TIỂU LUẬN THỰC TIỄN vận HÀNH mối QUAN hệ GIỮA NHÀ nước PHÁP QUYỀN với KINH tế THỊ TRƯỜNG và xã hội dân sự ở VIỆT NAM - Pdf 56

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA LUẬT

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ
NƯỚC PHÁP QUYỀN
THỰC TIỄN VẬN HÀNH MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ
NƯỚC PHÁP QUYỀN VỚI KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
VÀ XÃ HỘI DÂN SỰ Ở VIỆT NAM


GVHD: Lưu Đức Quang

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2019


MỤC LỤC

BÀI TẬP 1: THỰC TIỄN VẬN HÀNH MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VỚI
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI DÂN SỰ Ở VIỆT NAM..........................................................1
LỜI MỞ ĐẦU............................................................................................................................................1
CHƯƠNG 1. THỰC TIỄN VẬN HÀNH MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.........................................................................................................................3
1.1.

NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN.....................................................................................................3

1.1.1.

Khái niệm............................................................................................................................3

1.1.2.

XÃ HỘI DÂN SỰ.................................................................................................................................... 34
2.1.

KHÁI QUÁT XÃ HỘI DÂN SỰ............................................................................................. 34

2.1.1

Khái niệm xã hội dân sự................................................................................................... 34

2.1.2

Đặc trưng cơ bản của xã hội dân sự................................................................................. 36

2.1.3

Các loại tổ chức xã hội dân sự.......................................................................................... 39

2.2.

PHẠM VI TƯƠNG TÁC CỦA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ XÃ HỘI DÂN SỰ.........41

2.3.

THỰC TIỄN VẬN HÀNH XÃ HỘI DÂN SỰ TẠI VIỆT NAM...........................................45

LỜI KẾT.................................................................................................................................................. 55


THỰC TIỄN VẬN HÀNH MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ
NƯỚC PHÁP QUYỀN VỚI KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

cũng như các nhà khoa học Việt Nam cần phải tập trung giải quyết.

Page | 1


Vì vậy, nhóm chúng em nhận đề tài “Thực tiễn vận hành mối quan hệ giữa nhà
nước pháp quyền với kinh tế thị trường và xã hội dân sự” làm đề tài nghiên cứu cho
chuyên đề tốt nghiệp của mình với mong muốn được đóng góp một phần nhỏ bé và
khiêm tốn của bản thân vào giải quyết những vấn đề trên của đất nước.

Page | 2


CHƯƠNG 1. THỰC TIỄN VẬN HÀNH MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC PHÁP
QUYỀN VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1.

NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

1.1.1. Khái niệm
Nhà nước pháp quyền không phải là vấn đề hoàn toàn mới lạ, mà là một phạm trù
có nguồn gốc lịch sử tư tưởng từ xa xưa. Sự ra đời và phát triển của tư tưởng “Nhà nước
pháp quyền” gắn liền với sự ra đời và phát triển của dân chủ, của tư tưởng loại trừ sự
chuyên quyền, độc đoán, vô chính phủ, vô pháp luật. Nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải
có sự thống nhất giữa tính tối cao của pháp luật với hình thức pháp lý của tổ chức, thực
hiện quyền lực Nhà nước. Đó là hai yếu tố không thể thiếu được khi nói đến Nhà nước
pháp quyền nói chung. Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền xuất hiện rất sớm trong lịch sử
tư tưởng nhân loại, ngay từ khi xuất hiện nhà nước cổ đại và được tiếp tục phát triển, nhất
là trong thời kỳ cách mạng tư sản. Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền phản ánh khát vọng
của nhân dân về một Nhà nước bảo đảm tự do, dân chủ, nhân quyền, đối lập với sự độc

như hoạt động của bản thân bộ máy nhà nước.
Xây dựng Nhà nước hoạt động trên cơ sở pháp luật, thực hiện quản lý xã hội theo
pháp luật, giữ vững kỷ cương Nhà nước và trật tự xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng,
bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng.
Xây dựng một Nhà nước có đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, toàn tâm, toàn
ý phục vụ nhân dân, có trách nhiệm với dân, đồng thời có bản lĩnh chính trị, năng lực
quản lý, loại trừ được bệnh quan liêu, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi, vi phạm quyền
làm chủ của nhân dân.
Bảo đảm giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.

