A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Xã hội loài người đang ngày càng phát triển và tiến những bước tiến
vượt bậc trong mọi lĩnh vực.Cùng với sự phát triển chung của nhân loại,xã
hội Việt Nam cũng đang càng ngày càng phát triển,văn minh và tiến bộ
hơn.Với việc phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
,kinh tế Việt Nam những năm qua đã phát triển mạnh mẽ. Cùng với đó là sự
nâng cao rõ rệt về đời sống vật chất của con người. Và sống trong một xã hội
phát triển ấy giáo dục và đào tạo là vấn đề được quan tâm hơn bao giờ hết bởi
đó là vấn đề then chốt trong việc phát triển đất nước. ''Hiền tài là nguyên khí
của quốc gia'' và giáo dục đào tạo góp phần to lớn bồi dưỡng hiền tài cho đất
nước. Để đạt được hiệu quả cao nhất, đổi mới phương pháp dạy học luôn là
vấn đề được đặt ra hàng đầu. Ngay từ những năm đầu của Thế kỉ XXI ''Đổi
mới phương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự học của
học sinh'' là vấn đề được đặt ra cấp thiết. Cũng giống như các môn học khác,
đổi mới phương pháp dạy học văn cũng là một vấn đề nóng bỏng.Đáp ứng
yêu cầu đó, việc giảng dạy tác phẩm văn chương theo đặc trưng loại thể mấy
năm gần đây đã được quan tâm nghiên cứu và có thể nói là một phương pháp
dạy học hiệu quả đáp ứng yêu cầu đổi mới.
Trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam nói chung và thơ ca
nói riêng, có thể nói Thơ mới đóng góp góp những thành tựu vô cùng to lớn
và có giá trị. Nó đã tạo nên ''cả một thời đại trong thi ca'' với những tác giả và
tác phẩm tiêu biểu, đặc sắc. Với hơn 1001 sắc điệu thẩm mĩ khác nhau Thơ
mới đã để lại cho văn học dân tộc những tên tuổi ấn tượng mà'' mỗi nhà thơ là
một ngôi sao băng qua bầu trời để lại một vệt sáng không lặp lại''. Thơ mới
thực sự đã thổi một sức sống mới vào thơ ca Việt Nam, đó là sức sống tươi trẻ
1
non tơ đầy quyến rũ. Trải qua thời gian cùng những bước thăng trầm của lịch
G.S Trần Thanh Đạm đã khẳng định có ba loại: Trữ tình, tự sự, kịch.
Trong giáo trính ''Lí luận văn học'' (NXB GD) phân chia làm năm loại:
Tự sự, kịch, trữ tình, chính luận, bút kí.
2.2.Vấn đề Thơ mới
Sau lúc ''Thi nhân Việt Nam'' của Hoài Thanh và Hoài Chân ra đời
năm 1941 thì hàng loạt công trình có khuynh hướng bao quát toàn bộ phong
trào đã xuất hiện:
- ''Phong trào Thơ mới 1932-1945'' của Phan Cự Đệ.
- '' Thơ mới những bước thăng trầm'' của Lê Đình Kỵ.
- ''Một thời đại trong thi ca'' của Hà Minh Đức.
- ''Con mắt thơ'' của Đỗ Lai Thuý.
- ''Thơ lãng mạn Việt Nam'' của Lê Bảo.
- ''Tinh hoa Thơ mới'' của Chu Văn Sơn.
- ''Thơ mới-Bình minh thơ Việt'' của Nguyễn Quốc Tuý.
2.3.Vấn đề đọc hiểu
Đây là vấn đề được quan tâm bởi đông đảo các nhà nghiên cứu.Tập
trung trong một số công trình:
-''Tiếp cận văn học'' của Nguyễn Trọng Hoàn.
-''Đọc văn hiểu văn'' của Trần Đình Sử.
-''Hiểu văn,dạy văn'' của Nguyễn Thanh Hùng.
2.4.Vấn đề đọc hiểu tác phẩm trữ tình.
Được nghiên cứu tập trung trong các công trình sau:
- ''Thi pháp học và vấn đề giảng dạy văn học trong nhà trường'' của
Nguyễn Thị Dư Khánh.
- ''Hiểu văn dạy văn'' của Nguyễn Thanh Hùng.
3
-''Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể'' của Trần Thanh
4. Đối tượng nghiên cứu.
5. Phương pháp nghiên cứu.
6. Cấu tạo của đề tài
B. Phần nội dung.
- Chương 1: Những vấn đề chung.
