Đặc trưng thể loại tự sự với việc giảng dạy các tác phẩm của tô hoài trong nhà trường PTTH - Pdf 31

Khóa luận tốt nghiệp

Trịnh Thị Mai- K31BVăn

MỞ ĐẦU

1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong đời sống xã hội, văn học từ lâu đã trở thành món ăn tinh thần, trở
thành một nhu cầu không thể thiếu đối với con người. Mỗi một tác phẩm văn
học đều được kết tinh từ những tư tưởng, tình cảm, từ những suy nghĩ, sự trăn
trở cũng như tài năng sáng tạo nghệ thuật của mỗi nhà văn.
“Văn học là nhân học” vì nó hướng con người ta đến cái Chân – Thiện –
Mĩ. Người đọc tìm thấy ở văn học tính nghệ thuật, tính nhân văn và nhân bản
cao cả, nó có khả năng giáo dục và nuôi dưỡng tâm hồn mỗi con người. Vì
vậy văn học ngày càng có vị trí và vai trò quan trọng trong đời sống cũng như
trong các trường PTTH.
Tác phẩm văn học trong nhà trường PTTH được coi là những tác phẩm
điển hình, được thanh lọc và chọn lựa kĩ lưỡng để giảng dạy cho học sinh.
Các tác phẩm ấy chứa đựng những giá trị nội dung và nghệ thuật sâu sắc. Nó
không chỉ cung cấp trí thức, những hiểu biết về cuộc sống , thế giới xung
quanh mà còn có tác dụng giáo dục nhân cách, phẩm chất, đạo đức, thẩm mĩ
cho học sinh. Bởi vậy, vai trò của người giáo viên dạy văn là vô cùng quan
trọng. Theo GS.TS Nguyễn Minh Thuyết thì dạy văn và học văn không hề là
chuyện đơn giản, đó là hoạt động khó khăn, phức tạp đòi hỏi người thầy
không chỉ có tri thức trình độ mà đòi hỏi phải có kĩ năng, phương pháp hợp
lý, tích cực mang lại hiệu quả cao.
Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn đang thực sự trở thành
một diễn đàn sôi nổi, thu hút khá nhiều nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục và
giáo viên tham gia trao đổi, tranh luận. Đã có nhiều ý kiến, quan điểm được
đề xuất, trong đó vấn đề đáng chú ý nhất là vấn đề giảng dạy tác phẩm văn
học theo đặc trưng thể loại. Đây là phương pháp được đáng giá là tích cực,

rất nhiều công trình nghiên cứu viết về truyện ngắn Tô Hoài, khai thác cả hai
mặt: nội dung và nghệ thuật. Tuy nhiên, các bài viết và bài giảng đó dều chưa
khai thác thấu đáo giá trị truyện Tô Hoài trên góc độ loại thể.
Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài “Đặc trưng thể loại tự sự với
việc giảng dạy các tác phẩm của Tô Hoài trong nhà trường PTTH ” nhằm

2


Khóa luận tốt nghiệp

Trịnh Thị Mai- K31BVăn

góp thêm một hướng tiếp cận, một hướng dạy học tác phẩm của Tô Hoài nói
riêng và các tác phẩm tự sự trong nhà trường phổ thông nói chung từ đặc
trưng thể loại. Đồng thời tăng thêm hiểu biết cho bản thân, chuẩn bị hành
trang vững chắc trước khi trở thành người giáo viên dạy văn tương lai.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Trong chương trình văn học Việt Nam ở bậc PTTH, số lượng tác phẩm
tự sự chiếm số lượng lớn cho nên, việc nghiên cứu để tìm ra phương pháp dạy
học thích hợp là vấn đề đặt ra từ lâu, thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà
nghiên cứu văn học và các nhà giáo tâm huyết. Đã có nhiều công trình nghiên
cứu đạt những thàng tựu cao, có tác dụng làm nền tảng mở ra nhiều con
đường tiếp nhận và giảng dạy khác nhau.
* Đặng Anh Đào trong “Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây
hiện đại”, NXBGD.H.1995, đã khẳng định vấn đề đổi mới trên các phương
diện có tính chất đặc trưng thể loại như: cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ của
tiểu thuyết phương Tây so với tiểu thuyết truyền thống. Ở đây, tác giả đã vận
dụng lý thuyết về đặc trưng thể loại trong nghiên cứu tác phẩm văn học.
* Đỗ Đức Hiểu đã tập hợp hai cuốn “Đổi mới phê bình văn học”(1994)