1 Thái Xuân Sang, Tác động của kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế đến tổ chức
thực hiện quyền lực nhà nước Việt Nam hiện nay,
Page | 4


Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân phải trở thành định hướng, yêu cầu bao trùm toàn bộ tổ chức hoạt động của Nhà
nước, đồng thời là trách nhiệm của Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của
Mặt trận và mọi công dân1.
1.2.

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Lịch sử phát triển của xã hội loài người có các kiểu tổ chức nền kinh tế là: Nền

kinh tế tập quán truyền thống; nền kinh tế chỉ huy; nền kinh tế thị trường và Nền kinh tế
hỗn hợp (kinh tế thị trường hiện đại). Như vậy kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức nền
kinh tế. Kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, ở đó thị trường
quyết định về sản xuất và phân phối. Trong nền kinh tế thị trường người sản xuất và
người tiêu dùng tác động lẫn nhau qua thị trường để xác định những vấn đề cơ bản của tổ
chức kinh tế như sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Đồng thời thị

triển và đang phát triển lại cần vốn, cần công nghệ, cần kỹ năng quản lý và thị trường. Có
thể nói, trong thời đại ngày nay không quốc gia nào có thể đứng một mình, tự cô lập với
thế giới bên ngoài mà phát triển được. Tính phụ thuộc lẫn nhau của nền kinh tế thị trường
khiến các quốc gia, dù muốn hay không, buộc phải xích lại gần nhau, hợp tác với nhau để
giải quyết những vấn đề mang tính toàn cầu1.
1.3.

MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG
Thứ nhất, thị trường đóng vai trò quyết định số lượng và chất lượng sản phẩm. Thị

trường cho phép nắm bắt được mức cầu và qua đó quyết định mức cung (về lượng và về
chất). Thực tế này diễn ra vì kinh tế thị trường căn cứ trên nguyên tắc phi tập trung hóa.
Tuy nhiên, kinh tế thị trường không mang lại những giải pháp lý tưởng và Nhà nước đóng
vai trò quan trọng trong việc khắc phục những vấn đề mà bản thân cơ chế thị trường
không thể giải quyết triệt để. Ngoài ra, cơ chế thị trường cũng không tránh khỏi sức ép từ
các vấn đề về chính sách công trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay như: lạm phát, thất
nghiệp, ô nhiễm, nghèo đói và các hàng rào thương mại quốc tế khác.
1 Thái Xuân Sang, Tác động của kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế đến tổ chức
thực hiện quyền lực nhà nước Việt Nam hiện nay,
Page | 6


Thứ hai, sản xuất, kinh doanh trong kinh tế thị trường có nhiệm vụ đạt đầu ra tối
đa từ các yếu tố đầu vào mà các nhà sản xuất, kinh doanh sử dụng. Tức, nó giải quyết vấn
đề quan trọng nhất mà mọi cơ chế kinh tế phải đối mặt: làm thế nào để một xã hội có thể
sản xuất hàng hóa và dịch vụ một cách có hiệu quả nhất? Nghiên cứu nhu cầu của người
tiêu dùng, nhà sản xuất xác định giá bán hay đổi mới công nghệ sản xuất nhằm thu lợi
nhuận tối đa và giành thắng lợi trong cạnh tranh với các nhà sản xuất, kinh doanh khác.
Tất nhiên, nhà sản xuất, kinh doanh không thể lường trước mọi biến đổi trên thị

động trở thành thành viên hữu ích và có học vấn cao hơn trong cộng đồng. Người lao
động có những kỹ năng mới và qua đó có thể xây dựng được một doanh nghiệp mới để
tạo cơ hội và việc làm cho người khác. Như vậy, học vấn của công dân nêu trên sẽ làm lợi
cho những người khác, hay nói cách khác, giáo dục đem lại lợi ích ngoại sinh cho một
quốc gia do những công nhân có học vấn thường linh hoạt và có năng suất lao động cao
hơn, ít có khả năng thất nghiệp hơn. Điều này có nghĩa là chi tiêu nhiều hơn cho giáo dục
có thể dẫn đến những khoản tiết kiệm của xã hội và cá nhân không phải chi tiêu vào việc
phòng chống tội phạm, nghèo đói và các vấn đề xã hội khác, cũng như nâng cao trình độ
kỹ năng, tính linh hoạt và năng suất của lực lượng lao động. Do vậy, nhà nước cần sử
dụng pháp luật để quy định trợ cấp hoặc khuyến khích các lĩnh vực hoạt động nhằm
mang lại lợi ích ngoại sinh. Đó, trước hết là giáo dục công lập nhằm tận dụng tối đa
nguồn lực trí tuệ, nhân tài của đất nước.
Thứ năm, phát triển xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường trực tiếp liên quan
đến phương diện pháp lý. Mặc dù kinh tế thị trường không phải là “giấy phép” cho bóc
lột hay trộm cướp, song ở đây rõ ràng có những lạm dụng. Do vậy, nhà nước cần phải tạo
ra khuôn khổ pháp lý cho hoạt động thị trường nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp của các
bên tham gia quan hệ thị trường, lành mạnh hóa kinh tế và xã hội, qua đó kích thích mọi
người tích cực tham gia sản xuất, kinh doanh với tâm trạng vững vàng và qua đó đem lại
hiệu quả tối đa. Cạnh tranh hợp pháp là đòn bẩy của phát triển kinh tế và các hình thức
sáng tạo khác. Chính nhà nước pháp quyền cần đảm bảo cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp
trong xã hội.

