sang tuổi khác.“Thời trung cổ người ta xem đứa bé như người lớn còn
bé, không đặt ra sự hình thành tính cách, trẻ em được xem như người bạn tự
nhiên của người lớn” (Các phạm trù văn hoá trung cổ). Từ đó, con người cũng
không có sự phát triển tính cách, người ta không chú ý nhiều tới sự tác động của
hoàn cảnh, nếu có thì hoàn cảnh cũng không có vai trò tác động làm thay đổi
tính cách con người mà nó chỉ tô đậm, làm rõ thêm cho tính cách ban đầu.
Chẳng hạn như nhân vật Vũ Nương (Truyện người con gái Nam Xương của
Nguyễn Dữ) được giới thiệu ngay từ đầu truyện là người hiếu thảo, nhan sắc, nết
na, thuỳ mị, thuỷ chung. Những phẩm chất đó càng được sáng tỏ hơn trong mối
quan hệ với mẹ chồng, với chồng, với con khi người chồng đi lính. Khi phải tìm
đến cái chết, khi đã sang thế giới khác và hiển linh gặp lại chồng con, Vũ Nương
đã khẳng định tấm lòng thuỷ chung ngời sáng của mình.
Ph¹m ThÞ B×nh – Chuyªn Hng Yªn
7
Ph¹m ThÞ B×nh – Chuyªn Hng Yªn
8
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
“văn dĩ tải đạo” và “phong, hoa tuyết, nguyệt”, “sơn thuỷ hữu tình”, “tùng, cúc,
trúc, mai” trở thành những thi đề quen thuộc của thơ ca trung đại.
- Từ quan niệm không gian được cảm nhận trong sự đồng tâm, con người
trong cái chung, ít thể hiện cá tính, bản sắc riêng, thời trung đại quan niệm cái
đẹp là sự hài hoà. Điều này thể hiện ở cảm quan đối xứng, song hành bởi sự đối
xứng bao giờ cũng tạo nên nét cân bằng, hài hoà cho tạo vật. Chẳng hạn như
nghệ thuật tứ bình, nghệ thuật song hành thời trung đại. Nói đến cây cối phải nói
đến: tùng, cúc, trúc, mai; nói đến tài năng của con người phải nói đến: cầm – kì
– thi - hoạ; nói đến bốn thú vui phải nói đến: ngư - tiều – canh - mục…Quan
niệm đó cũng thể hiện qua hình thức câu văn, câu thơ đối xứng. Chẳng hạn thể
cáo, phú, hịch…thường sử dụng những câu văn biền ngẫu.
III. Đặc điểm Thi pháp văn học trung đại.
1. Thi pháp thể loại.
Đối với văn học trung đại, vấn đề phong cách thể loại giữ vai trò quan trọng.
Hầu hết tên các tác phẩm thời trung đại đều gắn với tên thể loại: Thiên đô
chiếu, Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo, BĐ giang phú, Thượng kinh kí sự,
Truyện Kiều…
a. Quá trình phát triển của thể loại VHTĐ
- Từ thế kỉ X XIV: chủ yếu tiếp thu thể loại VHTQ (hịch, cáo, chiếu,
biểu, phú, thơ đường luật…)
- Từ thế kỉ XV: Dân tộc hoá thơ Đường luật để có thơ Nôm Đường luật.
- Thế kỉ XVIII XIX: thể loại nội sinh phát triển: ngâm khúc, truyện
thơ, hát nói
b. Phân loại các thể loại của VHTĐ
- Các thể loại văn học chức năng (hay còn gọi là văn học hành chức - thực
hiện những chức năng ngoài văn học). Gồm:
+ Văn học thực hiện chức năng hành chính – xã hội: hịch, cáo, chiếu,
xuất thì có thể chia làm hai. Bài thơ bát cú thì bốn câu trên được gọi là tiền giải,
bốn câu sau gọi là hậu giải. Không cứ bát cú mà bài tứ tuyệt cũng có khi chia
thành hai phần như thế. Ví dụ: Bài “Độc Tiểu Thanh kí” – Nguyễn Du, có thể
chia 2 phần: Bốn câu đầu: Khóc người, thương người (thể hiện lòng nhân đạo
bao la); bốn câu sau: Khóc mình thương mình (thể hiện lòng nhân đạo sâu sắc).
