VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HÀ
THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
VỀ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2019
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HÀ
THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
VỀ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 9380102
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HOÀNG VĂN TÚ
Hà Nội - 2019
Nam hiện nay................................................................................................................................. 57
3.2. Hoạt động thi hành bản án, quyết định của Toà án về vụ án hành chính ở Việt
Nam hiện nay................................................................................................................................. 81
3.3. Thực trạng các yếu tố tác động đến thi hành bản án, quyết định của Toà án về
vụ án hành chính ở Việt Nam hiện nay.................................................................................. 103
3.4. Đánh giá chung thực trạng thi hành bản án, quyết định của Toà án về vụ án
hành chính ở Việt Nam hiện nay............................................................................................. 114
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM HIỆU QUẢ THI HÀNH BẢN
ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN VỀ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM.........120
4.1. Quan điểm bảo đảm thi hành bản án, quyết định của Toà án về vụ án hành
chính ở Việt Nam........................................................................................................................ 120
4.2. Giải pháp bảo đảm hiệu quả thi hành bản án, quyết định của Toà án về vụ án
hành chính ở Việt Nam.............................................................................................................. 125
KẾT LUẬN................................................................................................................................. 149
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ.............................. 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................... 152
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HĐND
Hội đồng nhân dân
HVHC
Hành vi hành chính
QĐHC
TTPBGDPL
Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật
UBND
Uỷ ban nhân dân
VAHC
Vụ án hành chính
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Số lượng các VAHC đã thụ lý; giải quyết, xét xử từ năm 2010 đến năm 2018
của TAND các cấp...................................................................................................................... 82
Bảng 3.2. So sánh tình hình khởi kiện QĐHC, HVHC của Chủ tịch UBND và UBND
các cấp tại Toà án với tình hình khiếu nại tại cơ quan hành chính nhà nước...............83
Bảng 3.3. Kết quả THAHC từ năm 2012 đến năm 2016.............................................................. 85
Bảng 3.4. Kết quả THAHC năm 2017 và năm 2018..................................................................... 86
Bảng 3.5. Kết quả kiểm sát THAHC năm 2017 và năm 2018.................................................. 102
thực hiện pháp luật trong THAHC của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân vẫn còn hạn
chế. Người dân vẫn không “mặn mà” với việc khởi kiện VAHC dù các tranh chấp
hành chính không ngừng tăng. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong
đó theo tác giả, cần phải kể đến những nguyên nhân sau:
1
Thứ nhất, hành lang pháp lý về thi hành án nói chung và THAHC nói riêng
chưa đầy đủ, chưa thống nhất, còn rải rác ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau.
Hoạt động THAHC vẫn chưa được điều chỉnh bằng một Luật riêng biệt như
THADS hay THAHS.
Thứ hai, chất lượng xét xử các VAHC ở nhiều địa phương hiện chưa cao.
Những phán quyết trong bản án, quyết định của Toà án còn nhiều mâu thuẫn hoặc
thường có tính chung chung, gây khó khăn cho quá trình THAHC.
Thứ ba, nhận thức pháp luật và tổ chức thực thi pháp luật của các chủ thể có
liên quan trong THAHC còn nhiều hạn chế. Đặc biệt khi chủ thể phải thi hành án là
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong các cơ quan hành chính nhà nước có
xu hướng gia tăng.
Thứ tư, thực tiễn áp dụng cơ chế đặc thù trong THAHC chưa triệt để. Do đó,
dù cũng theo xu hướng chung của đa số các quốc gia trên thế giới khi ưu tiên “tinh
thần tự giác” trong THAHC song hoạt động này tại Việt Nam hiện không thực sự
hiệu quả.
Thứ năm, công tác quản lý nhà nước về THAHC còn nhiều bất cập. Thực tế
chưa đảm bảo sự phân công, phối hợp theo quy định của pháp luật giữa các cơ quan
hành pháp, tư pháp và cơ quan kiểm sát; giữa cơ quan ở trung ương với các địa
phương trong THAHC.
Thứ sáu, kiểm sát THAHC là một trong những chức năng kiểm sát hoạt động
tư pháp của VKSND các cấp nhưng so với THADS và THAHS chức năng này chưa
được quan tâm đúng mức.
THAHS.
-
Những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn kinh nghiệm về THAHC của một số
quốc gia trên thế giới.