Page | 8


Thứ sáu, kinh tế thị trường tất yếu dẫn đến phân hóa xã hội. Do vậy, để xã hội phát
triển bền vững, ổn định, nhà nước chắc chắn phải sử dụng pháp luật để can thiệp bằng các
chương trình tái phân phối thu nhập, phương tiện hữu hiệu và phổ biến ở đây là các chính
sách thuế để phân phối thu nhập sau thuế trở nên công bằng hơn. Tất nhiên, việc tái phân
phối thu nhập thông qua thuế có thể làm suy giảm động cơ của một nhóm người có thu

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn khẳng định, nền kinh tế thị trường mà chúng
ta xây dựng phải có sự quản lý của Nhà nước. Vai trò của Nhà nước đối với kinh tế thị
trường không chỉ xuất phát từ yêu cầu phổ biến của quá trình phát triển kinh tế thị trường,
mà còn xuất phát từ tính đặc thù của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Vì vậy, Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991)
của Đảng đã xác định: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước” 1 là
một trong bảy phương hướng cơ bản trong quá trình thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược:
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, kiên quyết “xóa bỏ triệt để cơ chế quản lý tập
trung quan liêu, bao cấp, hình thành cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng
pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác. Xây dựng và phát triển đồng bộ các
thị trường….”2 trên cơ sở nguyên tắc: “Nhà nước quản lý điều hành nền kinh tế bằng
pháp luật, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ điều tiết trên cơ sở tôn trọng các quy luật
thị trường. Tăng cường công tác giám sát, nhất là giám sát thị trường tài chính, chủ động
điều tiết, giảm các tác động tiêu cực của thị trường, không phó mặc cho thị trường hoặc
can thiệp làm lệch lạc các quan hệ thị trường”3.
Thị trường, kinh tế thị trường là một kiểu quan hệ giữa người với người trong sản
xuất, trao đổi và tiêu dùng, nên mang đậm dấu ấn của quan hệ xã hội, của thể chế chính
trị mà nền kinh tế đó tồn tại. Sự phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay có sự
định hướng xã hội chủ nghĩa mà nhân tố sâu xa nhằm bảo đảm định hướng chính trị đối
với kinh tế là đường lối, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng Cộng sản cầm quyền.
Song, để đường lối, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng biến thành hiện thực vận động
của nền kinh tế, chúng phải được thể chế hóa thành hệ thống pháp luật, chương trình, kế
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb ST, H.
1991, tr. 9-10
2Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Sđd, tr.12
3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.141
Page | 10