- Chương 2: Đọc hiểu Thơ mới
- Chương 3: Giáo án thực nghiệm.
C. Phần kết luận
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.Cơ sở lí luận.
1.1.Vấn đề thể loại.
1.1.1.Thể loại (Loại thể)
5
Khái niệm thể loại cũng như mọi khái niệm khác trong lí luận văn học,
đó là kết quả cuả sự trừu tượng hoá, khái quát hoá thực tế cụ thể, sinh động
của sáng tác văn học.
Thể loại là một khái niệm kép có quan hệ bao chứa.Bao gồm các khái
niệm:
Loại (Loại hình): Từ cổ đại Aristot đã đề xuất khái niệm này. Loại là
phương thức người nghệ sĩ sử dụng để nhận thức, khám phá đời sống khách
quan để tái hiện đời sống và sáng tạo ra hình tượng nghệ thuật. Thông qua
hình tượng nghệ thuật ấy để biểu hiện tư tưởng, tình cảm. Bao gồm ba loại
hình tiêu biểu cho ba phương thức sáng tác:
- Loại hình tự sự với phương thức tự sự.
- Loại trữ tình với phương thự trữ tình.
đơn thuần dựa vào một số biểu hiện về hình thức bên ngoài. Kiến trúc của tác
phẩm, cấu tạo hình tượng như thế nào là do phương thức phản ánh và biểu
hiện đó quy định. Nếu hình tượng thiên về mặt biểu hiện tư tưởng tình cảm
của tác giả ta sẽ có tác phẩm trữ tình, nếu hình tượng thiên về mặt biểu hiện
con người,sự việc trong cuộc sống ta sẽ có tác phẩm tự sự. Tác phẩm tự sự tập
trung, cô đọng đến mức độ bản thân nhân vật, sự việc, câu chuyện có thể tự
mình bộc lộ trên trang sách hoặc trên sân khấu, không cần sự ''dẫn chuyện''
của tác giả, như thế ta sẽ có tác phẩm kịch.Trữ tình, tự sự và kịch là ba
phương thức cơ bản nhất của sự phản ánh hiện thực cuộc sống và biểu hiện
nội tâm tác giả, ba phương thức cơ bản của sự cấu tạo hình tượng, kiến trúc
tác phẩm văn học. Đồng thời đó cũng là ba loại cơ bản nhất trong lòng mỗi
loại và trên biên giới của mỗi loại sẽ nảy sinh rất nhiều các thể khác nhau của
sự sáng tác văn học.
Từ ba thể loại trên có thể chia nhỏ:
-Tự sự: +Tự sự dân gian: Thần thoại,truyền thuyết,cổ
tích,ngụ ngôn,truyện cười.
7
+Tự sự trung đại và hiện đại:Truyền kì,tiểu
thuyết,truyện,kí.
-Trữ tình:
+Trữ tình dân gian: Ca dao, câu đố
+Trữ tình trung đại và hiện đại: Thơ cổ thể truyền
thống,thơ tự do.
-Kịch:
tạo tác phẩm văn học là truyền đạt những cảm nhận khái quát về cuộc đời cho
người đọc. Chỉ khi được bạn dọc tiếp nhận quá trình sáng tạo mới hoàn tất.
Thực chất của quá trình này là chuyển cảm xúc đến bạn đọc cộng hưởng cảm
xúc đó.
Tiếp nhận văn học được hình thành từ Mĩ học tiếp nhận - một trong
những thành tựu của ngành xã hội học nghệ thuật với các nhà khoa học Tiệp
Khắc như Đônxen và Micô đã nghiên cứu khái niệm ''lí thuyết ngôn ngữ và
hoàn cảnh giao tiếp văn học''. Các nhà nghiên cứu văn học Ba Lan Ingácđen
đã tìm hiểu''những khả năng khác nhau để lĩnh hội, lí giải tính chân thật của
tác phẩm văn học'' hoặc Glôvinxki, Hanđơke, Slavinxki, Bansêđan...Trong số
các công trình nghiên cứu đó công trình ''Người tiếp nhận trong cấu trúc tác
phẩm văn học'' Glôvinxki đã nghiên cứu phương thức xác định người nhận tin
trong tác phẩm văn học và những yêu cầu của người nhận tin đã ảnh hưởng
đến tác phẩm. Tư tưởng khoa học của Glôvinxki được đánh giá là điểm xuất
phát của những công trình khoa học sau này tiếp tục nghiên cứu sự phân loại
độc giả và phân tích những những điều kiện mà giao tiếp văn học xảy ra.