- Số liệu và hiện trạng về THAHC ở Việt Nam nói chung, đặc biệt ở những địa
phương có số lượng án hành chính cao hiện nay.
-
Những chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp, về thi hành án nói chung và công
tác THAHC nói riêng.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung, Luận án nghiên cứu những vấn đề cơ bản của pháp luật THAHC,
bao gồm những quy định về nội dung, về tổ chức, về thủ tục và các biện pháp chế
tài xử lý vi phạm trong THAHC. Trên cơ sở đó, phân tích thực trạng pháp luật và
thực tiễn thi hành pháp luật THAHC tại Việt Nam thời gian qua để đề xuất các giải
pháp nhằm góp phần đảm bảo hiệu quả THAHC trước yêu cầu cải cách tư pháp, xây
dựng Nhà nước pháp quyền XHCN tại Việt Nam hiện nay. Luận án tập trung nhấn
mạnh nội dung thi hành phần quyết định trong bản án của Toà án về quyết định
hành chính (QĐHC), hành vi hành chính (HVHC) bị khởi kiện; phần dân sự (nếu
có) được thi hành theo thủ tục THADS ít được đề cập sâu trong Luận án.
3
Về thời gian, Luận án nghiên cứu những quy định của pháp luật THAHC kể từ
khi Pháp lệnh TTGQ các VAHC năm 1996 có hiệu lực (01/7/1996) cho đến nay. Các số
liệu đánh giá liên quan đến THAHC, cụ thể về tình hình thụ lý, giải quyết các VAHC
tại Toà án từ năm 2010 đến hết năm 2018; tình hình đôn đốc, theo dõi THAHC được
4
-
Phương pháp so sánh pháp luật: Sử dụng trong việc so sánh các quy định của pháp
luật Việt Nam qua từng giai đoạn đặc biệt là giai đoạn Luật TTHC năm 2010 và
Luật TTHC năm 2015; so sánh giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số
nước trên thế giới. Tìm ra những điểm còn bất cập của pháp luật trong nước hay
điểm tương đồng, khác biệt trong pháp luật quốc tế về THAHC, từ đó đề xuất các
giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về THAHC trong thời gian tới.
Từ đó, luận án được tiến hành theo những cách tiếp cận như sau:
-
Tiếp cận hệ thống: Để đưa ra những giải pháp bảo đảm hiệu quả hoạt động THAHC ở
Việt Nam hiện nay, cần tập trung nghiên cứu từ những vấn đề lý luận, nhấn mạnh về
thực trạng pháp luật, thực tiễn thi hành pháp luật THAHC, sau đó dựa trên những chủ
trương, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách pháp luật của Nhà nước
đồng thời có sự so sánh, học hỏi kinh nghiệm của pháp luật quốc tế.
-
Tiếp cận đa ngành, liên ngành: QĐHC, HVHC là đối tượng khởi kiện trong các
VAHC là biểu hiện của sự tác động đa dạng trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và
liên quan đến nhiều đối tượng của hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Ngoài
ra, sau khi có phán quyết của Tòa án, việc thi hành phải cần sự phối hợp của nhiều
cơ quan, tổ chức để đưa những phán quyết đó thành hiện thực. Do đó, đề tài cần sử
dụng cách tiếp cận này để có thể đưa ra những giải pháp hoàn thiện đồng bộ và toàn
giai đoạn hiện nay đặt trong sự so sánh với những quy định của Luật TTHC năm
2010 và pháp luật THAHC của một số quốc gia trên thế giới.
Thứ ba, đánh giá thực tiễn hoạt động THAHC ở nước ta thời gian qua, đặc biệt
nhấn mạnh cho giai đoạn khi Luật TTHC năm 2015 có hiệu lực thi hành. Việc đánh
giá này được thực hiện từ những nội dung sau: kết quả giải quyết VAHC tại TAND
các cấp so sánh với kết quả THAHC; so sánh giữa tình trạng người dân lựa chọn
giải pháp khiếu nại tại các cơ quan hành chính với việc khởi kiện tại TAND; kết quả
thực hiện trách nhiệm theo dõi THAHC so sánh với kết quả đôn đốc THAHC tại Cơ
quan THADS; kết quả thực hiện nhiệm vụ QLNN đối với công tác THAHC; kết quả
giám sát THAHC trong đó nhấn mạnh vai trò kiểm sát THAHC của VKSND các
cấp. Từ việc đánh giá kết quả thực hiện những nội dung trên, Luận án xác định
những tồn tại, những khó khăn của công tác THAHC tại Việt Nam hiện nay đồng
thời cũng chỉ ra và phân tích nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan ảnh
hưởng đến hiệu quả THAHC.