tác phẩm tự sự của Tô Hoài nói riêng, từ đó đưa ra phương pháp giảng dạy
các tác phẩm của Tô Hoài trong nhà trường PTTH.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
. Cơ sở lý luận chung về thể loại,thể loại tự sự và tự sự hiện đại
. Việc giảng dạy tác phẩm tự sự của Tô Hoài trong nhà trường PTTH.
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
.Đặc trưng thể loại tự sự và việc giảng dạy các tác phẩm tự sự của Tô
Hoài trong nhà trường PTTH.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Xác định đặc trưng của thể loại tự sự và sự thể hiện của nó trong các tác
phẩm của Tô Hoài.
Hướng dẫn học sinh tìm hiểu tác phẩm của Tô Hoài thông qua một số
tác phẩm của ông trong nhà trường PTTH. (Dế Mèn phiêu lưu kí và Vợ chồng
A Phủ).
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Khóa luận sử dụng kết hợp các phương pháp:

4


Khóa luận tốt nghiệp

Trịnh Thị Mai- K31BVăn

.Phương pháp nghiên cứu lý thuyết để tìm ra cơ sở lí luận
.Phương pháp phân tích
.Phương pháp so sánh
.Phương pháp khảo sát thực tiễn dạy học văn ở trường PTTH
.Phương pháp thực nghiệm
7. ĐÓNG GÓP CỦA KHÓA LUẬN

Mỗi một tác phẩm văn học lại tồn tại dưới một hình thức thể loại nhất
định. Đó là phương thức mà nhà văn lựa chọn để thể hiện sự sáng tạo nghệ
thuật của mình cũng như những quan điểm, tư tưởng được chứa đựng trong
tác phẩm ấy.
Khi đến với tác phẩm văn học, mỗi bạn đọc lại có một cách tiếp nhận
khác nhau, nhưng dù tiếp nhận ở khía cạnh nào thì điều mà bạn đọc nhận thấy
và quan tâm đầu tiên là vấn đề loại thể. Bởi, muốn hiểu được một tác phẩm
văn học phải biết được nó được viết theo loại thể nào? Nắm được các đặc
điểm của loại thể không chỉ giúp cho người đọc, người học hiểu văn mà còn
giúp họ có khả năng tạo lập được văn bản ở một số loại thể nhất định.
1.1. Thể loại văn học
1.1.1. Khái niệm
Có rất nhiều cách để định nghĩa “Loại thể” văn học:
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”, loại thể là “Dạng thức của tác phẩm
văn học, được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát
triển lịch sử của văn học, thể hiện sự giống nhau về cách thức tổ chức tác
phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tượng đời sống được miêu tả và về tính
chất của mối quan hệ của nhà văn đối với các hiện tượng đời sống ấy”.

6


Khóa luận tốt nghiệp

Trịnh Thị Mai- K31BVăn

Trong cuốn “Từ điển Hán Việt” các tác giả lại đưa ra một cách hiểu cụ
thể hơn về vấn đề loại thể, đó là “Hình thức biểu hiện của các tác phẩm văn
học chia theo tính chất có vần hay không có vần (văn xuôi, văn vần) hoặc dựa
theo kết cấu (thơ ca, tiểu thuyết, tản văn, kịch…)”.


