Khóa Luận Tốt Nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể là một hướng đi có hiệu quả.
Dạy và học là hai mặt của quá trình giáo dục mà hiệu quả của quá trình
cần được đặt trong mối quan hệ giữa mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy
học. Bởi vậy, dạy học tác phẩm văn chương vừa là một cách tiếp cận một loại
hình nghệ thuật, vừa là việc thực hiện một khâu trong quá trình giáo dục, trong
đó, phương pháp dạy học là vấn đề đang giành được sự quan tâm nhiều nhất
của các nhà sư phạm.
Việc tiếp cận một tác phẩm văn chương vừa ở góc nhìn nghệ thuật vừa
qua góc nhìn khoa học được cụ thể hoá qua một số phương pháp phân tích:
Theo bước chân tác giả, theo đề tài cụ thể, theo hình tượng nhân vật... đều
mang đến những hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, những con đường trên dù
thuận lợi ở mặt này hay khác và chúng hỗ trợ cho công việc dạy học tác phẩm
văn chương, vẫn chưa là tất cả, là tối ưu đối với bộ môn này.
Lí luận tiếp nhận hiện đại cùng tư tưởng định hướng đổi mới phương
pháp dạy học khẳng định dạy học tích cực là quá trình Dạy học lấy học sinh
làm trung tâm giúp học sinh học cách tự chiếm lĩnh và làm phong phú kiến
thức, kĩ năng, thái độ đối với môn học. Con đường dạy học tác phẩm văn
chương theo loại thể là một hướng đi phù hợp và có hiệu quả đối với định
hướng này.
Nếu như những con đường trước đây nhằm phân tích một tác phẩm văn
chương là các bước đi lại quá trình sáng tạo nghệ thuật của nhà văn theo chiều
ngược lại, tìm ra những ý vị, nội dung đặc sắc của tác phẩm, thì ngả đường
loại thể mang đến những năng lực tự vận động cho người đọc. Nắm được
những đặc trưng của từng loại, thể, người học sẽ không chỉ là bước đi lại mò
loại này trong hệ thống các tác phẩm tự sự dân gian.
Vẫn biết rằng trong mỗi truyện cổ tích đều có những yếu tố của thực
tế (V.I.Lenin) yếu tố thực đó đan kết cùng sự hư cấu tưởng tượng như
những vật liệu cấu thành nên một thế giới khác thực tại. Đó là thế giới thực
Bên bếp lò, trong một túp lều nghèo khổ, bên đống lửa của người chăn cừu.
Không phải ngẫu nhiên mà bạn đã biến một người thợ xay bột bình thường,
với hàng ria lấm tấm bột, thành một pađisa(1) và ngược lại, một pađisa thành
(1) Pađisa: Danh hiệu quốc vương ở một số nước phương Đông xưa.
Nguyễn Thị Huyền Trang
2
K31A - Ngữ Văn
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
một gã thợ xay bột; và nhờ bạn, những con người bình thường lập nên kỳ tích.
Họ, những con người ấy, là những người sáng tạo ra truyện cổ tích. Trong
những lâu đài, cung điện, người ta không sáng tác truyện cổ tích... (R.
Gamzatop).(1)
Nhưng điều hấp dẫn người nghe, có ý nghĩa với người nghe trước hết và
lớn nhất là ở thế giới cổ tích chứ không phải thế giới thực nào khác. Sống
trong thế giới đó, người đọc chân thật hơn, hồn nhiên hơn, thanh thản và nhẹ
nhõm với những bài học nhân sinh nhuốm màu kì diệu, rồi từ đó giải mã
những hồi ức câm lặng của thời quá khứ người xưa gửi gắm. Cõ lẽ bởi vậy mà
quá trình tiếp nhận truyện cổ tích hết sức thú vị, hấp dẫn. Ví dụ, qua Trầu
của người thời cổ... được bảo quản tươi nguyên như hoa với cả hương thơm
(A. Fhơ-răng-xơ).