Thứ tư, nêu ra các quan điểm bảo đảm hiệu quả đối với hoạt động THAHC
trong đó có quan điểm về việc bảo đảm sự kiểm soát quyền lực trong tổ chức và
hoạt động của bộ máy nhà nước. Từ các quan điểm bảo đảm hiệu quả THAHC, trên
nền tảng lý luận và thực trạng THAHC, Luận án đề xuất những nhóm giải pháp sau:
nhóm giải pháp nâng cao nhận thức về THAHC, nhóm giải pháp hoàn thiện pháp
luật THAHC nhấn mạnh việc xây dựng Luật THAHC, nhóm giải pháp QLNN về
THAHC và một số giải pháp bổ trợ THAHC.
6
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án bổ sung những vấn đề lý luận về THAHC, góp
phần thống nhất trong nhận thức về những nội dung như khái niệm, bản chất, đặc
điểm và vai trò của THAHC. Đồng thời cung cấp những đánh giá về ưu và nhược
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về đề tài luận án
Thi hành án nói chung xét cho cùng là một đề tài không mới tại Việt Nam
cũng như ở các quốc gia khác trên Thế giới, bởi tầm quan trọng của nó trong việc
góp phần bảo vệ hiệu quả các quyền của công dân, đảm bảo các nguyên tắc pháp
quyền trong hoạt động của bộ máy nhà nước. Tuy nhiên, xét về cụ thể, nếu THADS
và THAHS là hai lĩnh vực thi hành án có nhiều công trình không chỉ tập trung về
mặt thực tiễn áp dụng mà còn cả trên phương diện lý luận thì những công trình về
THAHC lại có phần hạn chế hơn. Tại Việt Nam, các tác giả chủ yếu nghiên cứu vào
thời điểm khi Pháp lệnh TTGQ các VAHC năm 1996 và Luật TTHC năm 2010 có
hiệu lực thi hành (trước ngày 01/7/2016), giai đoạn sau khi Luật TTHC năm 2015
có hiệu lực hiện còn khá khiêm tốn. Về pháp luật THAHC tại các quốc gia trên Thế
giới, các tác giả trong và ngoài nước chủ yếu nghiên cứu về thực trạng pháp luật,
nhấn mạnh các biện pháp bảo đảm hiệu quả THAHC từ đó đưa ra một số kinh
nghiệm cần thiết và có thể áp dụng cho Việt Nam. Khía cạnh lý luận về THAHC vì
vậy cũng khá hạn chế.
Song, với tác giả, tất cả những nghiên cứu tại các giai đoạn phát triển của pháp
luật Việt Nam về thi hành án nói chung và THAHC nói riêng hay các nghiên cứu về
pháp luật THAHC tại một số quốc gia trên thế giới mà tác giả có cơ hội tiếp cận đều
là những tài liệu tham khảo hữu ích.
Việc đánh giá và kế thừa các nghiên cứu như đã luận giải ở trên được tác giả
tiếp cận như sau:
1.1.1. Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận của đề tài luận án
Cũng giống như hầu hết các quốc gia trên thế giới, nước ta xác định THAHC
là một lĩnh vực cụ thể của thi hành án, cùng với THADS và THAHS. Bên cạnh
những đặc điểm riêng xuất phát từ đặc thù về đối tượng khởi kiện hay đương sự
trong VAHC, THAHC mang những đặc điểm, có những bản chất và vai trò của hoạt
động thi hành án nói chung. Do đó, theo tác giả, về mặt lý luận, sự đánh giá, kế thừa
các kết quả nghiên cứu không chỉ tập trung ở những công trình dành riêng về
THAHC. Cụ thể như sau:
đặc biệt là về bản chất của hoạt động THAHC
Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu về bản chất của hoạt động thi hành án
nói chung của những công trình đi trước, tác giả Trương Hồng Quang (2015), Khái
niệm, bản chất, đặc điểm và những điều kiện ảnh hưởng đến thi hành án hành
chính, Tài liệu Hội thảo khoa học Kinh nghiệm THAHC của một số nước trên thế
giới và khả năng áp dụng tại Việt Nam, Bộ Tư pháp thực hiện, tr. 23-40 và Phạm
9
Xuân Nam (2012), Thi hành án hành chính ở Việt Nam – Thực trạng và phương
hướng hoàn thiện”, Luận văn thạc sĩ, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh đều
cho rằng THAHC là giai đoạn xuất hiện sau khi bản án, quyết định giải quyết
VAHC của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, đây không phải là một giai đoạn tố tụng
mà là tổng thể các hoạt động nhằm mục đích làm cho bản án, quyết định của Tòa án
được thực hiện nghiêm chỉnh trong thực tế.