trên được quy định bởi phương thức chiếm lĩnh đời sống. Nó ứng với hoạt
động nhận thức của con người và tạo ra một kênh giao tiếp đối với bạn đọc.
Như vậy, nói tới thể loại là nói tới cách thức tổ chức tác phẩm-một kiểu tái
hiện đời sống theo lối gián tiếp.
1.1.2. Phân loại
Trong lịch sử tồn tại nhiều cách phân chia thể loại khác nhau. Arixtôt
[384-322 T.C.N] là người đầu tiên đề xuất chia tác phẩm văn học thành ba
loại: Tự sự, trữ tình và kịch. Đây là cách chia dựa vào quy luật xây dựng hình
tượng và phương thức phản ánh đời sống. Cho đến nay cách phân chia của
Arixtôt vẫn còn nguyên giá trị khoa học đúng đắn. Hiện tại, chúng ta vẫn chủ
yếu sử dụng cách phân chia này.
Ngoài ra, chúng ta cũng bắt gặp một số cách chia khác. Chẳng hạn, ở
Trung Quốc, văn học giai đoạn đầu chỉ phân chia làm hai loại: thơ và văn
xuôi (tản văn). Sau đó, qua quá trình phát triển, văn học Trung Quốc chia làm
nhiều thể loại mà phổ biến thừa nhận bốn loại: thơ ca, văn xuôi, tiểu thuyết và
kịch.
Sự phân loại tác phẩm văn học theo loại thể là căn cứ vào những đặc
trưng có tính ổn định. Tuy nhiên, không thể tuyệt đối hóa giữa các loại thể.
Trên thực tế, giữa các loại thể đều có hình thức trung gian và luôn có sự phát
triển và tác động qua lại lẫn nhau. Điều này rất dễ nhận thấy, bởi lẽ trong tác
phẩm tự sự có chứa những yếu tố trữ tình và ngược lại, trong tác phẩm trữ
tình cũng bao hàm cả yếu tố tự sự, đặc biệt trong kịch có sự kết hợp cả hai
yếu tố trên.
Trong phạm vi khóa luận này, người viết chỉ có điều kiện đi sâu vào thể
loại tự sự.

8



bao gồm một hoặc một số sự việc, các sự việc này có mối quan hệ với nhau

9


Khóa luận tốt nghiệp

Trịnh Thị Mai- K31BVăn

và cái đích cuối cùng của nó không để cho bạn đọc nắm được sự việc, nhớ
được câu chuyện mà bạn đọc có thể nhận thức được một vấn đề, một lĩnh vực
nào đó của đời sống cũng như tư tưởng tình cảm của tác giả gửi gắm vào đó.
1.1.3.2. Cách phân chia thể loại tự sự
Cách phân chia thể loại tự sự căn cứ vào rất nhiều tiêu chí khác nhau,
mỗi tiêu chí lại tương ứng với một kiểu dạng. Chẳng hạn:
Xét theo tiến trình lịch sử, có thể chia thành: Tự sự dân gian, tự sự
trung đại, tự sự hiện đại.
Xét theo phương thức sáng tác, chia thành: Tự sự chủ nghĩa cổ điển, tự
sự chủ nghĩa lãng mạng, tự sự chủ nghĩa hiện thực.
Xét theo dung lượng của tác phẩm có: Truyện ngắn, truyện cực ngắn,
truyện vừa, truyện dài…
Chia theo hình thức ta có: Anh hùng ca, tiểu thuyết, truyện ngắn, ngụ
ngôn…
1.1.3.3. Đặc trưng của thể loại tự sự:
Mỗi thể loại văn học đều mang trong mình những đặc trưng riêng biệt.
Thể loại tự sự cũng vậy. Sự khác biệt đó thể hiện ở ba yếu tố: cốt truyện, nhân
vật và ngôn ngữ.
Thứ nhất: Cốt truyện.
Cốt truyện được coi như xương sống của mọi tác phẩm tự sự, là yếu tố
đầu tiên để xây dựng nên một tác phẩm văn học. Do vậy, muốn tạo ra một tác

Bất kì một tác phẩm văn học nào cũng có nhân vật. Nhân vật là phương
tiện hình thức để nhà văn phản ánh, tái hiện đời sống, gửi gắm quan điểm, tư
tưởng, tình cảm của mình.
Hiểu một cách cụ thể nhân vật văn học là “Con người cụ thể được miêu
tả trong tác phẩm văn học”.
Theo giáo sư Trần Thanh Đạm: “Nhân vật là hình tượng những con
ngời đang sống, suy nghĩ, cảm xúc, hành động trong những môi trường, hoàn
cảnh, tình huống, những con người có quá trình, vận mệnh, có khi có bản sắc
và có tính cách”.
---------------------------------------------(1) Lê Bá Hán-Trần Đình Sử-Nguyễn Khắc Phi-Từ điển thuật ngữ văn học
-NxbGD-H.2006-tr.99

