Vai trò của pháp luật tố tụng hành chính ở việt nam hiện nay - Pdf 18


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thể chế hóa chủ trương của Đảng, tại Kỳ họp thứ VIII ngày
28/10/1995, Quốc hội Khóa IX đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Luật tổ
chức Tòa án nhân dân; ngày 21/5/1996 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban
hành “Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính”, đã được sửa đổi,
bổ sung năm 1998 tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của Tòa
hành chính trong hệ thống Tòa án nhân dân. Những quy định này gọi là
những quy định về tố tụng hành chính.
Các văn bản pháp luật trên là cơ sở pháp lý cho việc xác lập một thiết
chế mới - thiết chế được nhiều nhà khoa học pháp lý coi là một “biểu hiện”
đặc trưng của nhà nước pháp quyền, thể hiện chế độ trách nhiệm qua lại giữa
công dân với nhà nước, bảo đảm thực hiện quyền công dân và pháp chế trong
hoạt động quản lý hành chính nhà nước thông qua thủ tục tố tụng với những
nguyên tắc dân chủ, công khai, bình đẳng. Ngoài ra, các quy định này còn
trao cho công dân một công cụ mới để thực hiện quyền khiếu nại đối với
CQNN, cán bộ của CQNN. Thể hiện một bước tiến mới của nhà nước ta trong
việc tạo ra các điều kiện về mặt pháp luật để chủ động hội nhập quốc tế.
Kể từ khi được ban hành, các quy định của pháp luật tố tụng hành
chính đã phần nào khẳng định vai trò của mình trong việc giải quyết tranh
chấp hành chính, đóng góp vào công cuộc cải cách nền hành chính, cải cách
tư pháp, buộc các cơ quan hành chính nhà nước phải tự nâng cao năng lực,
hoàn thiện thủ tục và phương thức quản lý xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho
công dân thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của mình. Tuy nhiên, trên thực tế
thì các vụ án được khởi kiện tại tòa án hành chính chiếm một số lượng không
lớn so với tổng số các vụ khiếu kiện hành chính, hoặc có khởi kiện thì vì lý do
này, lý do khác, như chưa qua thủ tục khiếu nại tại cơ quan hành chính, vụ
việc không thuộc thẩm quyền của tòa án, đã hết thời hiệu khởi kiện, nên tòa

pháp lý, nghiên cứu ở các khía cạnh về mối quan hệ tương quan giữa pháp
luật tố tụng hành chính với một số lĩnh vực của đời sống xã hội, nhưng mới
chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu vai trò của nó đối với nền hành chính nhà nước

3

hoặc đối với việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan và tổ
chức trong giải quyết tranh chấp hành chính, mà chưa có công trình nào
nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện về vai trò của pháp luật tố tụng hành
chính. Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài “Vai trò của pháp luật tố tụng hành
chính ở Việt Nam hiện nay” để làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu liên quan tới
vai trò của pháp luật tố tụng hành chính như: “Thiết lập tài phán hành chính
ở nước ta” – GS.TS Nguyễn Duy Gia (chủ biên), Nxb Giáo dục, Hà Nội,
năm1995 – các tác giả phân tích những vấn đề lý luận, các quan điểm, nguyên
tắc tổ chức Toà án hành chính ở Việt Nam;“Một số vấn đề về tài phán hành
chính ở Việt Nam”- PTS. Lê Bình Vọng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
1994, tác giả phân tích vị trí của tài phán hành chính trong nền hành chính
quốc gia và sự cần thiết phải thiết lập hệ thống toà án hành chính ở Việt Nam;
“Tài phán hành chính ở Việt Nam”- PTS. Đinh Văn Mậu và PTS. Phạm
Hồng Thái, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1995, các tác giả phân tích những
vấn đề chung về tài phán hành chính và vấn đề xác định thẩm quyền của toà
án hành chính; “Thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân trong việc giải
quyết các khiếu kiện hành chính”- Nguyễn Thanh Bình, Luận án tiến sĩ luật
học, Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật, 2003, trên cơ sở lý luận về thẩm
quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của Tòa án nhân dân, tác giả nghiên
cứu thực trạng thẩm quyền của tòa án và đề xuất các phương hướng hoàn
thiện pháp luật về thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của tòa án;
“Một số vấn đề về đổi mới cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính ở Việt

dưới góc độ lý luận Nhà nước và pháp quyền một cách toàn diện, có hệ thống
cả về phương diện lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn là phân tích cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng
vai trò của pháp luật TTHC trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, trên cơ sở
đó, xây dựng những quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của pháp
luật TTHC.