Theo ''Từ điển thuật ngữ văn học'': Tiếp nhận văn học là hoạt động
chiếm lĩnh giá trị tư tưởng, thẩm mĩ của các tác phẩm văn học, bắt đầu từ sự
cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, cảm hứng, quan
niệm nghệ thuật tài nghệ của tác giả cho đến sản phẩm sau khi đọc: cách hiểu,
ấn tượng trong trí nhớ, ảnh hưởng của hoạt động sáng tạo, bản dịch, chuyển
thể...
Theo Nguyễn Thanh Hùng đó là ''quá trình đem lại cho con người sự
hưởng thụ và hứng thú trí tuệ hướng vào hoạt động để củng cố, phát triển một
9
cách phong phú những khả năng thuộc về thế giới tinh thần và năng lực cảm
xúc của con người trước đời sống''.
Tác phẩm văn chương là đứa con tinh thần của nhà văn, nó là sản phẩm
của biết bao băn khoăn trăn trở. Đó là một quá trình dài có thể khái quát bằng
sơ đồ: Hình thành ý đồ - thu thập tư liệu - lập sơ đồ, hồ sơ - viết - sửa chữa.
Muốn cho ra đời một tác phẩm nghệ thuật thực thụ nhà văn phải quan sát. Sự
quan sát đó phải diễn ra song song trên hai bình diện đó là đối tượng thẩm mĩ
trong hiện thực khách quan nảy sinh trong thời đại mình đồng thời quan sát
nhu cầu thị hiếu thẩm mĩ của bạn đọc. Hoạt động đó vừa giúp nhà văn tìm
được đối tượng viết tác phẩm lại vừa cho ra đời những tác phẩm đáp ứng thị
hiếu của độc giả.
Qúa trình sáng tác của nhà văn là quá trình quan sát, nghiền ngẫm hiện
thực khách quan rồi phản ánh trong tác phẩm bằng những hình tượng nghệ
thuật đặc sắc. Hay như Bandắc đã nói ''Văn học là tấm gương phản ánh đời
sống '' và nhà văn phải là ''người thư kí trung thành của mọi thời đại''. Nhưng
cũng cần phải nhận thức thật thấu đáo rằng hiện thực trong tác phẩm văn học
không phải bao giờ cũng trùng khít với hiện thực ngoài đời vì văn học là hình
bóng của cuộc đời chứ không phải bản thân cuộc sống. Bởi cuộc sống trong
tác phẩm văn chương là cuộc sống đã được chắt lọc qua lăng kính chủ quan
của người nghệ sĩ, đã được nhào nặn và sáng tạo lại. Nó vừa giống lại vừa
khác với cuộc đời thực. Hơn thế nữa,văn học cũng không chỉ là sự phản ánh
giản đơn của cấu trúc xã hội mà ở đó vai trò của nhà văn cùng cá tính sáng tạo
rất quan trọng. Nói như Nguyễn Trọng Hoàn đó là một quá trình tư duy ngôn
ngữ thầm lặng, là cả một quá trình gian khổ tìm tòi ý tưởng, thổi hồn vào từng
câu chữ ví như người lọc quăng Radium đầy khổ luyện và công phu thông
qua khả năng cảm thụ đời sống, sự hồi tưởng, óc tưởng tượng phong phú.
`1.2.3. Cơ chế của hoạt động tiếp nhận.
11
Hoạt động sáng tạo của nhà văn là một quá trình vì vậy hoạt động tiếp
tạo ra tác phẩm cho riêng mình tuỳ thuộc vào lứa tuổi,tâm lý,thời đại.Cắt
nghĩa chính là cơ sở để đánh giá mức độ hiểu tác phẩm.
d. Bình giá.
Đây là hoat động cuối cùng trong việc tiếp nhận tác phẩm. Bình là hoạt
động mang tính chủ quan, người đọc đua ra ý kiến bàn bạc, đánh giá nhận xét
của mình, bàn luận thêm về tác phẩm. Bình thường chứa đựng cảm xúc, hình
ảnh tạo sự rung động, đồng cảm cho người nghe.Việc bình giá phải đảm bảo
đưa được ra những ý kiến đóng góp về tác phẩm, đặc sắc,hạn chế và vị trí của
tác phẩm trong tiến trình văn học.