Ph¹m ThÞ B×nh – Chuyªn Hng Yªn
10
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
- Tính quy phạm về lời văn: Nhiều thể loại thường dùng những lời văn
đối xứng:
+ Văn vần: Thơ Đường luật quy đinh cặp câu 3 -4, Cặp câu 5 – 6 phải đối
xứng với nhau.
+ Văn biền ngẫu: phú, cáo, chiếu …thường sử dụng những câu văn đối
xứng.
+ Văn xuôi: các bài kí, bài tựa, bài luận…có khi cũng dùng những lời văn
đối xứng
(Đối trong một câu - tiểu đối; đối 2 câu - đối ngẫu; xét về nội dung ý nghĩa có
đối tương đồng và đối tương phản. Tác dụng của đối: tăng âm hưởng, nhịp điệu,
sự mượt mà; đồng thời góp phần nhấn mạnh ý hoặc nổi bật ý).
2. Thi pháp hình tượng nghệ thuật
a. Thiên về những hình tượng nghệ thuật mang tính ước lệ.
- Xuất phát từ quan niệm thẩm mĩ: cái đẹp là khuôn mẫu của tiền nhân,
dẫn đến tính quy phạm chi phối cả trong tư duy, cả trong hình tượng nghệ thuật.
Do đó, tính ước lệ như một đặc điểm nổi bật của văn học trung đại. VHTĐ hình
thành những hệ thống ước lệ để phản ánh, biểu đạt thế giới, xã hội, con người.
- Các loại hệ thống hình tượng ước lệ trong VHTĐ:
+ Hệ thống hình tượng ước lệ về thiên nhiên: phong, hoa, tuyết, nguyệt, tùng,
cúc, trúc, mai, sơn thuỷ hữu tình
Viết về mùa thu bao giờ cũng gắn liền với các hình ảnh như:
- Ngô đồng nhất diệp lạc
Tài đống lương cao ắt cả dùng.
người quân tử có tài năng, phẩm chất, có thể giữ vị trí quan trọng trong triều
đình, quốc gia.
Cội rễ bền, dời chẳng động.
bản lĩnh, ý chí của người quân tử trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không
thay đổi.
Dành còn để trợ dân này.
tấm lòng ái quốc ưu dân của người quân tử.
+ Yếu tố sáng tạo của Nguyễn Trãi.
• Qua hình tượng cây tùng để nói về chính mình (về chủ thể trữ tình).
Qua đó, ta thấy được cuộc đời (cuộc đời nhiều thăng trầm và nhà thơ đã vượt
Ph¹m ThÞ B×nh – Chuyªn Hng Yªn
12
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
qua tất cả) và phẩm chất (ý thức được tài năng của mình và suốt đời sống với lý
tưởng vì dân) của Nguyễn Trãi.
• Nghệ thuật: hình thức đối thoại nhưng thực chất là độc thoại (giống
văn học hiện đại: chủ thể trữ tình phân thân để tự đối thoại: Việt Bắc, Đây thôn
Vĩ Dạ, Tiếng hát con tàu…).
- Đống lương tài có mấy bằng mày
- Dành còn để trợ dân này.
c. Hình tượng nghệ thuật có sự phá vỡ tính ước lệ.
- Với những hình tượng nghệ thuật này, tác giả có cách nhìn riêng dẫn đến
có sự sáng tạo riêng và thể hiện được cá tính của mình.
+ Ví dụ: hình tượng thiên nhiên trong thơ Hồ Xuân Hương đều mang vẻ
đẹp hình thể, tự nhiên, trần thế của người phụ nữ (quả mít, động Hương tích, đèo
Ba dội, cái quạt…), tạo ra hệ thống hình tượng mang tính chất “phạm thượng”.