5

Trên cơ sở mục đích đặt ra, luận văn có nhiệm vụ:
- Trình bày khái niệm, đặc điểm, nhiệm vụ của pháp luật TTHC và nêu
lên vai trò của pháp luật TTHC.
- Phân tích những tiêu chí để đánh giá vai trò của pháp luật TTHC.
- Trình bày một số vấn đề về pháp luật TTHC của một số nước trên thế
giới và sự vận dụng nhằm nâng cao vai trò của pháp luật TTHC Việt Nam.
- Nêu lên quá trình hình thành phát triển của pháp luật TTHC Việt Nam
từ năm 1945 đến nay.
- Phân tích, đánh giá những ưu điểm và hạn chế về vai trò của pháp luật
TTHC ở Việt Nam hiện nay.
- Nêu lên những quan điểm và đề xuất những giải pháp cụ thể có tính
khả thi nhằm nâng cao vai trò của pháp luật TTHC.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu lý
luận và thực trạng vai trò của pháp luật TTHC trên cơ sở phân tích, đánh giá
nội dung cơ bản của pháp luật tố tụng hành chính hiện hành ở Việt Nam (các
quy định về tổ chức Tòa hành chính, quyền khởi kiện VAHC tại tòa án của
công dân, thẩm quyền và quyền hạn của Tòa hành chính, một số vấn đề về thủ
tục tố tụng trong giải quyết VAHC); hình thức của pháp luật TTHC; thực tiễn
thực hiện pháp luật TTHC trong những năm qua. Trên cơ sở phân tích thực

thống các trường chính trị, cho những người quan tâm nghiên cứu về pháp
luật TTHC và vai trò của pháp luật TTHC.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm có 3 chương 7 tiết.
7

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ
CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

1.1. Khái niệm, đặc điểm và nhiệm vụ của pháp luật tố tụng hành chính
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật tố tụng hành chính
Để nghiên cứu một cách đầy đủ và chính xác về khái niệm pháp luật
TTHC trước tiên cần nghiên cứu khái niệm TTHC.
Hoạt động quản lý hành chính nhà nước (hoạt động hành chính nhà
nước) là hoạt động chấp hành và điều hành của nhà nước, các chủ thể quản lý
hành chính nhà nước mà chủ yếu là các cơ quan hành chính Nhà nước tác
động chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý, để thực hiện chức
năng nhiệm vụ của mình, nhằm bảo đảm chấp hành Hiến pháp, luật và các
văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nước cấp trên, tổ
chức chỉ đạo mọi hoạt động của đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội.
Tính chất chấp hành của hoạt động quản lý nhà nước thể hiện ở chỗ tuân thủ
đúng các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền

Hoạt động thực hiện các HVHC được biểu hiện ở hai hình thức:
- Hình thức hành động, tức là làm một việc theo chức trách do pháp
luật quy định. Hành động có thể là hợp pháp hoặc không hợp pháp.
- Hình thức không hành động - không làm một việc trong quá trình thực
thi công vụ, bao gồm: không hành động hợp pháp (không làm một việc pháp
luật ngăn cấm) và không hành động bất hợp pháp (không làm một việc pháp
luật buộc phải làm).
Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, thông qua hoạt động
ban hành QĐHC hoặc thực hiện HVHC, các chủ thể quản lý hành chính nhà
nước vì các lý do khác nhau, có thể gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp
của cá nhân hoặc tổ chức (đối tượng quản lý) dẫn đến việc cá nhân, tổ chức
khiếu kiện yêu cầu chấm dứt, bồi thường thiệt hại, tạo nên sự tranh chấp hành

9

chính giữa nhà nước với công dân hoặc tổ chức. Và dù muốn hay không Nhà
nước phải thiết lập các cơ quan và ban hành các quy định pháp luật tạo cơ sở
pháp lý để xem xét và giải quyết những tranh chấp này.
Như vậy, hoạt động giải quyết các tranh chấp hành chính là hoạt động
gắn liền với hoạt động quản lý hành chính nhà nước, nó xuất hiện như là một
hiện tượng lịch sử, gắn liền với quá trình hình thành, phát triển của nhà nước
và pháp luật. Khi có hoạt động quản lý hành chính nhà nước thì sẽ có sự xem
xét, phán quyết về các hoạt động đó. Tuỳ thuộc vào truyền thống pháp luật
của mỗi nước, quan điểm chính trị - pháp lý của giai cấp cầm quyền, sự xem
xét, phán quyết hoạt động quản lý hành chính nhà nước được thực hiện bởi
nhiều phương thức, do các CQNN khác nhau thực hiện, trong đó có sự xem
xét, phán quyết thông qua hoạt động xét xử của Toà án.
Mục đích của giải quyết tranh chấp hành chính là bảo đảm quyền, lợi
ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức trước sự xâm phạm bởi các
QĐHC, HVHC của các cơ quan, công chức nhà nước trong khi thực hiện hoạt