Tất cả những sự nhận thức đó của người đọc truyện cổ tích sẽ tác động
trực tiếp đến thái độ, tính cách, nhận thức, đánh giá... của người học, người
đọc thể loại này.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Tác giả, thể loại
Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể là một vấn đề được đặt
ra từ rất lâu trong thực tiễn giảng dạy tác phẩm văn học, nhưng nó chính thức
được xuất hiện ở Việt Nam lần đầu tiên là cuốn sách: Vấn đề giảng dạy tác
phẩm văn học theo loại thể (NXB Giáo dục. H.1971) do giáo sư Trần Thanh
Đạm chủ biên. Như một chuyên luận giới thiệu những kiến thức cơ bản nhất
về các loại văn chủ yếu liên quan đến chương trình văn học THPT, nhất là
phần văn học Việt Nam, tập sách cũng giới thiệu phương pháp vận dụng đặc
trưng thể loại vào việc giảng dạy các tác phẩm trong chương trình. Dù vậy, các
ý kiến của tác giả trong cuốn sách mới chỉ có tính chất gợi mở bước đầu cho
một hướng tiếp cận, giảng dạy theo một con đường mới.
Cũng trên tinh thần nghiên cứu tác phẩm văn học theo loại thể, Đặng
Anh Đào đã bàn về Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương tây hiện đại
(NXB Giáo dục. H. 1995). Tác giả đi sâu vào từng đặc trưng loại thể, từ đó
khẳng định vấn đề đổi mới trên phương diện có tính chất thể loại như: nhân
vật, cốt truyện... để cho thấy thể loại văn học cũng là một khái niệm động.
Nhìn chung, vấn đề thể loại và loại tự sự đã được đông đảo các nhà văn,
nhà nghiên cứu văn học trong và ngoài nước rất quan tâm. Từ Arixtôt(1),
(1) Arixtôt (Aristote - 384 - 322 TCN): Nhà triết học Hy Lạp cổ đại, tác giả
nhiều công trình lớn về logic học, chính trị, vật lý, lịch sử tự nhiên, thi học
Nguyễn Thị Huyền Trang
4
Dương tuy ở Lĩnh Ngoại, nhưng núi sông kỳ, đất đai linh, những người hào
kiệt thường thường vẫn có. Từ thời Xuân Thu - Chiến Quốc (770 TCN - 227
TCN) tới nay, nước dựng chưa lâu lắm, tục nước Nam còn giản lược,
(1)(2) M. Gorki, Bielenxki: Nhà văn, nhà lý luận phê bình nổi tiếng người
Nga.
Nguyễn Thị Huyền Trang
5
K31A - Ngữ Văn
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
chưa có sử sách để chép việc thực, cho nên việc cũ bị mai một rất nhiều, may
chỉ nhờ dân gian khẩu truyền mà còn lại không mất.
Chữ viết ra đời là một thành tựu vô cùng rực rỡ. Nó đánh dấu một mốc
quan trọng trong lịch sử tiến hoá của một dân tộc nói chung, một nền văn học
nói riêng. Sự ra đời của nó cũng là mở đầu cho nền văn học viết hình thành và
phát triển song song cùng bộ phận VHDG. Nếu coi VHDG là nền tảng cơ sở
hình thành cho văn học viết thì suốt tiến trình văn học, nó luôn hỗ trợ, thúc
đẩy văn học viết phát triển, nâng cao. Sự phát triển đó không chỉ là chuyển
biến từ việc mã hoá và giải mã âm thanh sang mã hoá và giải mã ký tự mà đó
còn là sự kế thừa tinh xảo của văn học viết.
Người ta thường nói đến tài năng hút nhụy làm mật từ nền VHDG của
những cây bút đại tài Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Dữ... đó là sự kế
thừa cả ở đề tài, ở những môtip, ở chất trào phúng hóm hỉnh... và đương nhiên,
phải kể đến thiên cổ kì bút Truyền Kì Mạn Lục của Nguyễn Dữ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Qua việc nghiên cứu đặc trưng loại thể và phương pháp đọc - hiểu theo
đặc trưng loại thể đối với tác phẩm tự sự dân gian nói chung, truyện cổ tích
nói riêng, người viết muốn chỉ ra những đặc trưng cơ bản của một tiểu loại, từ
đó, phục vụ tốt hơn cho công việc giảng dạy tác phẩm văn chương trong
chương trình Ngữ văn THPT.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.2.1. Chỉ ra cơ sở thực tiễn để lựa chọn phương pháp dạy học hợp lý, hiệu
quả.
3.2.2. Lý thuyết đọc - hiểu và đặc trưng thể loại.
3.2.3. Xây dựng được phương án thiết kế giảng dạy tác phẩm tự sự dân gian
qua truyện cổ tích Tấm Cám.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Truyện cổ tích Tấm Cám (SGK Ngữ văn 10, tập 1, NXB Giáo dục. H.