1.2.4. Những khó khăn khi tiếp nhận.
Tác phẩm văn học tồn tại dưới dạng văn bản, đó là tập hợp các kí hiệu
ngôn ngữ. Việc tiếp nhận các tác phẩm văn học trước hết là tiếp xúc với tập
hợp ngôn ngữ đó. Chính vì vậy việc tiếp nhân, cảm thụ tác phẩm văn học gặp
không ít khó khăn mà người ta gọi là khoảng cách chuyên chế.Bao gồm các
khoảng cách:
- Khoảng cách về ngôn ngữ: Trong tác phẩm văn học dù là lời kể
chuyện hay cuả nhân vật thì đó đều là ngôn ngữ của tác giả. Giữa ngôn ngữ
tác giả và độc giả không bao giờ trùng khớp, đó là khoảmg cách bạn đọc phải
phá bỏ để đến với tác phẩm.
-Khoảng cách tâm lí: Phụ thuộc vào tâm lí của tác giả, tâm lí của người
tiếp nhận,và tâm lí thời đại. Tác phẩm thuộc thời đại nào sẽ phải phụ thuộc
vào tâm lí thời đại đó, đồng thời còn phụ thuộc vào thời đại mà bạn đọc đang
sống.
-Khoảng cách lịch sử: Đó là cuộc sống được phản ánh trong tác phẩm,
lịch sử ra đời tác phẩm. Đó là khoảng cách thời đại mà tác phẩm ra đời.
13
Việc tiếp nhận tác phẩm văn học đạt ra nhiều khó khăn và việc tiếp
- Đọc là quá trình giao tiếp và đối thoại với người tạo ra văn bản (tác
giả,xã hội,văn hoá).
- Đọc là quá trình tiêu dùng văn hoá văn bản (hưởng thụ, giải trí, học
tập).
- Đọc là quá trình tạo ra các năng lực người (năng lực hiểu mình, hiểu
văn hoá và hiểu thế giới).
Theo ''Từ điển tiếng Việt 2005'' (Hoàng Phê chủ biên) đọc có những ý
nghĩa sau:
- Phát ra thành lời những điều đã được viết ra theo đúng trình tự.
-Tiếp nhận nội dung của một tập hợp kí hiệu bằng cách nhìn vào tập
hợp kí hiệu đó.
- Hiểu thấu bằng cách nhìn vào biểu hiện bề ngoài.
Như vậy đọc là một hoạt động văn hoá có tầm nhân loại và có ý nghĩa
giáo dục sâu sắc. Đọc gắn liền với hiểu.
Hiểu là một khái niệm có nội hàm rất rộng. Theo ''Từ điển tiếng Việt
2005'' (Hoàng Phê chủ biên) hiểu có các nghĩa sau:
- Nhận ra bản chất, lí lẽ của cái gì bằng cách vận dụng trí tuệ.
- Biết được ý nghĩ, quan điểm của người khác.
Vậy hiểu là mục đích hướng tới mục đích trực tiếp của đọc.
Theo Bakhtin trong ''Con người trong thế giới ngôn từ'' hiểu trong đọc
hiểu bao gôm nhiều hành động gắn với nhau: 1.Cảm thụ (tiếp nhận) kí hiệu
vật chất (màu sắc, con chữ...); 2. Nhận ra kí hiệu quen hay lạ, hiểu kí hiệu của
nó được lặp lại trong ngôn ngữ; 3. Hiểu ý nghĩa của nó trong ngữ cảnh; 4. Đối
thoại với ý nghĩa đó (tán thành, phản đối) trong nhận thức bao gồm cả đánh
giá về chiều sâu và chiều rộng. Bản chất tâm lí của sự hiểu là biến cái của
người khác thành cái '' vừa của mình vừa của người khác''.
15
nước quan tâm nghiên cứu và đạt được những thành tựu to lớn. Vấn đề đặt ra
ở đây là làm sao chúng ta có thể vận dụng những thành tựu đó đề đưa ra một
phương pháp day học hiệu quả trong nhà trường THPT đó là phương pháp
đọc hiểu.