Hồ Xuân Hương là người đi trước trong việc lấy con người là chuẩn mực cho
cái đẹp, không phải chờ đến thơ hiện đại sau này.
- Những hình tượng nghệ thuật phá vỡ tính ước lệ còn là những hình
Hải (Nàng thời thật dạ tin người / lễ nhiều nói ngọt nghe lời dễ xiêu), Hoạn Thư
ngoài những cái xấu như ghen tuông, đánh đập tra tấn Kiều rất dã man nhưng
khi biết Kiều bỏ trốn đã không cho người đuổi theo nàng (Nghĩ cho khi gác viết
Kinh / Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo) ; Thúc Sinh lúc đầu cũng yêu Kiều
say đắm (Trước còn giăng gió sau ra đá vàng) nhưng khi bị Hoạn Thư đánh
ghen thì tỏ ra nhu nhược, không dám đấu tranh cho tình yêu của mình (Liệu mà
cao chạy xa bay / Ái ân ta có chừng này mà thôi).
đây là yếu tố tiến bộ của nhân vật trong VHTĐ.
b. Hướng về con người chung hơn là con người cá thể, ít thể hiện cái Tôi cá
nhân.
- VHTĐ chú ý xây dựng mối quan hệ giữa con người cá nhân với cộng
đồng. con người trong thời trung đại đề cao tinh thần hi sinh vì cộng đồng, trách
nhiệm chung với cả cộng đồng. Đó là quan niệm vua – tôi, cha – con:
Quân thân chưa báo lòng canh cánh
Tình phụ cơm trời, áo cha (Nguyễn Trãi)
Hay đó là ý thức về việc lập công danh của người nam tử: “Nam nhi vị
liễu công danh trái / Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”…
Ph¹m ThÞ B×nh – Chuyªn Hng Yªn
14
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
(Thần thoại chú trọng mối quan hệ con người với tự nhiên, sử thi chú trọng mối
quan hệ con người với lịch sử, VHHĐ chú trọng xây dựng con người trong quan
hệ với chung và riêng).
- Tuy nhiên, ở các tác giả tài năng và cá tính có xuất hiện con người cá
nhân:
+ Sáng tác của Nguyễn Trãi có con người cá nhân: có sở thích cá nhân
(Ông này đã có thú ông này), có bản lĩnh cá nhân (Sự thế dữ lành ai hỏi đến/
bảo rằng ông đã điếc hai tai), ý thức về tài năng cá nhân (tùng), những từ ngữ,
hình ảnh thể hiện con người cá nhân (ông này, các đại từ “cô, độc, nhất”…)
+ Ở Hồ Xuân Hương cũng có ý thức về cá nhân: bi kịch cá nhân (Tự
+ Con người sống theo nguyên tắc tỏ lòng: nhân vật trữ tình trong Thuật
hoài, Cảm hoài, Thuý Kiều trong Truyện Kiều, Lục Vân tiên, Kiều Nguyệt
Nga…
+ Con người nêu gương sáng: thơ văn Nguyễn Trãi,…
- Ở các tác giả tài năng có sự thể hiện con người tài năng, đặc biệt là từ
thế kỉ XVIII. Chẳng hạn nhân vật trữ tình trong thơ Nguyễn Du, Nguyễn Công
Trứ, Hồ Xuân Hương.
4. Thi pháp ngôn ngữ
a. Tính chất song ngữ với những yếu tố ngôn ngữ Hán và yếu tố ngôn ngữ Nôm.
- Ngôn ngữ của VHTĐ có tính chất song ngữ với sự kết hợp hài hoà của
yếu tố Hán và yếu tố Nôm về ngôn ngữ.