2006).
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi rộng: Đặc trưng chung của loại tự sự, tự sự dân gian.
Phạm vi hẹp: Tìm hiểu và dạy tác phẩm Tấm Cám bằng con đường
đọc - hiểu theo đặc trưng loại thể.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp khảo sát, tìm hiểu, phân loại.
Nguyễn Thị Huyền Trang
7
K31A - Ngữ Văn
8
K31A - Ngữ Văn
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Nội Dung
Chương 1
Những vấn đề chung
1.1. Vấn đề tiếp nhận tác phẩm văn học
1.1.1. Phương thức sáng tạo của nhà văn
Sáng tác thực chất là lịch sử xây dựng những hình tượng tình cảm ở
công chúng (Kuôbakine). Có thể thấy rằng quá trình sáng tác văn học gồm
ba khâu: ý đồ sáng tạo, quá trình sáng tác và tác phẩm (trong mối quan hệ với
bạn đọc). Khâu nào cũng chiếm giữ những vai trò nhất định nhưng phương
thức sáng tạo của nhà văn được xem như bản lề, chuyển tiếp, chuyển hoá từ
cái vô thực sang hữu thực (ý đồ sang văn bản) và cho ra đời tác phẩm.
Người viết không phải là nhà văn. Nhưng việc học tập, đọc viết và giảng dạy
văn học, tất nhiên, cũng đã trang bị phần nào kiến thức cần thiết cho lĩnh vực
này. Bàn về phương thức sáng tạo của nhà văn, tôi nghĩ rằng tất cả đều xuất
phát từ thực tại đời sống - đề tài mà nhà văn lựa chọn để đưa vào trong tác
phẩm của mình. Từ đó, nhà văn sử dụng những cách thức, phương tiện nhào
nặn nên đứa con tinh thần của mình vừa tuân thủ những nguyên tắc sáng tác
chung, vừa tạo phong cách riêng của bản thân người nghệ sĩ.
Cùng sử dụng chất liệu ngôn từ, tư duy hình tượng, cùng chịu sự chi
phối của đặc điểm thời đại, lịch sử, xã hội, hoặc của những phương pháp sáng
tác...nhưng trong cách lựa chọn phương thức của mỗi nhà văn, con đường
năng, vừa là phương pháp. Vì vậy, nó được coi là tiền đề cho sự giải mã những
ẩn ý vẫy gọi trong tác phẩm văn học. Tiến hành hoạt động này, người đọc
không phải chỉ biết chữ đơn thuần mà phải có kĩ thuật để vừa hiểu văn, vừa
phát triển ý văn.
Hiểu văn là sự đồng cảm, nắm được ý đồ nhà văn gửi gắm còn phát triển
ý văn là tìm ra sự mới lạ, giá trị nâng cao có được bởi sự cảm thụ tinh tế, nhiệt
tình của người đọc.
Một tác phẩm ưu tú nhưng không có bạn đọc thì tác phẩm đó sẽ đi đến
đâu? Nói như N.I.Kađriasep thì thiếu người đọc thì hoạt động văn học chẳng
khác gì một tiếng kêu vô vọng vang lên giữa cánh đồng hoang mọc đầy cỏ
dại.
Như vậy ta có thể thấy rằng giữa nhà văn và tác phẩm, tác phẩm với
người đọc có một mối quan hệ mật thiết với nhau. Việc đọc tác phẩm thực
hiện bước đầu tiên của cơ chế tiếp nhận, là việc bạn đọc đồng hành cùng nhà
văn ở hướng ngược lại của quá trình sáng tác, và khi này, khi văn bản của nhà
văn tạo lập trở thành tác phẩm trong lòng bạn đọc thì tác phẩm mới hoàn
Nguyễn Thị Huyền Trang
10
K31A - Ngữ Văn
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
thành chu trình của nó - chu trình nếu thiếu khâu đọc thì mãi mãi sẽ dở
dang.
K31A - Ngữ Văn
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
chiếm lĩnh giá trị văn học.
1.1.3. Khoảng cách tiếp nhận
Giữa nhà văn và bạn đọc luôn luôn tồn tại một khoảng cách nhất định dù đứng
trước nghệ thuật họ có vai trò như nhau (đồng sáng tạo). Khoảng cách đó sinh
ra từ nhiều nguyên nhân: tâm lý, cá tính, quan điểm, đặc điểm thời đại... Vì
vậy mà sự tồn tại của nó không hoàn toàn gây cản trở cho quá trình tiếp nhận,
nhưng cũng cần lưu ý những biểu hiện gán ghép, quy chụp khiên cưỡng vẫn
thấy trong một số bài viết phê bình.