Cũng ở góc độ lý luận, tác giả Nguyễn Thị Thương Huyền (2012), Bảo đảm
quyền con người trong thi hành án hành chính ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa
học cấp trường, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh; Huỳnh Thị Khánh
Ly (2015), Thi hành án hành chính ở Việt Nam, Luận văn cử nhân, Đại học Luật
Thành phố Hồ Chí Minh và Nguyễn Thị Hoàng Giang (2017), Chuyên đề Những
chủ trương, định hướng lớn trong việc xây dựng Luật Thi hành án hành chính ở Việt
Nam, Tổng cục THADS (Bộ Tư pháp) không bàn luận về bản chất của hoạt động
THAHC mà dựa trên những đặc trưng của hoạt động này so với THAHS và
THADS để đưa ra khái niệm về THAHC, trong đó không xác định THAHC là giai
đoạn tố tụng hay không là giai đoạn tố tụng mà nhấn mạnh đây là hoạt động do các
chủ thể có thẩm quyền tiến hành nhằm thực hiện các bản án, quyết định đã có hiệu
lực của Tòa án về VAHC theo trình tự, thủ tục do pháp luật về THAHC quy định.
Như vậy, bản chất của hoạt động thi hành án nói chung và THAHC nói riêng
hiện vẫn còn nhiều quan điểm trái nhiều và chưa đạt được sự thống nhất. Song, tác
khiếu kiện hành chính bị kéo dài, tình trạng án tồn đọng nhiều bên cạnh những bất
cập của pháp luật THAHC giai đoạn này.
Luật TTHC năm 2010 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2011 thực sự mang lại
nhiều chuyển biến mới, tích cực hơn trong xét xử các khiếu kiện hành chính và
trong hoạt động THAHC tại nước ta sau những bất cập từ Pháp lệnh TTGQ các
VAHC năm 1996. Cùng với những quy định về giải quyết VAHC tại Toà án, những
nội dung về THAHC được nêu ra trong Luật TTHC được đánh giá là khá hoàn
thiện, có phần rõ ràng hơn. Tuy nhiên, khi đưa vào triển khai thực hiện vẫn phát
sinh nhiều hạn chế. Các tác giả Hà Minh Tuấn tại Một số ý kiến về thi hành án hành
chính, ngày 20/01/2015, Chuyên mục nghiên cứu trao đổi – Bộ Tư pháp; Trần Minh
Giang với Thi hành án hành chính: Nhiều bất cập cần tháo dỡ, Báo Công lý, ngày
10/5/2015; Trương Hồng Quang và Nguyễn Thị Thương Huyền trong những nghiên
cứu của mình đều xác định nguyên nhân chủ yếu của những bất cập về thực trạng
THAHC là do hành lang pháp lý hiện vẫn chưa đầy đủ, quy định rải rác, còn tản
mạn ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau và có quá ít điều luật điều chỉnh nên chưa
đầy đủ cách thức để tổ chức thực hiện một cách hiệu quả công tác THAHC.
Các tác giả Vũ Thị Hằng – Lý Thị Thúy Hoa (2015), Thi hành án hành chính
tại Việt Nam, thực trạng và kiến nghị hoàn thiện, Hội thảo Kinh nghiệm THAHC
của một số nước trên thế giới và khả năng áp dụng tại Việt Nam, Bộ Tư pháp, tr. 5-
11
14; Trần Văn Duy, Những bất cập trong pháp luật hiện hành về thi hành án hành
chính, Tạp chí Thanh tra số 3/2016, tr. 14-17 hay Hoàng Điệp, Thắng kiện, chật vật
thi hành án, Báo Tuổi trẻ, ngày 12/10/2014 cụ thể hơn về hạn chế của thực tiễn
THAHC khi đưa ra nhiều phân tích đối với cơ chế đôn đốc THAHC do Cơ quan
THADS thực hiện.