11


Khóa luận tốt nghiệp

Trịnh Thị Mai- K31BVăn

Tuy nhiên, trong các tác phẩm ngụ ngôn, thậm chí cả chuyện hiện đại
thì nhân vật trong tác phẩm không phải chỉ là con người, nó có thể là các con
vật. Vì vậy, nhân vật phải được hiểu theo nghĩa rộng, có mối quan hệ chặt chẽ
với cái gọi là “Con người” trong đời sống nhưng nó không đồng nhất. Nhân
vật chỉ tồn tại trong tác phẩm văn học, trong tác phẩm văn học chỉ tồn tại
nhân vật chứ không tồn tạo con người và ngược lại. Theo cách hiểu này thì
nhân vật văn học không chỉ là con người, những con người có tên hoặc không
tên, được khắc họa sâu đậm hoặc chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm, mà
còn có thể là những sự vật, loài vật khác, ít nhiều mang bóng dáng, tính cách
của con người được dùng như những phương thức để biểu hiện con người”.
Nhân vật là một đặc điểm nổi bật của tác phẩm tự sự. Ở mỗi một

loại ngôn ngữ này luôn đan xen, tác động qua lại lẫn nhau và biểu hiện xuyên
suốt từ đầu đến cuối tác phẩm. Thông qua hệ thống tín hiệu ngôn ngữ ấy mà
ta hiểu được nội dung tư tưởng cũng như giá trị ngệ thuật mà tác giả gửi gắm
trong tác phẩm của mình.
Cốt truyện, nhân vật và ngôn ngữ là ba yếu tố có mối quan hệ khăng
khít với nhau, là cơ sở chính để tạo nên một chỉnh thể văn học.
1.2. Tiếp nhận văn học
1.2.1. Tiếp nhận và tiếp nhận văn học
Theo “Từ điển tiếng Việt”, tiếp nhận là “Đón nhận cái từ người khác,
nơi khác chuyển giao cho”.
Theo đó, tiếp nhận văn học là “Hoạt động chiếm lĩnh giá trị tư tưởng
thẩm mĩ của tác phẩm văn học, bắt đầu từ sự cảm thụ văn bản ngôn từ, hình
tượng nghệ thuật, tư tưởng, cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ tác giả
cho đến sản phẩm sau khi đọc”.(1)
Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn “Đọc và tiếp nhận tác phẩm văn
chương” lại quan niệm: “Tiếp nhận tác phẩm văn học là quá trình đem lại cho
người đọc sự hưởng thụ và hứng thú trí tuệ hướng vào hoạt động để củng cố
và phát triển một cách phong phú những khả năng thuộc thế giới tinh thần và
năng lực cảm xúc của con người trước đời sống”.
---------------------------------------------(1) Từ điển thuật ngữ văn học-Sđd

13


Khóa luận tốt nghiệp

Trịnh Thị Mai- K31BVăn

Về thực chất, tiếp nhận văn học là một cuộc giao tiếp đối thoại tự do
giữa người đọc và tác giả qua tác phẩm. Nó đòi hỏi người đọc tham gia với tất