Giữa tầm tiếp nhận và khoảng cách tiếp nhận có mối quan hệ nhân quả với
nhau. Nếu tầm tiếp nhận thấp thì tạo ra khoảng cách tiếp nhận lớn. Ngược lại,
nếu tầm tiếp nhận cao thì khoảng cách tiếp nhận được rút ngắn lại, tức là giữa
nhà văn (người tạo lập) và độc giả đồng điệu ở mức độ nhất định nào đó.
Cần phải hiểu thêm về khái niệm tiếp nhận, tầm tiếp nhận. Theo Từ điển
thuật ngữ văn học, tầm tiếp nhận hay tầm đón là điều kiện tiền đề để độc giả
tiếp nhận tác phẩm văn học. Nó bao gồm kinh nghiệm và tri thức có được từ
trong các tác phẩm đã học, mức độ quen thuộc đối với các hình thức và thủ
pháp văn học khác nhau như địa vị kinh tế chính trị, trình độ được đào tạo, sự
từng trải và kinh nghiệm sống, trình độ thưởng thức và thị hiếu nghệ thuật,
hứng thú cá nhân, tính cách và các tố chất.
Khi nhân vật giao tiếp thực hiện hoạt động tiếp nhận với mức độ hứng
thú cao cùng năng lực cá nhân về các phương diện thì khoảng cách thời đại,
tâm lí... các yếu tố tạo ra khoảng cách sẽ rút ngắn đi tạo ra hiệu quả tiếp nhận
cao bởi khi tiếp nhận văn học người tiếp nhận ở vào một trạng thái đặc biệt,
phẩm văn học như: nhân vật, kết cấu, bố cục, cốt truyện, các phương tiện nghệ
thuật, chủ đề, đề tài, tư tưởng tác phẩm, tác giả... Hoặc chủ thể tiếp nhận cũng
sẽ nhận biết được văn bản mình đang đọc thuộc thể loại nào bằng việc nhận ra
các đặc trưng của thể loại đó... Như vậy, khi tiến hành hoạt động tiếp nhận,
bằng các kiến thức Lí luận trang bị, người đọc và tác giả sẽ cùng nhau giao
tiếp ăn ý hơn, hiệu quả giao tiếp ngầm đó đạt được cũng là sự khẳng định
khoảng cách tiếp nhận sẽ được rút ngắn.
Tương tự vậy, thi pháp văn học cũng có những tác động ảnh hưởng tới
quá trình lớn lên của tác phẩm. Theo tác giả cuốn Thi pháp văn học trung
đại(1) thì thi pháp là hệ thống các nguyên tắc nghệ thuật chi phối sự tạo thành
của một hệ thống nghệ thuật với các đặc sắc của nó... Nó là mĩ học nội tại
(1) Trần Đình Sử (chủ biên)
Nguyễn Thị Huyền Trang
13
K31A - Ngữ Văn
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
của sáng tác nghệ thuật biểu hiện ở các cấp độ: tác phẩm, thể loại, ngôn ngữ,
tác giả và bao trùm cả là nền văn học.
Hiểu nhanh nhất, thi pháp là tổng thể các yếu tố thuộc về hình thức và
thủ pháp nghệ thuật được sử dụng trong tác phẩm. Khi được trang bị những
kiến thức về thi pháp văn học, cụ thể hơn là thi pháp thể loại cụ thể nào đó,
người đọc sẽ nắm bắt rất nhanh chóng về đối tượng đang tiếp nhận trong lĩnh
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Theo Từ điển Hán - Việt, thể loại là hình thức biểu hiện của tác phẩm
văn học chia theo tính chất có vần hay không có vần (văn xuôi, văn vần) hoặc
dựa theo kết cấu (thơ ca, tiểu thuyết, tản văn, kịch).
Từ điển Tiếng Việt năm 2002 cũng dẫn: thể loại là hình thức phản ánh
hiện thực; vận dụng ngôn ngữ, phương thức phản ánh hiện thực và hình thức tổ
chức ngôn ngữ của tác phẩm.