Ý thức chấp hành án hạn chế, việc tuân thủ pháp luật trong THAHC không nghiêm
Trần Mai Phương (2016), Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng
hành chính, Luận văn thạc sĩ, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh; Bùi Ngọc
Hòa, Những nội dung mới của Luật Tố tụng hành chính, Tài liệu Tập huấn Luật
TTHC, TAND Tối cao; Võ Công Hoàng, Quy định mới trong thi hành bản án, quyết
định hành chính, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 4/2016, tr.62-64; Nguyễn Văn
Thuận, Thẩm quyền của Toà án theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Tạp chí
Dân chủ và Pháp luật; Trương Khánh Hoàn, Các cơ chế bảo đảm thực thi bản án,
quyết định của Toà án về vụ án hành chính tại Việt Nam và trách nhiệm của các Bộ,
ngành, địa phương trong công tác thi hành án hành chính, Tổng cục THADS (Bộ
Tư pháp); Thành Công, Gỡ “nút thắt” cho theo dõi thi hành án hành chính, Báo
Pháp luật Việt Nam, ngày 19/9/2018 có nhiều luận bàn về những điểm mới tích cực
của Luật TTHC năm 2015 nói chung và pháp luật THAHC nói riêng trong đó đặc
biệt nhấn mạnh nội dung quản lý nhà nước về THAHC, nhấn mạnh về việc bỏ cơ
chế đôn đốc THAHC của Hệ thống Cơ quan THADS thay vào đó là thẩm quyền,
trình tự, thủ tục theo dõi THAHC.
Hoạt động xét xử các VAHC của TAND các cấp, đặc biệt là cấp tỉnh; chất
lượng bản án, quyết định của Toà án vốn là những nguyên nhân không mới có ảnh
hưởng trực tiếp đến hiệu quả THAHC vì vấn đề này thực chất đã được một số tác
giả nêu ra từ giai đoạn áp dụng Luật TTHC năm 2010. Tuy nhiên, việc đánh giá cụ
thể những hạn chế này và dựa trên những quy định mới của Luật TTHC năm 2015
đến nay mới được các tác giả Hoàng Thị Thuý Vinh, Phan Thị Thu Hà (2017), Thực
trạng và giải pháp giải quyết các vụ án hành chính tại Toà án, Tổng cục THADS
(Bộ Tư pháp); Thân Quốc Hùng (2018), Chất lượng xét xử các vụ án hành chính
của Toà án nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ, Học viện Chính
trị Quốc gia thực hiện.
Năm 2017 được xem là năm đầu tiên áp dụng pháp luật THAHC theo quy định
của Luật TTHC năm 2015 và Nghị định số 71/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 về thời
hạn, trình tự, thủ tục thi hành án hành chính và xử lý trách nhiệm đối với người
không thi hành bản án, quyết định của Tòa án (Nghị định 71/2016/NĐ-CP), việc
đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật trong đó chủ yếu tập trung thực trạng theo dõi
áp dụng pháp luật THAHC tại một số quốc gia trên thế giới
Hiệp hội quốc tế Tòa án hành chính tối cao (International Association of
Supreme Administrative Jurisdictions – viết tắt là IASAJ) vốn được thành lập từ
năm 1983 và theo quy định cứ ba năm một lần sẽ tổ chức những hội nghị để thảo
luận về một chủ đề liên quan đến pháp luật hành chính. Năm 2004, IASAJ đã tổ
chức hội nghị lần thứ VIII với chủ đề Thực thi các phán quyết của Tòa án hành
chính (The implementation of the administrative courts' decisions) tại Madrid (Tây
Ban Nha). Báo cáo tổng thuật hội nghị năm 2004 khi đó được xây dựng trên cơ sở
báo cáo của 27 nước tham dự và nhấn mạnh vào khả năng hiện thực hoá các phán
quyết của Toà án hành chính. Báo cáo được chia làm ba phần, cụ thể gồm: (1) Hậu
quả pháp lý của các quyết định của Tòa án hành chính; (2) Quyền hạn của Tòa án
14
hành chính đối với việc thi hành các quyết định của mình và (3) Đảm bảo hiệu quả
THAHC [13, tr.15-22].