của mình thì toà án thụ lý và tiến hành giải quyết theo trình tự, thủ tục do
pháp luật quy định.
Như vậy, tố tụng hành chính là toàn bộ hoạt động của Tòa án nhân dân,
Viện kiểm sát nhân dân, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, cơ
quan nhà nước, tổ chức và cá nhân theo trình tự do pháp luật quy định trong
việc giải quyết vụ án hành chính tại toà án.
Hiện nay trong các sách báo pháp lý có hai thuật ngữ được sử dụng để
chỉ hoạt động giải quyết tranh chấp hành chính tại toà án là "tài phán hành
chính" và "tư pháp hành chính" .
Tài phán hành chính là thuật ngữ được dịch từ các sách báo pháp lý của
nước ngoài và cũng chưa được hiểu một cách thống nhất. Hiện nay có ba
quan điểm khác nhau về khái niệm tài phán hành chính:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng: "Tài phán hành chính theo nghĩa hiện
đại được hiểu là quyền phán xét, xử lý của cơ quan hành chính đối với các

11

tranh chấp cũng như các vi phạm trong quản lý nhà nước" [20, tr.3].
- Quan điểm thứ hai cho rằng tài phán hành chính là: "xét xử các khiếu
kiện hành chính của dân đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính và
hoạt động tư vấn"[22, tr.16].
- Quan điểm thứ ba cho rằng tài phán hành chính là:
+ Hoạt động xem xét và giải quyết các khiếu nại hành chính của
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
+ Hoạt động xét xử các tranh chấp hành chính do Toà án nhân dân
thực hiện;
+ Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính của các cơ quan, cán bộ
có thẩm quyền [55, tr.104].
Nhìn chung, hầu hết các công trình nghiên cứu trên các sách báo pháp
lý nước ta đều nghiên cứu tài phán hành chính với nội dung là hoạt động xét

toàn bộ những hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng, người tham gia tố tụng, nên phát sinh rất nhiều quan hệ, như giữa Tòa
án với các tổ chức, cá nhân khi họ khởi kiện các VAHC; quan hệ giữa Viện
kiểm sát nhân dân với Tòa án trong quá trình giải quyết các VAHC v.v. Do
vậy, đòi hỏi pháp luật phải quy định địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và mối quan hệ giữa các chủ thể trong từng giai đoạn của tố tụng
hành chính; quy định trình tự, thủ tục khởi kiện, thụ lý VAHC; trình tự, thủ
tục thu thập chứng cứ, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm;
trình tự, thủ tục thi hành án hành chính.
Để thực hiện trình tự giải quyết tranh chấp hành chính đòi hỏi nhà nước
phải ban hành các quy định pháp luật nhằm xác định một số vấn đề như: mô
hình tổ chức cơ quan xét xử hành chính, hình thức tố tụng của việc xét xử,
phạm vi các tranh chấp hành chính thuộc thẩm quyền của toà án hành chính
Có thể nói, pháp luật trong lĩnh vực tố tụng hành chính phải điều chỉnh các
vấn đề sau:
- Mô hình tổ chức toà án hành chính, việc xác định mô hình tổ chức toà

13

án hành chính phụ thuộc vào các yếu tố, điều kiện như: quan điểm chính trị -
pháp lý của giai cấp cầm quyền, truyền thống pháp luật của mỗi quốc gia và
tính chất, đặc điểm của các tranh chấp hành chính.
- Mối quan hệ phát sinh giữa các chủ thể được trao quyền lực nhà nước
để thực hiện các hoạt động tố tụng nhằm giải quyết vụ án hành chính. Đó là
quan hệ giữa Toà án với Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát
hoạt động xét xử hành chính; quan hệ giữa các thành viên hội đồng xét xử với
nhau.
- Mối quan hệ phát sinh giữa các chủ thể tiến hành tố tụng với các chủ
thể tham gia tố tụng. Đó là mối quan hệ giữa toà án, viện kiểm sát, thẩm phán,
hội thẩm nhân dân, kiểm sát viên, thư ký toà án với những người tham gia tố