Chương 2: Đọc hiểu thơ mới
1. Thơ trữ tình:
17
1.1. Quan niệm về thể loại trữ tình:
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về thể loại trữ tình:
-Người đầu tiên đề cập đến thuật ngữ này có thể kể đến là Aristôt Theo Aristôt trữ tình là phương thức mô phỏng hiện thực “Cái mà người ta
mô phỏng vẫn là cái mà nhân thân anh ta không thay đổi bộ mặt của mình”
-Theo Biêlinxki trong bài báo “Sự phân chia thơ ra loại và kiểu” đã
khẳng định: “loại trữ tình gồm các tác phẩm thông qua sự bộc lộ tình cảm của
tác giả mà phản ánh hiện thực. Tác giả trực tiếp bộc lộ những tình cảm yêu
ghét của mình trước cuộc sống”
-Theo “Từ điển văn học”: Trữ tình là một trong ba phương thức thể
hiện (bên cạnh tự sự và kịch) làm cơ sở cho một loại tác phẩm văn học. Nếu
tự sự thể hiện tư tưởng tình cảm của tác giả bằng con đường tái hiện lại một
cách khách quan các hiện tượng đời sống, thì trữ tình lại phản ánh đời sống
bằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức con người nghĩa là con người tự thấy mình
qua những ấn tượng, ý nghĩ, cảm xúc chủ quan của mình đối với thế giới và
nhân sinh.
-Theo “Từ điển Hán - Việt”:Trữ tình là bày tỏ tình cảm.Như vậy tác
phẩm trữ tình là tác phẩm bày tỏ tình cảm.
1.2.Quan niệm về Thơ.
Thơ đối với mỗi chúng ta đã trở nên rất quen thuộc. Có những người cả
thơ.
1.3.Thơ Mới
Thơ mới được coi là giai đoạn phát triển đầu tiên của thơ trữ tình hiện
đại Việt Nam.
-Thơ trữ tình theo tiếng Hi lạp là Liricor có nghĩa là hát dưới đàn. Ngày
nay nó được dùng làm thuật ngữ chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình
19
trong đó thể hiện một cách trực tiếp những cảm xúc, suy tư của nhà thơ hoặc
nhân vật trữ tình
- Khái niệm hiện đại dùng để chỉ quá trình hiện đại hóa văn học Việt
Nam kéo dại từ 1932 đến nay.
- Thơ mới là một danh từ riêng để chỉ một phong trào thơ ca phát triển
mạnh mẽ từ 1932 đến 1945. Những người đã đặt tên cho Thơ mới đó là Phan
Khôi và Thế Lữ. Dùng thuật ngữ thơ mới để đối lập với thơ cũ.
Về hình thức: Ban đầu Thơ mới là thơ tự do đối lập với thơ cũ về niêm,
luật,vần, đối.Lời thơ thể hiện rõ tính chất văn xuôi(dùng câu kể có liên từ, câu
thơ dài từ 8 đến 10 từ).
Về nội dung: Sau khi đổi mới về hình thức Thơ mới đổi mới về linh
hồn, cảm xúc, quan niệm thẩm mĩ. Đó là cái nhìn trẻ trung, ngạc nhiên của cái
tôi cá nhân nhận thức trước thế giới.
Về sau, thơ tự do dần ít đi thay vào đó là các thể thơ truyền thống, đặc
biệt là thơ lục bát.Vì vậy không thể hiểu Thơ mới là thơ tự do mà đó chỉ là
một phần Thơ mới.
Có thể nói, Thơ mới là một cuộc cách mạng lớn lao trong thơ ca dân
tộc song khong tách rời khỏi mạch nguồn truyền thống mà bên cạnh tiếp thu
những làn gió từ phương Tây thổi tới nó đã tiếp thu và kế thừa tinh hoa của
truyền thống dân tộc trong đó có thơ ca dân gian và trung đại để chứng tỏ sức
Tác phẩm trữ tình chú tâm vào biệu hiện trực tiếp thế giới chủ quan
của con người nhưng không có nghĩa là các tác phẩm trữ tình không phản ánh
thế giới khách quan. Bởi mọi cảm xúc tâm trạng của con người đều là cảm
xúc về cái gì, tâm trạng trước hiện thực nào, suy nghĩ về vấn đề gì. Chính vì
vậy mà các sự kiện đời sống được thể hiện một cách gián tiếp. Cũng có khi
tác phẩm trữ tình tả trực tiếp bức tranh phong cảnh đã gây xúc động cho nhà
thơ:
'' Bước tới đèo Ngang bóng xế tà
21
Cỏ cây chen lá, đá chen hoa ''.