Từ điển thuật ngữ văn học cũng đưa ra khái niệm thể loại. Đó là dạng
thức của tác phẩm văn học, được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong
quá trình phát triển lịch sử của văn học, thể hiện ở sự giống nhau về cách thức
tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tượng đời sống được miêu tả
về tính chất của mối quan hệ của nhà văn đối với các hiện tượng đời sống ấy.
Từ những định nghĩa trên ta thấy rằng thể loại chính là cách nói gộp hai
khái niệm loại và thể. Lí luận văn học dựa vào các yếu tố ổn định mà cũng
chia tác phẩm văn chương làm thể loại và thể tài, loại là khái niệm rộng hơn.
Đông đảo các nhà nghiên cứu uy tín đều thừa nhận văn chương có ba loại lớn:
Tự sự, trữ tình và kịch. Mỗi loại bao gồm nhiều thể. Bất kỳ tác phẩm nào cũng
thuộc một loại nhất định, điều quan trọng hơn là nó phải có một hình thức thể
nào đó (hình thức tổ chức ngôn ngữ một tác phẩm).
Thể loại văn học luôn luôn vận động. Nó là một phạm trù lịch sử vừa
mới, vừa cũ, vừa biến đổi, vừa ổn định. Về bản chất, nó phản ánh khuynh
hướng phát triển bền vững, vĩnh hằng của văn học. Các thể loại tồn tại để giữ
gìn, đổi mới thường xuyên các khuynh hướng ấy. Nói như D. Li - kha - chôp,
thể loại văn học là một phạm trù lịch sử. Nó chỉ xuất hiện vào một giai đoạn
phát triển nhất định của văn học và sau đó biến đổi và được thay thế.
Khi tiếp cận phạm trù này cần chú ý đến tính lịch đại và trạng thái vận
động của chúng.
loại tác phẩm văn học. Từ điển thuật ngữ văn học khẳng định đó là phương
thức tái hiện đời sống, bên cạnh hai phương thức trữ tình và kịch.
Nguyên tắc phản ánh hiện thực trong tính khách quan đã đặt trần thuật
vào yếu tố quan trọng hàng đầu. Chính vì cùng sử dụng yếu tố này làm phương
tiện nên nhiều người có sự đồng nhất giữa hai khái niệm thể loại tự sự và
phương thức tự sự khi tìm hiểu về thể loại tự sự, bạn đọc nên có sự phân biệt,
khu biệt giữa chúng để thuận lợi cho quá trình tiếp nhận.
Trước hết, thể loại tự sự là một loại văn chương, khác với phương thức tự
sự là cách tái hiện đời sống tư tưởng. Trong một tác phẩm tự sự tất nhiên có sự
Nguyễn Thị Huyền Trang
16
K31A - Ngữ Văn
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
tồn tại của phương thức tự sự, bên cạnh sự tồn tại của các phương thức khác
(trữ tình, đối thoại, độc thoại...).
Thứ nữa, tuy cùng sử dụng yếu tố trần thuật song trần thuật trong thể
loại tự sự là kể lại một câu chuyện, câu chuyện ấy có thể bao gồm một hay rất
nhiều sự việc, các sự việc này lại có mối liên hệ với nhau. Nhưng cái đích cuối
cùng của việc trần thuật không phải đơn thuần là bạn đọc chỉ nắm được các sự
việc, nhớ được cốt truyện mà nó yêu cầu bạn đọc có thể nhận thức được một
vấn đề, một lĩnh vực nào đó của đời sống, cũng như tư tưởng, tình cảm tác giả
gửi gắm vào tác phẩm.
Đọc - hiểu vừa là một bước trong quá trình đọc văn bản nhưng nó cũng
là yêu cầu đối với người đọc văn bản. ở đó người đọc bắt buộc phải sử dụng
các thao tác khoa học và năng lực tư duy để hiểu đúng, đầy đủ, chính xác về
ngôn từ, hình tượng, tư tưởng, tình cảm của tác giả để hình thành sự đánh giá
văn bản văn học, từ đó biết thưởng thức, hưởng thụ các giá trị nghệ thuật của
văn bản văn chương nghệ thuật.
Muốn đạt tới sự đọc - hiểu, người học cần hình thành thói quen đọc
sách, kĩ năng đọc, tập tra cứu từ điển để hiểu nghĩa của ngôn từ, khái niệm...từ
đây mới đi đến phân tích, thưởng thức văn chương.