kết ngày càng tốt hơn với thị trường thế giới. Các loại hình doanh nghiệp dựa trên các
hình thức sở hữu khác nhau (một điều kiện cơ bản để kinh tế thị trường tồn tại) đều được
khuyến khích phát triển; trong đó, “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật
chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, góp phần ổn định kinh
tế vĩ mô”1. Quản lý nhà nước về kinh tế đã chuyển đổi căn bản sang phương thức quản lý
chủ yếu bằng luật pháp, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các
nguồn lực kinh tế; nhằm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, tạo lập và phát triển đầy đủ,
đồng bộ các yếu tố của nền kinh tế thị trường. Những thay đổi quan trọng này đã đảm bảo
cho nền kinh tế nước ta hội đủ các điều kiện để trở thành thành viên thứ 150 của WTO và
đến nay, đã có gần 30 nước công nhận nước ta có nền kinh tế thị trường đầy đủ.
Thực tiễn phát triển nền kinh tế thị trường sau 30 năm đổi mới cho thấy, Đảng ta
đã giải quyết tốt mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường. Tuy nhiên, đây là vấn đề mới
và phức tạp, thị trường nhiều hay ít, nhà nước ít hay nhiều để nền kinh tế vận hành tốt,
phát huy những lợi thế vốn có? Vì vậy hiện nay, việc giải quyết mối quan hệ giữa nhà
nước và thị trường chưa rõ ràng, còn rất nhiều mâu thuẫn, bất cập.
Một là, trong thực tiễn đổi mới, Nhà nước Việt Nam đã sử dụng các hệ thống công
cụ chủ yếu để quản lý nền kinh tế thị trường như: Hệ thống pháp luật nhằm tạo ra “luật
chơi” cho các chủ thể tham gia vào các quan hệ kinh tế; Công tác kế hoạch và quy hoạch,
nhằm hoạch định các mục tiêu và xác lập các phương tiện để đạt các mục tiêu đề ra; Các
chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô, đặc biệt chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ; Sử
dụng lực lượng vật chất của Nhà nước để bổ khuyết thị trường (trong đó quan trọng nhất
là các loại dự trữ quốc gia); Cung cấp dịch vụ và hàng hoá công cộng; hành chính công;
sử dụng các công cụ hỗ trợ như thông tin, xúc tiến thương mại, cung cấp các dịch vụ sản
xuất… Tuy nhiên, các hệ thống công cụ quản lý, điều tiết của Nhà nước nêu trên đều
chưa đáp ứng yêu cầu. Chẳng hạn, hệ thống pháp luật của nước ta trong quản lý kinh tế
thị trường chưa hoàn thiện. Hiệu lực và hiệu quả quản lý Nhà nước về kinh tế còn thấp,
một mặt là do sự can thiệp của Nhà nước không phù hợp với sự vận động của thị trường.
1Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.101
Page | 12

triển ở Việt Nam, Nxb CTQG - ST, Hà nội. 2015, tr.96
Page | 13


chủ thể khác. Điển hình như, trong lĩnh vực quản lý kinh tế vĩ mô, vai trò quan trọng nhất
của Nhà nước là định hướng mục tiêu phát triển, dự báo tình hình biến động của thị
trường; kiểm soát độc quyền; tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh…, nhưng Nhà nước
không tập trung đúng mức, mà lại can thiệp vào vấn đề giá cả, tiền lương… đây là chức
năng của doanh nghiệp. Việc chậm thay đổi thói quen can thiệp của Nhà nước vào thị
trường bằng các biện pháp hành chính, thay vì sử dụng các công cụ can thiệp gián tiếp để
điều tiết thị trường cũng là một nguyên nhân khiến Nhà nước vận hành thị trường thiếu
hiệu quả.
Ba là, “hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước chưa cao; kỷ luật, kỷ cương chưa
nghiêm: Nhà nước còn can thiệp trực tiếp, quá lớn trong nền kinh tế. Vẫn còn tình trạng
bao cấp, xin – cho trong xây dựng và thực hiện một số cơ chế, chính sách” 1. Nhà nước
can thiệp quá sâu vào hoạt động, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng lại
không chịu trách nhiệm về vật chất đối với các quyết định của mình. Quan hệ hàng hóa,
tiền tệ bị coi nhẹ, do đó, trong nhiều trường hợp, đáng lý là quan hệ cung cầu, thì quyền
lực và sự duy ý chí lại đi trước dẫn dắt thị trường.
Trước những bất cập trong mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường ở nước ta
hiện nay, Đại hội XII đã khẳng định, cần phải tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa Nhà
nước và thị trường và chỉ khi nào việc phân vai giữa Nhà nước - thị trường được làm rõ,
được quy định bởi pháp luật, bằng các chức năng, nhiệm vụ cụ thể, thì khi đó mối quan
hệ giữa Nhà nước và thị trường mới là biện chứng, tương hợp và hỗ trợ cho nhau. Quan
hệ giữa thị trường với Nhà nước cần phải được xác định phù hợp với trình độ phát triển
của sức sản xuất. Bởi vì, các quốc gia khác nhau sẽ ở những giai đoạn phát triển khác
nhau, có trình độ phát triển sức sản xuất, trình độ phát triển thị trường khác nhau, nên xử
lý mối quan hệ giữa vai trò của thị trường với vai trò của Nhà nước cần phải xuất phát từ
thực tế mỗi nước, dựa trên nguyên tắc làm gì đều phải có lợi cho phát triển sức sản xuất,
không thể bê nguyên xi một lý luận, một công thức để áp dụng trong mọi trường hợp.