* Yếu tố ngôn ngữ Hán được thể hiện thông qua cách dùng những điển
tích, điển cố và thi liệu Hán học. Những yếu tố ngôn ngữ Hán được sử dụng
trong văn học trung đại với những trường hợp sau:
- Thể hiện những gì nghiêng về cái cao cả, tao nhã
Chẳng hạn trong lời của Thuý Kiều, khi nói với Thúc Sinh tác giả sử dụng
nhiều yếu tố ngôn ngữ Hán vì Thúc Sinh là một chàng thư sinh cũng có học
thức, đồng thời tạo tính trang nhã:
Sâm thương chẳng vẹn chữ tòng
Tại ai lại chẳng phụ lòng cố nhân
Nhưng khi nói về Hoạn Thư - một người đàn bà tinh ma, khôn ngoan thì
lời Kiều lại xuất hiện nhiều yếu tố Nôm mà không dùng thi liệu Hán:
Vợ chàng quỷ quái tinh ma
Ph¹m ThÞ B×nh – Chuyªn Hng Yªn
16
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau.
Kiến bò miệng chén chưa lâu.
Mưu sâu cùng trả nghĩa sâu cho vừa.
- Thể hiện sắc thái cổ kính, cổ xưa, vĩnh hằng
Ví dụ:
Hương cách, gác vân thu lạnh lạnh
Thuyền kề bãi tuyết nguyệt chênh chênh.
Trong 2 câu thơ trên, những yếu tố ngôn ngữ Hán như: hương cách, gác
vân, bãi tuyết, nguyệt rất dễ khiến câu thơ rơi vào công thức, ước lệ. Hai yếu tố
ngôn ngữ Nôm là hai từ láy “lạnh lạnh, chênh chênh” khiến cảnh hiện lên chân
thực, cụ thể, sinh động chứ không còn ước lệ, công thức nữa.
- Yếu tố ngôn ngữ Nôm còn được sử dụng trong những trường hợp thể
hiện sự gần gũi, thân mật, đậm đà chất dân tộc.
+ Chẳng hạn trong thơ Nguyễn Trãi. Trong tập “Quốc âm thi tập”,
những từ chỉ quan hệ họ hàng, thân tộc hầu như Nguyễn Trãi không sử dụng từ
Hán - Việt mà chỉ sử dụng từ thuần Việt, tạo sự gần gũi, chân thành, ruột thịt:
- Nuôi con mới biết lòng cha mẹ
Thấy loạn thì hay đời Thuấn, Nghiêu.
- Quân thân chưa báo lòng canh cánh
Tình phụ cơm trời, áo cha.
+ Thơ Nguyễn Khuyến sử dụng nhiều ngôn ngữ đời sống.
Ông chẳng hay ông tuổi đã già.
Năm lăm ông cũng lão đây mà.
* Đôi khi, sự kết hợp hài hoà giữa yếu tố ngôn ngữ Hán với yếu tố ngôn
ngữ Nôm tạo nên hiệu quả nghệ thuật cao.
- Chẳng hạn khi các tác giả tạo nên sự kết hợp giữa cái thanh cao, tao nhã
với cái bình dị, mộc mạc:
Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc
Thuyền chở yên hà nặng vạy then.
(Chữ in nghiêng là yếu tố ngôn ngữ Hán, chữ gạch chân là yếu tố ngôn ngữ
Nôm).
- Hoặc khi tạo sự kết hợp giữa cái hàm súc, cô đọng, biểu tượng với cái cụ
Ph¹m ThÞ B×nh – Chuyªn Hng Yªn
18
Ph¹m ThÞ B×nh – Chuyªn Hng Yªn
19
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
* Ngôn ngữ VHTĐ cũng hay dùng uyển ngữ. Biểu hiện cụ thể như sau:
- Dùng cách nói nhẹ, nói tránh thay cho lối nói trực diện có thể bị coi là
thô lỗ, sỗ sàng. Bởi thời trung đại quan niệm “văn phải lệ” (tức văn phải trau
chuốt, mài giũa), “từ phải mĩ” (tức từ phải hay, phải đẹp).