Trịnh Thị Mai- K31BVăn

đánh giá của nhà văn, và nhà văn bao giờ cũng gửi gắm vào đó những tư
tưởng tình cảm của mình.
Có thể khẳng định rằng, trong bốn thành tố tạo nên một quá trình sáng
tác và thưởng thức văn học : thời đại, nhà văn, tác phẩm, bạn đọc thì nhà văn
với tư cách một chủ thể sáng tạo, đóng vai trò quan trọng nhất.
1.2.2.2. Con đường chiếm lĩnh tác phẩm văn học
Tác phẩm văn học là một chỉnh thể. Chỉnh thể ấy là sự kết hợp của ba
yếu tố: cốt truyện, nhân vật và ngôn ngữ. Giảng dạy một truyện ngắn, ngoài
việc nắm được các đặc trưng của thể loại tự sự đòi hỏi người dạy phải biết
cách lựa chọn phương pháp sao cho hoạt động tiếp nhận tác phẩm văn học
của học sinh đạt hiệu quả cao nhất. Cơ chế của hoạt động tiếp nhận thường
bao gồm bốn bước: đọc, phân tích, cắt nghĩa và bình giá. Quá trình tiếp nhận
tác phẩm tự sự cũng dựa trên các bước cơ bản này.
* Hoạt động đọc.
Thông tin trong đời sống là vô cùng phong phú và đa dạng. Thông tin
ấy có ở nhiều nơi, được chứa trong nhiều vật chứa tin khác nhau. Văn bản là
một trong những vật chứa tin ấy. Nó được coi là vật chứa có khả năng tích luỹ
nhiều thông tin nhất và tác động đến nhiều người nhất. Vì thế nó có tầm quan
trọng trong đời sống xã hội, cộng đồng, văn hóa, lịch sử và khoa học.
Để lấy thông tin từ các văn bản, cách duy nhất là phải đọc. Đây là bước
khởi đầu cho quá trình tiếp nhận văn học. Đọc giúp ta tích lũy thông tin, sau
đó mới hiểu và cảm thụ về lượng thông tin mà tác giả gửi gắm trong văn bản
văn học ấy. Tuy nhiên mỗi một loại văn bản có cách đọc khác nhau. Đọc thơ
trữ tình khác đọc một tác phẩm văn xuôi, đọc một vở kịch khác đọc một
truyện ngắn…Vì vậy cần có cách đọc phù hợp để việc tiếp nhận và tìm hiểu
tác phẩm mang lại hiểu quả cao hơn.


Hoạt động cắt nghĩa sẽ tạo ra cái nhìn đa chiều đối với mỗi tác phẩm
đồng thời cũng là cơ sở để đánh giá mức độ hiểu biết của mỗi người.

16


Khóa luận tốt nghiệp

Trịnh Thị Mai- K31BVăn

* Hoạt động bình giá.
Bước cuối cùng cuả quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học là hoạt động
bình giá. Đây là hoạt động mang tính chủ quan,thể hiện thái độ đánh giá, bình
phẩm cuả người đọc.Việc đưa ra thái độ khen, chê cũng đòi hỏi người đọc
phải có trình độ am hiểu nhất định. Người đọc càng hiểu biết rộng bao nhiêu
thì việc đánh giá càng sâu sắc, đúng mức và chuẩn xác bấy nhiêu. Tuy nhiên
cần tôn trọng yếu tố khách quan trong quá trính đánh giá.
Đây cũng là hình thức giao tiếp tự do giữa bạn đọc và tác giả thông qua
tác phẩm văn học.
1.3.Loại thể với vấn đề tiếp nhận tác phẩm văn học.
Hoạt động tiếp nhận văn học và hoạt động dạy học có mối quan hệ biện
chứng với nhau. Vấn đề loại thể có tác động trực tiếp đến dạy học tác phẩm
trong nhà trường phổ thông. Nó được dùng như một công cụ quan trọng trong
quá trình học tác phẩm nhằm tiến tới cái đích cao nhất là cảm và hiểu tác
phẩm.
Tìm hiểu tác phẩm văn học theo loại thể là phương pháp mới, đem lại
hiệu quả cao trong việc dạy và học Ngữ văn ở nhà trường PTTH.
2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.1. Vị trí của nhà văn Tô Hoài trong nền văn học Việt Nam
Với gần nửa thế kỉ lao động nghệ thuật, Tô Hoài đã có những đóng góp

Vị trí của ông trong lòng bạn đọc và Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học
nghệ thuật đợt 1(1996) cao quý mà ông vinh dự được nhận chính là minh
chứng sinh động nhất cho cuộc đời lao động nghệ thuật không mệt mỏi, suốt
đời phấn đấu, suốt đời cống hiến hi sinh.
Đánh giá về Tô Hoài và văn nghiệp của ông không phải là công việc
làm một lần bởi một người là có thể hoàn tất. Bởi văn Tô Hoài đều là những
tác phẩm có giá trị, nó như một mạch ngầm trong lòng đất, càng khơi càng
trong,càng ngọt ngào bất ngờ và thú vị. Nói như nhà nghiên cứu Vương Trí
Nhàn “Dường như cả cuộc đời từng trải đã chuẩn bị cho những trang viết hôm
nay của ông”.