Pháp – vốn được biết đến là một trong những quốc gia có lịch sử lâu đời trong
việc tổ chức cơ quan tài phán hành chính, từ gần 200 năm nay. GS. Martine
Lombard (Đại học Tổng hợp Panthéon, Assas, Paris) và GS. Gilles Dumont (Trường
Đại học Luật và Kinh tế Limoges) trong tác phẩm Pháp luật Hành chính của Cộng
hòa Pháp [13, tr.15-22] đã tập trung nghiên cứu về thủ tục giải quyết các VAHC,
trong đó đặc biệt làm rõ những nội dung về phạm vi và vai trò bảo đảm thi hành
những quyết định tài phán của Tham chính viện. Tham chính viện vốn được xem là
Toà án hành chính tối cao tại Pháp bên cạnh Toà án hành chính sơ thẩm và Toà án
hành chính phúc thẩm. Tác giả Trần Kim Liễu (2017), Thi hành án hành chính một
số nước trên Thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Đại học Luật Hà Nội
đã phân tích khá cụ thể về 3 biện pháp bảo đảm, hỗ trợ THAHC được pháp luật
Pháp quy định bao gồm: (1) Trao quyền cho Toà án hành chính; (2) Trao quyền cho
Cơ quan trung gian giải quyết khiếu nại (TGGQKN) của công dân; (3) Dựa trên các
này; trường hợp không thực hiện sẽ bị coi là phạm tội coi thường Toà án và bị trừng
phạt; (2) Cơ quan THADS tại Anh và Wales chỉ tham gia vào THAHC trường hợp
bản án có liên quan tới tiền hoặc tài sản và việc này có sự hỗ trợ của một số người
thi hành án như người thi hành án của Toà án hạt (bailiffs), người thi hành án tư
được chứng nhận (certificated and pritave bailiffs) và người sai áp (distrainors);
(3) Tại Anh và Wales có hai cơ chế giám sát đối với việc THAHC đó là sự giám sát của
Nghị viện thông qua hoạt động của Uỷ ban hành chính của Hạ viện và sự giám sát
của bên được thi hành án thông qua quyền kiện đòi bồi thường nếu bên phải thi
hành không thi hành đúng bản án hành chính đã có hiệu lực; (4) Bản án hành chính
tại Anh mô tả rõ ràng về nghĩa vụ của các bên liên quan trong THAHC, đặc biệt
trường bên phải thi hành là cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền [101,
tr.46].
Theo tác giả Trần Kim Liễu, Hoa Kỳ cũng không có cơ quan chuyên trách
THAHC, theo đó Toà án khi đã ra phán quyết về vụ kiện hành chính sẽ là chủ thể
chịu trách nhiệm bảo đảm thi hành các phán quyết của mình. Luật pháp Hoa Kỳ
cũng quy định nếu những phán quyết không được thực thi một cách nghiêm chỉnh,
tức là xuất hiện hành vi chống đối hoặc không thi hành, Toà án sẽ áp dụng các biện
pháp chế tài bao gồm cả hình sự và dân sự. Khi những biện pháp chế tài được quyết
định thì những thiết chế thi hành án nằm trong hệ thống hành pháp sẽ chịu trách
nhiệm thi hành các phán quyết của Toà án. Tương tự như Hoa Kỳ, tại Úc, việc thi
hành các phán quyết của Toà án đối với các khiếu kiện hành chính được bảo đảm
thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế tư pháp do Toà án áp dụng. Những hành vi xem
thường bản án, quyết định của Toà án được xem là phạm tội và có thể bị áp dụng
hình phạt tù giam hoặc truy cứu trách nhiệm dân sự. Như vậy, Hoa Kỳ hay Úc đều
áp dụng chế tài nghiêm khắc đối với những cơ quan, tổ chức, cá nhân không tự
16
án cấp tỉnh tại Trung Quốc có thể thành lập cơ quan THAHC tuỳ theo tình hình thực
tế. Công tác này do Chấp hành viên đảm nhận, chức danh này vốn do TAND tối cao
quy định và do TAND các cấp quản lý. Nghiên cứu cũng kết luận THAHC tại Trung
Quốc được xem là một vấn đề thực sự khó khăn, còn nhiều hạn chế và trì
17
trệ, trên thực tế Toà án mặc dù được trao quyền nhưng khó có thể áp dụng các biện
pháp cưỡng chế và cũng rất khó mang lại hiệu quả nếu được áp dụng. Một số học
giả tại Trung Quốc như Mã Hoài Đức, Giải Chí Dũng khi nghiên cứu về Giải pháp
và thực trạng khó thực thi vụ án trong tố tụng hành chính cũng chỉ ra nhiều nguyên
nhân dẫn đến tình trạng này trong đó theo các tác giả chủ yếu vẫn là do thể chế tư
pháp tại Trung Quốc còn nhiều bất cập.