Ví dụ trong đoạn trích “Trao duyên”, Thuý Kiều hay dùng các uyển ngữ:
- Giữa đường đứt gánh tương tư
- Bây giờ trâm gãy gương tan
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân.
Hay trong “Truyện Lục Vân Tiên” có câu:
Lá vàng còn ở trên cây
Lá xanh đã rụng trời hay chăng trời.
- Làm cho lời đẹp một cách trau chuốt, mượt mà:
Chẳng hạn trong “Truyện Kiều”, Từ Hải khen tài thơ của Thuý Kiều, Nguyễn
Du viết:
Khen tài nhả ngọc, phun châu
Lời lời châu ngọc, hàng hành gấm thêu.
IV. Vận dụng làm bài tập.
Bài tập 1. Đặc điểm thơ Nôm Đường luật? Phương pháp phân tích thơ Nôm
Đường luật? Vận dụng phương pháp đó để phân tích bài thơ Nôm Đường luật
“Cảnh ngày hè” - Nguyễn Trãi.
* Gợi ý
* Đặc điểm thơ Nôm Đường luật
- Thơ Nôm Đường luật là một thành tựu rực rỡ của thơ ca trung đại Việt
Nam. Dân tộc hoá từ thể loại thơ Đường luật của Trung Quốc
- Đặc điểm của thơ Nôm Đường luật, nói một cách ngắn gọn và bản chất
nhất là sự kết hợp hài hòa giữa “yếu tố Nôm” và “yếu tố Đường luật”. Hai yếu
tố này vừa hòa quyện, đan xen vào nhau tạo nên giá trị của mỗi tác phẩm vừa có
chung cho cả bài thơ.
* Vận dụng phân tích bài: Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới số 43) -
Nguyễn Trãi
- Cảnh ngày hè là bài thứ 43 thuộc nhóm thơ Bảo kính cảnh giới (gương
báu răn mình) trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi. Vì vậy bài thơ này là tấm
Ph¹m ThÞ B×nh – Chuyªn Hng Yªn
21
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
“gương báu răn mình” nhưng qua đó ta thấy được cuộc sống, tâm sự của tác giả,
thấy ngời sáng tâm hồn và lí tưởng của thi sĩ Ức Trai.
- Ngay từ câu thơ đầu tiên chúng ta đã thấy sự xuất hiện của “yếu tố
Nôm” qua việc sử dụng câu thơ thất ngôn trong bài thất ngôn và cách ngắt nhịp
3/4 (lẻ trước, chẵn sau) tạo nên những sắc thái riêng và giá trị biểu cảm của câu
thơ, bài thơ:
Rồi hóng mát thuở ngày trường
Câu thơ chỉ có sáu chữ khác hẳn với thơ luật Đường hoàn chỉnh đã tập
trung lột tả được hình ảnh nhân vật trữ tình đang trong thời gian rảnh rỗi, tâm
hồn thư thái, đang “hóng mát”. Song với con người “thân” không nhàn mà
“tâm” cũng không nhàn thì thời khắc đó quả là rất hiếm hoi. Và trong phút hiếm
hoi ấy, Nguyễn Trãi đã hoà nhập tâm hồn mình với thiên nhiên tạo vật.
- Khi viết về thiên nhiên, các nhà thơ xưa thường sử dụng bút pháp vịnh
thì ở đây Nguyễn Trái lại thiên về bút pháp tả. Dưới ngòi bút của thi nhân, cảnh
ngày hè hiện lên thật sống động.
Hoè lục đùn đùn tán rợp giương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương.
Trong ba câu thơ này ta thấy sự kết hợp của cả hai “yếu tố Nôm” và “yếu
tố Đường luật”. Hàng loạt các từ Hán Việt và hình ảnh có tính ước lệ, tượng
trưng xuất hiện: hoè, thạch lựu, liên gợi lên vẻ đẹp tao nhã. Song với những
động từ thuần Việt: đùn đùn, phun, tiễn, kết hợp với những tính từ chỉ màu sắc:
Trãi bật lên ao ước:
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương.