18


Khóa luận tốt nghiệp

Trịnh Thị Mai- K31BVăn

2.2. Tác phẩm của Tô Hoài trong nhà trường PT
Trong nhà trường PT, một số sáng tác của Tô Hoài đã được tuyển chọn
và đưa vào giảng dạy ở cả hai bậc học: THCS và THPT.
Ở bậc THCS, các em thiếu nhi được làm quen với nhà văn Tô Hoài
thông qua đoạn trích “Bài học đường đời đầu tiên” được trích từ chương1 của
tập truyện “Dế mèn phiêu lưu kí”(1941).
Văn bản này được đưa vào giảng dạy ở bài đầu tiên của chương trình
SGK Ngữ văn 6 tập 2. Sở dĩ như vậy là vì tác phẩm của ông đi miêu tả cả một
thế giới loài vật hết sức sinh động, chúng mang những nét ngây thơ, hồn
nhiên, ngộ nghĩnh, hóm hỉnh, khao khát và say mê lí tưởng, rất phù hợp với
tâm lí của trẻ thơ. Chính điều đó tạo nên sức hấp dẫn, hứng thú, kích thích trí
tò mò cũng như sự yêu thích của các em trong giờ học. Đặc biệt, đằng sau

nhà giáo tâm huyết tranh luận, nghiên cứu để tìm ra phương pháp giảng dạy
tối ưu nhất.
Trước đây, bộ môn Văn học đã từng trải qua hai lần cải cách (1958 và
1961), cả hai lần cải cách ấy, môn Văn đều bị tách thành phân môn riêng biệt
so với Tiếng Việt và Tập làm văn đồng thời được in thành một cuốn sách
riêng. Các cuốn sách này chủ yếu được người biên soạn xây dựng, tổ chức
theo chủ đề và tiến trình lịch sử văn học. Chính việc tổ chức như vậy đã kéo
theo nhiều hạn chế và khó khăn trong quá trình giảng dạy, việc tiếp thu kiến
thức của học sinh còn mang tính chất phiến diện, chưa hiểu kĩ, hiểu sâu tác
phẩm.
Xuất phát từ tình hình thực tiễn như trên, năm 2000 chính phủ ra quyết
định thay đổi chương trình và nội dung SGK ở tất cả các phân môn trong đó
chú trọng đặc biệt đến bộ môn Văn học.
Ở đợt cải cách lần này có một điểm mới đó là cả ba phân môn: giảng
văn-tiếng Việt-làm văn được tích hợp xây dựng thành một môn chung: Ngữ
văn. Phương pháp này có ưu điểm là học sinh có thể thấy được mối liên hệ
giữa các kiến thức có liên quan, bổ sung và hỗ trợ kịp thời cho các bài học ở
các phân môn khác nhau. Mặt khác, chương trình SGK mới lấy thể loại là
nguyên tắc xây dựng cho sách Ngữ văn ở cả hai bậc học: THCS và THPT Tức là dạy và học tác phẩm văn học phải căn cứ vào đặc trưng thể loại tương

20


Khóa luận tốt nghiệp

Trịnh Thị Mai- K31BVăn

ứng của tác phẩm đó, nhằm giúp học sinh vừa có khả năng hiểu văn và làm
được văn.
Tuy nhiên hiện nay, việc giảng dạy tác phẩm theo đặc trưng loại thể

1. Đặc trưng các tác phẩm tự sự của Tô Hoài.
Một tác phẩm tự sự bao giờ cũng gồm ba đặc trưng chính: cốt truyện,
nhân vật và ngôn ngữ. Đó là những yếu tố cơ bản để cấu thành nên một tác
phẩm hoàn chỉnh. Soi chiếu vào các sáng tác của Tô Hoài, có thể thấy, dù ông
viết ở thể loại nào đi nữa: tiểu thuyêt, truyện ngắn, bút kí… thì những yếu tố
này đều được thể hiện rõ nét.
1.1.Cốt truyện:
1.1.1. Cốt truyện của Tô Hoài mang đậm cảm quan hiện thực đời thường.
Văn học phản ánh hiện thực. Hiện thực khách quan hiện diện trong tác
phẩm nghệ thuật bao giờ cũng thẩm thấu qua lăng kính chủ quan của người
nghệ sĩ. Và mỗi một nghệ sĩ lại có lối cảm nhận riêng về hiện thực khách
quan ấy.
Đối với riêng Tô Hoài, trước cuộc sống hiện thực muôn màu muôn vẻ,
nhà văn lại đặc biệt quan tâm và có niềm say mãnh liệt với “con người và
cuộc sống đời thường”.
Ngay từ những ngày đầu sáng tác, một cách tự nhiên, ngòi bút của Tô
Hoài đã hướng vào “những chuyện trong làng và trong nhà, những cảnh và
người của một vùng công nghệ đang sa sút, nghèo khổ”. Ông tâm sự: “Đời
sống xã hội quanh tôi, tư tưởng và hoàn cảnh của chính tôi đã vào cả trong
những sáng tác của tôi. Ý nghĩ tự nhiên của tôi bấy giờ là viết những sự xảy ra
trong nhà, trong làng quanh mình”.
Tại sao cảnh “đời thường” có sức hấp dẫn mạnh đối với Tô Hoài như
vậy? Bởi lẽ, cảnh túng quẫn, khó khăn, vất vả của bản thân, của gia đình
khiến ông khó có thể thả hồn phiêu diêu vào thế giới thơ mộng của “chàng”