đề cập tới hoàn thiện thể chế về sở hữu trí tuệ. Bởi trong xu thế phát triển và hội nhập
1Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr. 60
2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr. 104
Page | 15


kinh tế sâu rộng như hiện nay thì sở hữu trí tuệ còn có giá trị lớn hơn rất nhiều những tài
sản hữu hình khác. Bên cạnh đó, Đảng ta cũng khẳng định: xây dựng và hoàn thiện thể
chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ chiến lược, là khâu
đột phá quan trọng, tạo động lực để phát triển kinh tế-xã hội nhanh và bền vững phải đi
đôi với đổi mới, hoàn thiện bộ máy tổ chức, cán bộ của toàn hệ thống chính trị; xác định
rõ và thực hiện đúng vị trí, vai trò, chức năng và mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường
và xã hội phù hợp với kinh tế thị trường; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữ vững
và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nền kinh tế ấy vận hành
đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường nhưng vẫn bảo đảm những yếu
tố nhân văn của thể chế xã hội chủ nghĩa, thể hiện ở khía cạnh bảo đảm: “sự hài hoà giữa
tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, phát triển con người, thực hiện tiến bộ, công
bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển xã hội bền vững”1.
Trong lý thuyết kinh tế đã tồn tại các trường phái khác nhau, từ nhấn mạnh vai trò
thị trường, đến nhấn mạnh vai trò nhà nước hay nhấn đến sự cần thiết của cả nhà nước và
thị trường trong nền kinh tế hỗn hợp. Tuy nhiên, không có ngưỡng chung cho việc xử lý
mối quan hệ này, mà ở mỗi nền kinh tế, mức độ tham gia của nhà nước hay mức độ quyết
định của thị trường là rất đa dạng, tùy thuộc vào trình độ phát triển lực lượng sản xuất,
quan niệm về mô hình vận hành, tập quán truyền thống văn hóa... Ngay trong bản thân
mỗi nền kinh tế, trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau, cũng đều có sự điều chỉnh
trong sự can thiệp của nhà nước vào thị trường. Đồng thời thực tiễn lịch sử cho thấy, sự
thất bại của không ít nền kinh tế là do tuyệt đối hóa vai trò của nhà nước hoặc tuyệt đối
hóa vai trò thị trường. Mô hình chung có tính phổ biến hiện nay là phát triển nền kinh tế
hỗn hợp mà ở đó, vai trò nhà nước và vai trò thị trường đều được phát huy, bổ khuyết cho
nhau.

trò của các thực thể cũng có biến đổi cùng với sự biến đổi của mỗi thực thể trong các giai
đoạn của kinh tế thị trường. Nhà nước và thị trường nảy sinh và phát triển là kết quả phát
triển tất yếu của sự phát triển xã hội loài người. Vấn đề không phải ở chỗ chúng tồn tại
hay không mà là ở chỗ định hình thể chế phù hợp với mỗi giai đoạn trong tiến trình phát
triển của kinh tế thị trường.
Page | 17


Đối với Việt Nam, trong giai đoạn nền kinh tế kế hoạch tập trung, hệ thống sản
xuất, phân phối và tiêu dùng được thực hiện trên cơ sở kế hoạch của nhà nước, thị trường
đúng nghĩa bị thủ tiêu, vai trò các tổ chức xã hội được lồng ghép vào vai trò thống nhất
của nhà nước. Vì vậy, như thực tế cho thấy, sản xuất không hiệu quả, nguồn lực không
được khai thác tốt, động lực phát triển không được khơi dậy. Tuy nhiên, cũng không nên
phủ định sạch trơn thành quả của bao năm cả nước dốc sức vừa sản xuất vừa chiến đấu,
giải phóng miền Nam. Nền kinh tế kế hoạch tập trung cao độ phù hợp với giai đoạn đặc
biệt của đất nước khi phải tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược vừa xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa đấu tranh, giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất đất
nước. Có điều sau khi thống nhất đất nước chúng ta đã có sai lầm, chưa kịp thời chuyển
đổi cơ chế cho phù hợp với bối cảnh mới, bối cảnh hòa bình, cả nước cùng bước vào xây
dựng xã hội mới. Thực hiện đường lối đổi mới, vai trò các thực thể đã được xác định
ngày càng phù hợp hơn.
Thứ nhất, về xác định vai trò nhà nước.
Qua hơn 30 năm đổi mới, chúng ta đã có những thành công bước đầu trong việc
hình thành và hoàn thiện cơ chế thị trường, cũng như điều chỉnh vai trò tương ứng của
nhà nước trong phát triển kinh tế. Điều đó thể hiện ở sự thay đổi cơ bản quan niệm về
chức năng của nhà nước trong nền kinh tế. Đại hội VII của Đảng đã xác định: “Bộ máy
nhà nước từng bước chuyển sang thực hiện chức năng quản lý nhà nước, khắc phục dần
sự can thiệp vào điều hành kinh doanh của cơ sở” 1 và tại Đại hội VIII, Đảng ta khẳng
định tiếp: “ Thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chức năng chủ sở
hữu tài sản công của nhà nước. Tôn trọng và phát huy đầy đủ quyền tự chủ kinh doanh

ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước… Cùng với đó, hệ thống pháp luật dân sự,
kinh tế được ban hành đồng bộ và ngày càng hoàn thiện. Việc ban hành và thực hiện các
văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vai trò nhiệm vụ nhà nước trong kinh tế đã

1Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, H. 2006, tr. 26-27
2 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H., 2016, tr. 98
3 Văn kiện Hội nghị lần thứ Năm, BCHTW khóa XII, Văn phòng TƯ Đảng, H,2017, tr.32
4 Ban hành ngày 15/04/1992, có hiệu lực ngày 18/04/1992
5 Ban hành ngày 28/11/2013, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2014
Page | 19


góp phần quan trọng trong việc khơi thông các nguồn lực, phát triển kinh tế - xã hội; thực
hiện chính sách an sinh xã hội, tạo sự công bằng, bình đẳng trong xã hội.
Cùng với ban hành hệ thống khung văn bản pháp luật xác lập vai trò quản lý kinh
tế của nhà nước, nhà nước cũng đã ban hành nhiều chính sách bảo đảm môi trường vĩ mô
cho tăng trưởng. Trong đó đáng chú ý là các văn bản quy phạm pháp luật về tài chính đã
thiết lập các chuẩn mực để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực tài
chính, từ phân phối, động viên tài chính, đến kiểm tra, giám sát các hoạt động tài chính
phát sinh trong nền kinh tế. Đối với hoạt động của khu vực kinh tế nhà nước cũng đã có
nhiều quy định văn bản pháp luật, trong đó đáng chú ý là Luật Doanh nghiệp nhà nước
(năm 1995 và 2003) đã xác định rõ khuôn khổ hoạt động kinh tế của Nhà nước. Theo đó,
hoạt động của khu vực kinh tế nhà nước được chú ý nâng cao hiệu quả, các doanh nghiệp
do Nhà nước thành lập và trực tiếp quản lý được đa dạng hóa chủ sở hữu thông qua cơ
chế cổ phần hóa hoặc các cơ chế có liên quan và cũng vì vậy số lượng doanh nghiệp nhà
nước giảm đi trong những năm qua. Gắn liền với đó là khu vực kinh tế tư nhân, khu vực
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được mở rộng dư địa và hoạt động, cạnh tranh bình
đẳng trên thị trường.
Thứ hai, về vai trò thị trường.
“Thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các

được đưa vào thực hiện với nguyên tắc tự do, tự nguyện, tạo giúp cho các giao dịch trên
thị trường ngày càng trở nên sống động. Song song với những biện pháp kể trên, trong
những năm cuối của thập kỷ 80, Việt Nam đã tiến hành những biện pháp cải cách mạnh
mẽ trong lĩnh vực giá cả theo xu hướng hình thành hệ thống một giá tương ứng với giá
thị trường. Năm 1992, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định 137- HĐBT về quản
lý giá và 10 năm sau, UBTVQH đã ban hành Pháp lệnh giá nhằm tạo lập khung pháp luật
cho việc quản lý giá trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đặc biệt Luật giá
2012 quy định quản lý giá theo cơ chế thị trường.
Xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý cho việc xây dựng và vận hành thị trường
các yếu tố sản xuất quan trọng nhất bằng việc thông qua các luật: Luật Lao động năm
1994 (sửa đổi, bổ sung vào năm 2002, 2006, 2007) và năm 2012, Luật Đất đai năm 1987,
Page | 21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status