Câu thơ thứ 7 sử dụng điển cố “Ngu cầm” – cây đàn mà vua Thuấn gảy
lên khúc Nam phong để ca ngợi cuộc sống sung túc, no đủ của người dân Trung
Quốc, Nguyễn Trãi muốn bộc lộ niềm ao ước có được chiếc đàn của vua Thuấn
để gảy lên khúc ca ca ngợi cảnh sống thanh bình của nhân dân mình. Câu thơ kết
là một câu lục ngôn, ngắn gọn, thể hiện sự dồ nén cảm xúc của cả bài. Qua câu
thơ ta thấy, Điểm kết tụ của hồn thơ Ức Trai không phải ở thiên nhiên, tạo vật
mà chính là ở con người, ở nhân dân. Nguyễn Trãi luôn mong cho dân được ấm
Ph¹m ThÞ B×nh – Chuyªn Hng Yªn
23
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
no, giàu đủ: “dân giàu đủ”, nhưng đó phải là hạnh phúc cho tất cả mọi người, ở
tất cả mọi nơi: “khắp đòi phương”. Đó chính là tấm lòng ái quốc, ưu dân luôn
thường trực, canh cánh trong trái tim, tâm hồn Nguyễn Trãi.
Tóm lại, sự hoà quyện, đan cài của hai yếu tố Nôm và yếu tố Đường luật
khiến bức tranh cảnh ngày hè vừa bình dị, mộc mạc, gần gũi nhưng không thô
ráp, tao nhã nhưng không công thức, sáo mòn và cụ thể , sống động. Hơn nữa,
sự kết hợp hai yếu tố đó còn góp phần làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn, lí tưởng Ức
Trai: vừa là một thi nhân nhạy cảm, tinh tế trước vẻ đẹp của thiên nhiên, vừa là
một con người nặng lòng ưu dân, ái quốc.
Bài tập 2. Phân tính tính ước lệ, sáng tạo trong ước lệ và sự phá vỡ tính ước lệ
trong chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến.
* Đặt vấn đề:
- Văn học trung đại Việt Nam bên cạnh tính ước lệ là một đặc trưng nổi
bật, còn có sự sáng tạo trong ước lệ và phá vỡ tính ước lệ tạo nên sự đặc sắc cho
các sáng tác. Trong đó, phải kể đến chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến.
- Chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến gồm ba bài: Thu vịnh, Thu điếu,
Thu ẩm. Đây là chùm thi phẩm đặc sắc nhất của Nguyễn Khuyến như nhà phê
Vấn đề cơ bản làm nên nét riêng đặc sắc cho chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến
là sự sáng tạo trong ước lệ và phá vỡ tính ước lệ thể hiện cá tính trong sáng tạo.
* Sự sáng tạo trong ước lệ và phá vỡ tính ước lệ trong chùm thơ thu
- Thứ nhất: Nguyễn Khuyến có sự sáng tạo ngay từ thi đề: mùa thu. Thơ
cổ viết về mùa thu thường dựng lại một bức tranh mùa thu có tính khái quát, phổ
quát. Trong chùm thơ thu của mình, Nguyễn Khuyến đã tái hiện bức tranh mùa
thu rất đặc trưng của mùa thu vùng Đồng bằng Bắc Bộ, chân thực, cụ thể và sinh
động, không lẫn với bất kì bức tranh thu nào khác. Đó là những không gian, thời
gian rất đỗi gần gũi, thân quen với bất kì người dân nào ở vùng đồng bằng Bắc
Bộ.
- Thứ hai: Âm hưởng của các bài thơ cổ viết về mùa thu là nỗi buồn
chung chung, khó định hình thì trong ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến mang
âm hưởng buồn, tĩnh lặng, chứa đựng một tâm sự rất riêng - tâm sự thời thế.
Ph¹m ThÞ B×nh – Chuyªn Hng Yªn
25