22


Khóa luận tốt nghiệp


23


Khóa luận tốt nghiệp

Trịnh Thị Mai- K31BVăn

Trong “Nhà nghèo” gia đình Duyện đang lâm vào một chuyện xô xát vì
những nguyên cớ không đâu khiến bố đe giết cả vợ lẫn con, rồi đe đốt cả nhà.
Nhưng may sao cơn mưa rào ập tới đã xoa dịu lòng người và không ai bảo ai,
cả nhà ra đồng bắt nhái. Song không may, niềm hăm hở để chuẩn bị cho bữa
cơm sắp tới ngay lập tức nhường chỗ cho nỗi đau xé lòng: đứa con gái đột
ngột ra đi vì rắn độc cắn.
Những cảnh sinh hoạt và quan hệ xóm giềng, gia đình trong sự sống
hàng ngày làm nên thế giới truyện của Tô Hoài. Đấy chính là bối cảnh sống,
là sự sống đích thực của con người. Mà sự sống đích thực thì bao giờ mà
chẳng đan xen những vui buồn, đau khổ, hạnh phúc…
Tô Hoài cũng là một trong số ít nhà văn viết đều tay nhất cho thiếu nhi.
Ông viết nhiều loại truyện thuộc nhiều đề tài mà hầu hết đều là những tác
phẩm hay được các em rất yêu thích, say mê như: Vừa A Dính, Kim Đồng,
Chuyện nỏ thần… Đặc biệt là những truyện viết về thế giới loài vật được các
em hào hứng đón nhận hơn cả: Dế mèn phiêu lưu kí, Con mèo lười, Mụ ngan,
Đám cưới chuột, Đôi ri đá…. Các tác phẩm viết cho thiếu nhi cũng được Tô
Hoài đặt trong cảm quan hiên thực đời thường nên nó hết sức gần gũi, quen
thuộc,cảm giác như đã trải qua hay đang chứng kiến trước thực tại chứ không
phải là đang đọc nữa.
Trong số những tác phẩm viết cho thiếu nhi thì “Dế Mèn phiêu lưu kí”
được coi là thiên đồng thoại hấp dẫn và nổi tiếng hơn cả. Truyện kể lại cuộc
phiêu lưu lý thú đầy sóng gió của chàng Dế Mèn. Là một thanh niên cường
tráng, khỏe mạnh, sớm có hoài bão, lí tưởng nên Dế Mèn chán cuộc sống

tự nhiên của nó: từ phong tục cho đến hủ tục, từ nét đẹp văn hóa cho đến
những sinh hoạt lạc hậu, ấu trĩ. Với nhãn quan phong tục đặc biệt như vậy, Tô
Hoài đi đến đâu, phong tục tập quán mọi miền đi vào trang văn của ông đến
đó. Thông qua sinh hoạt phong tục, hiện thực xã hội đa chiều được hiện lên
hết sức sinh động và phong phú.
Sau cách mạng, Tô Hoài đến với đồng bào Tây Bắc và đắm mình trong
cuộc sống của các dân tộc miền núi. Ông cùng ăn cùng ở cùng sinh hoạt với
họ. Chính cuộc sống gần gũi, thân thiết trên mảnh đất mới này đã khơi nguồn

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status