( Qua đèo Ngang, Bà Huyện Thanh Quan)
Cũng có những tác phẩm trữ tình thuật lại ít nhiều sự kiện tương đối
liên tục nào đó. Như trong “Mưa xuân” của Nguyễn Bính, “Quê hương” của
Giang Nam hay “Núi đôi” của Vũ Cao. Song sự tái hiện đó không mang mục
đích tự thân mà tạo điều kiện, hay chính là cớ để chủ thể bộc lộ những cảm
xúc, chiêm nghiệm, suy tưởng của mình. Chúng giúp cho việc thổ lộ tình cảm
của chủ thể trữ tình được dễ dàng, gợi cảm và dễ hiểu. Ở đây nguyên tắc chủ
quan là nguyên tắc cơ bản trong việc chiếm lĩnh hiện thực.
Như vậy, biểu hiện trực tiếp những cảm xúc, suy tưởng của con người
là cách phản ánh thế giới của tác phẩm trữ tình.
Mặc dù trong tác phẩm trữ tình, việc miêu tả hiện thực khách quan
trong đời sống chỉ như một cái cớ. Song chúng ta cũng không thể xem nhẹ
việc tái hiện các sự việc cho rằng đó là không quan trọng. Trái lại, những chi
tiết chân thực sống động được phát hiện từ cuộc đời thực chính là nơi khơi
gợi những tình cảm thực, sâu sắc, mới mẻ. Điều này đã được thể hiện rất rõ
qua các bài thơ như: “Sông Lấp” của Tú Xương, “Nhớ” của Hồng Nguyên,
“Việt Bắc” của Tố Hữu, hay “Gửi em, cô thanh niên xung phong” của Phạm
“ Đừng viết về chúng tôi như cốc chén trên bàn
Xin hay viết như dòng sông chảy xiết
Và chúng tôi với chiếc bi đông bẹp dúm kia là một
Cả những hòn đá kề nồi cũng có bao điểu ấm lạnh liên quan”
(Đường tới thành phố, Hữu Thỉnh)
Nhà thơ đã nhân danh thế hệ mình mà bộc bạch tâm sự. Đó không chỉ
là cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng của cá nhân nhà thơ mà đó là những suy nghĩ
của cả một thế hệ, đó là những thanh niên thuộc thế hệ thơ trẻ chống Mĩ,
những nhà thơ đang trực tiếp cầm súng, thật sự xông vào nơi mưa bom bão
đạn, từng giờ từng phút đối mặt với cái chết để nói về chiến tranh, để tự nói
23
về mình và đồng đội của mình qua đó có thể thấy được gương mặt tinh thần
chung của cả thế hệ trẻ cầm sung thời kí chống mỹ
“ Việt Nam, ôi Tổ quốc thương yêu
Trong đau khổ người đẹp hơn nhiều
Như bà mẹ sớm chiều gánh nặng
Nhẫn nại nuôi con,suốt đời im lặng”
(Chào xuân 67,Tố Hữu)
Còn đây lại là những vần thơ thể hiện suy nghĩ, cảm xúc mang tầm vóc
sử thi. Nhà thơ có tâm thế trữ tình cao rộng với tư cách là phát ngôn cho cả
dân tộc, đất nước, nhân dân.Như văn hào M.Goocki đã nói: “Nghệ sĩ là cơ
quan cảm thụ của đất nước của mình, là tai mắt, là trái tim giai cấp, nghệ sĩ là
tiếng nói của thời đại”
Như vậy chúng ta có thể tháy nội dung trữ tình đã thể hiện rõ tình cảm,
ý nghĩ,cảm xúc của nhà văn qua đó bộc lộ tư tưởng của tác phẩm.
2.2. Nhân vật trữ tình
Nhân vật trong tác phẩm văn học là hình tượng nghệ thuật do người
(Người con gái Việt Nam, Tố hữu)
Những câu thơ tập trung thể hiện nhân vật “em” đó là chị Trần Thị Lý người con gái Việt Nam anh hùng. Song đó chỉ là nhân vật trong thơ trữ tình,
là nguyên nhân khơi gợi niềm cảm xúc và suy nghĩ, tâm trạng. Liên kết chuỗi
tình cảm đó ta hình dung ra nhân vật trữ tình đó chính là hiện thân của tác giả.
Những cảm xúc, tâm trạng, tình cảm của nhà thơ bao giờ cũng gắn với tình
cảm chung, có ý nghĩa khái quát. Do vậy hình tượng nhân vật trữ tình cũng
mang lại tính khái quát. Thi sĩ đã tự nâng mình thành người mang tâm trạng,
cảm xúc, ý nghĩ cho một loại người, một thế hệ người. Chính vì vậy mà
chúng ta thường bắt gặp những đại từ nhân xưng: ”ta” , ”chúng ta” , ”lũ chúng
ta”...
“Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp
25