Như vậy, mặc dù không thật sự phong phú so với các công trình nghiên cứu đối với
pháp luật THAHC của Việt Nam song những công trình nghiên cứu vừa kể trên là những
tài liệu tham khảo hữu ích, có giá trị quan trọng trong việc đúc kết kinh nghiệm THAHC
cho Việt Nam. Mặc dù có những điểm khác nhau về văn hoá pháp lý, cấu trúc quyền lực,
hệ thống pháp luật về THAHC song nhận thấy một số điểm chung trong về THAHC tại các
quốc gia trên thế giới như sau: (1) Xác định THAHC là một nhiệm vụ quan trọng đối với
hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước và cần thiết để đảm bảo thực thi một Nhà nước
pháp quyền; (2) Không có cơ quan chuyên trách THAHC, tất cả đều đề cao vai trò của Toà
án trong tổ chức và bảo đảm hiệu quả THAHC bên cạnh các tổ chức và thiết chế khác như
cơ quan TGGQKN hay Chấp hành viên; (3) Đa số đều theo xu hướng khuyến khích việc tự
nguyện THAHC song có nhiều biện pháp chế tài cụ thể áp dụng đối với hành vi vi phạm;
(4) Cơ quan THADS tham gia vào quá trình THAHC khi bản án, quyết định của Toà án về
VAHC có liên quan đến tiền hoặc tài sản;
(5) Với những đặc thù về người bị kiện trong các VAHC, THAHC được xác định là một
nhiệm vụ khó khăn hơn so với hai lĩnh vực thi hành án còn lại.
pháp nâng cao chất lượng đội ngũ Chấp hành viên như Cục THADS Thành phố Hồ
Chí Minh, tác giả Trương Phương Hồng, Nguyễn Thị Kim Quy. Liên quan đến
Chấp hành viên trong các Cơ quan THADS, tác giả Nguyễn Văn Luyện (2010),
Nghiên cứu thực thực trạng, nhu cầu phát triển đội ngũ Chấp hành viên và xây
dựng chương trình đào tạo theo yêu cầu cải cách tư pháp, Đề tài nghiên cứu khoa
học cấp Bộ hay tác giả Đặng Đình Quyền, “Năng lực Chấp hành viên, yếu tố quyết
định thành công thi hành án dân sự, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 6/2010, tr.1621 phân tích khá kỹ lưỡng, tuy nhiên các đánh giá và giải pháp đảm bảo hiệu quả
chủ yếu nhìn từ góc độ trách nhiệm thực thi nhiệm vụ của Chấp hành viên trong
THADS, trách nhiệm liên quan đến THAHC của Chấp hành viên ít được luận giải.
Một số bài viết như Lê Hồng (16/11/2017), Nâng cao hiệu quả thi hành án
hành chính, Báo Pháp luật Việt Nam; Võ Hà (04/10/2017), Không thi hành án,
người đứng đầu sẽ chịu trách nhiệm, Báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh; Đức
Minh (27/11/2017), Không thi hành án hành chính, có thể xử lý hình sự, Báo Pháp
luật Thành phố Hồ Chí Minh và Hồng Hà (30/11/2017), Dân thua kiện cũng phải
thi hành án hành chính, Báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh đều đánh giá pháp
luật THAHC hiện có nhiều quy định mang lại những chuyển biến tích cực trong
công tác THAHC song thực tế vẫn còn nhiều hạn chế. Các giải pháp đề xuất trong
các nghiên cứu này khá ngắn gọn, chủ yếu nêu giải pháp chính và không phân tích.
19