Đọc - hiểu là năng lực cá thể, mang tính cá thể, dù chịu sự chi phối và
tác động của ngoại cảnh, nhưng quan trọng hơn là sự nỗ lực, ý thức rèn luyện
của mỗi người. Kĩ năng này mang tính tự giác bởi nếu không tự đọc mà để
người khác đọc hộ, giảng giải cho thì người đọc không bao giờ biết tự khám
phá và cảm nhận được hình hài và tính cách tác phẩm.
Dạy học văn chương đặt ra vấn đề dạy đọc văn là một trong những yêu
cầu cấp thiết về đổi mới phương pháp dạy học. Bởi vậy, đọc - hiểu được coi là
khâu trung tâm, vấn đề trọng tâm trong lí thuyết đọc - hiểu.
1.3.2. Tại sao đọc - hiểu là con đường đặc trưng trong tiếp nhận tác phẩm văn
chương?
Đọc là một hoạt động văn hoá của con người, chỉ có con người mới có
khái niệm đọc các văn bản từ ngữ. Người ta có thể dạy một số con vật biết nói,
biết nhận biết tín hiệu thậm chí biết đọc. Tuy nhiên, việc đọc ấy chỉ đơn thuần
là sự bắt chước, hình thành từ các phản xạ có điều kiện. Công nghệ hiện đại
cũng có thể chế tạo và sản xuất các vật có khái niệm đọc giống như con người,
nhưng tất cả vẫn chỉ là sự mô phỏng khả năng con người mà thôi. Bản chất, đó
vẫn là những hoạt động do con người gửi gắm vào các thiết bị, vì vậy mãi mãi
nó không thể thay thế cho con người. Kết quả mà máy móc đưa ra dù chính
Nguyễn Thị Huyền Trang
một tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống xã hội, đời sống cộng đồng, đời
sống khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.
Điều đáng bàn là làm thế nào để lấy tin từ các vật chứa tin? Với mỗi vật
chứa tin đều có những cách thức lấy tin khác nhau. Để lấy thông tin từ văn
bản, cách duy nhất là phải đọc, ngoài đọc ra, không có cách nào khác để lấy
tin từ văn bản ngôn ngữ.
Tác phẩm văn chương là sản phẩm của nghệ thuật ngôn từ. Bởi vậy, đây
được xem là một vật chứa tin không chỉ mang thông tin thuần tuý mà còn lưu
Nguyễn Thị Huyền Trang
19
K31A - Ngữ Văn
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
trữ cả lượng thông tin nghệ thuật. Nó chính là một vật chứa tin phổ biến nhất.
Tiếp cận với nó chỉ có một cách duy nhất là đọc. Bởi vậy, đọc được xem là con
đường đặc trưng, phương pháp đặc thù duy nhất để tiếp nhận thông tin từ các
văn bản ngôn từ.
Cần lưu ý rằng, ngay với văn bản VHDG, tính chất đặc trưng là tính
truyền miệng, hình thức ngôn ngữ tồn tại ở dạng nói nên nó chỉ sống trong
quá trình diễn xướng, thì khi đưa vào quá trình tiếp nhận nó vẫn chuyển sang
dạng văn bản viết, từ tín hiệu âm thanh sang tín hiệu chữ viết bởi hoạt động
nghe bị coi là thụ động, gián tiếp tiếp xúc với thông tin chứ không phải khai
thác thông tin. Và như thế, hoạt động nghe chuyển sang hoạt động thay thế là
theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định tạo thành bộ phận cơ bản, quan
trọng nhất trong hình thức của tác phẩm tự sự. Nó có tác dụng bộc lộ tính cách
nhân vật hoặc phản ánh thực trạng của đời sống.
Nắm được cốt truyện nghĩa là nắm được logic mạch truyện và hiểu được
nghệ thuật kể chuyện của tác giả. Cốt truyện nào cũng có quá trình hình thành,
phát triển và kết thúc. Một cốt truyện truyền thống bao giờ cũng có đủ 5 thành
phần(1):
(1) Mở đầu: Giới thiệu tình huống có mâu thuẫn dẫn tới sự kiện.
(2) Thắt nút: Sự kiện xảy ra báo hiệu một thay đổi dẫn đến một nguy cơ,
một sự kiện khác.
(3) Phát triển: Chuỗi sự kiện xảy ra tiếp theo sau thắt nút cho đến đỉnh
điểm.
(1) Phương Lựu (chủ biên), Lí luận văn học, NXB GD, H,2004
Nguyễn Thị Huyền Trang
21
K31A - Ngữ Văn
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
(4) Đỉnh điểm (Cao trào): Sự kiện đánh dấu mâu thuẫn gay gắt đến mức
bùng nổ.
(5) Mở nút: Sự kiện giải quyết mâu thuẫn. Mở nút thường bất ngờ và rất
thú vị. Sau mở nút là hết chuyện.
Cần lưu ý rằng không phải cốt truyện nào cũng có đủ 5 thành phần trên,
K31A - Ngữ Văn
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Ví dụ như, đồng tiền là nhân vật chính trong tác phẩm Ơ-giê-ni Gơrăng-đê của Ban-dắc; Thỏ và rùa là nhân vật chính trong truyện ngụ ngôn
cùng tên của La-phông-ten; Cái mũi là nhân vật chính trong truyện ngắn cùng
tên của văn hào SêKhốp... Bên cạnh những nhân vật có tên riêng (Tấm, Cám,
chị Dậu...)
Chức năng cơ bản của nhân vật văn học là khái quát tính cách của con
người. Nói đến nhân vật là nói đến sự sáng tạo.
Trong một tác phẩm tự sự, nhân vật tồn tại với tư cách hình thức tác
phẩm. Nhà văn sử dụng nó để tái hiện đời sống, biểu lộ tư tưởng, tình cảm của
mình.
Hệ thống nhân vật trong một tác phẩm tự sự bao giờ cũng đông đảo hơn
so với loại trữ tình và kịch, được chia làm nhân vật chính và nhân vật phụ.
(theo vai trò của nhân vật trong tác phẩm). Các nội dung thể hiện chủ yếu qua
nhân vật chính vì thế, muốn hiểu đúng nội dung tác phẩm, cần xác định được
đâu là nhân vật chính để phân tích tính cách nhân vật ấy.
Khi tìm hiểu nhân vật trong tác phẩm tự sự cần dựa vào những đặc điểm
ngoại hình, ngôn ngữ, hành động... Để nắm được tính cách nhân vật bộc lộ qua
những phương diện ấy. Cũng cần xem xét tính cách nhân vật khi hoàn cảnh,
môi trường khác nhau, quy định những mối quan hệ khác nhau cũng nói lên
tính cách nhân vật.
Bài viết cũng xin làm rõ thêm đặc điểm nhân vật tự sự dân gian. Đây là
nhân tố thuộc về phương pháp sáng tác, trào lưu sáng tác quy định kiểu xây
dựng nhân vật. Chẳng hạn, nhân vật trong chủ nghĩa lãng mạn là kiểu nhân vật
lí tưởng, tính cách của họ ít tồn tại trong đời sống thực tế mà chỉ tồn tại trong
đọc cần chú ý đến tính chức năng, bản chất chức năng của nhân vật, tránh cái
nhìn phiến diện, lệch lạc về nhân vật.
2.1.3. Ngôn ngữ
M. Gorki khẳng định ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học (X. th.
Văn học). Đó là chất liệu tạo ra công trình nghệ thuật văn chương. Đặc trưng
cần bàn luận ở đây là ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm văn chương. Đó là
lời nói của nhân vật trong tác phẩm thuộc loại hình tự sự và kịch (Từ điển
thuật ngữ văn học).
Nguyễn Thị Huyền Trang
24
K31A - Ngữ Văn
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Ngôn ngữ nhân vật là một trong các phương diện quan trọng được nhà
văn sử dụng nhằm thể hiện cuộc sống và tính cách nhân vật. Ngôn ngữ nhân
vật là một phạm trù lịch sử. Trong giới hạn bàn về loại tự sự dân gian, người
viết chỉ lưu ý bạn đọc rằng do các đặc trưng của thi pháp thể loại, đặc trưng
thể loại (tính truyền miệng) ý niệm cá nhân chưa phát triển, nhân vật lại mang
tính chức năng, nó chưa có được sự cá thể hoá sâu sắc, chưa trở thành một yêu
cầu thẩm mĩ đối với quá trình tiếp nhận.
Nắm được ba đặc trưng quan trọng nhất trong thể loại tự sự, cụ thể là tự
sự dân gian, khi đi vào tìm hiểu, tiếp nhận bằng con đường đọc - hiểu theo đặc
trưng thể loại, chủ thể tiếp nhận cần bám vào từng đặc điểm để tiến hành từng