hành các QĐHC hoặc thực hiện các HVHC có tính chất bắt buộc đối với các
đối tượng bị quản lý hành chính. Việc ban hành các QĐHC hoặc thực hiện
HVHC có thể trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của đối
tượng bị quản lý và gây ra các tranh chấp trong quản lý hành chính nhà nước.
Khác với các hoạt động tố tụng hình sự, dân sự hoạt động tố tụng hành chính
không xác định tội danh và hình phạt hoặc xác định quyền, nghĩa vụ dân sự của
công dân mà chỉ xác định tính hợp pháp của QĐHC hoặc HVHC bị khởi kiện
do đó bên bị kiện trong VAHC luôn luôn là các cơ quan, hoặc cá nhân có thẩm
quyền thực hiện việc ban hành các QĐHC hoặc thực hiện HVHC.
Hai là, pháp luật TTHC Việt Nam quy định quá trình giải quyết VAHC
phải trải qua hai giai đoạn có mối liên hệ mật thiết với nhau, được gọi là giai
đoạn "tiền tố tụng" và giai đoạn "tố tụng".
- Giai đoạn tiền tố tụng: đây là giai đoạn khiếu nại hành chính được các
cơ quan nhà nước thực hiện theo pháp luật về khiếu nại và thủ tục hành chính,
là thủ tục bắt buộc trước khi thực hiện việc khởi kiện VAHC tại toà án.
- Giai đoạn tố tụng: là giai đoạn giải quyết VAHC tại toà án, do các cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng thực
hiện theo quy định của pháp luật TTHC.

15

Ba là, pháp luật TTHC quy định tố tụng hành chính là “tố tụng viết”
mà theo đó chứng cứ các bên đưa ra trong tố tụng hành chính được trao đổi
công khai, các bên có nghĩa vụ chứng minh bằng văn bản. Do các tranh chấp
chủ yếu là việc xác định tính hợp pháp của QĐHC, HVHC bị khởi kiện nên
nguyên tắc “tố tụng viết” đòi hỏi mọi sự tranh luận, giải trình giữa các bên
phải được thể hiện bằng văn bản. Do vậy, giai đoạn xác minh, thu thập chứng
cứ đặc biệt được coi trọng, toàn bộ hồ sơ vụ kiện cũng như căn cứ pháp luật
cho việc giải quyết tranh chấp phải được chuẩn bị khá hoàn chỉnh trước khi
mở phiên toà.

quyền. Quyết định hành chính được các nhà khoa học pháp lý chia thành ba
loại dựa vào tính chất pháp lý của chúng, bao gồm: quyết định quy phạm,
quyết định chủ đạo và quyết định cá biệt cụ thể. Về mặt lý luận thì cả ba loại
quyết định này đều có thể không hợp pháp và có thể trực tiếp hoặc gián tiếp
gây thiệt hại cho cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức và đều có thể bị đình chỉ,
hay bãi bỏ theo quy định của pháp luật. Về hình thức thể hiện, quyết định
hành chính có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức như: văn bản, nói, viết,
ám hiệu, tín hiệu, trong đó hình thức văn bản có tính xác thực, chính xác hơn
cả và các quyết định hành chính quan trọng bao giờ cũng được thể hiện dưới
hình thức văn bản. Quyết định hành chính là đối tượng xét xử của toà án theo
quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính là: các quyết
định hành chính bằng văn bản của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng quốc hội, cơ quan nhà nước
ở địa phương, các Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp được áp
dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể
(Điều 4, khoản1).
Để thực hiện các quyết định hành chính, các dịch vụ hành chính theo
yêu cầu của công dân, các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết
phải thực hiện những HVHC khác nhau. Việc thực hiện các hành vi hành
chính không những là quyền mà còn là nghĩa vụ, trách nhiệm và bổn phận của

17

cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền thực hiện các HVHC, đòi
hỏi phải thực hiện theo đúng pháp luật, khi không thực hiện HVHC theo đúng
quy định của pháp luật có thể gây thiệt hại cho công dân và gây khiếu kiện.
Như vậy, HVHC bao gồm: hành động hoặc không hành động; hành vi hành
chính có thể bị khiếu kiện có thể là hành vi hành chính lạm quyền, hành vi
hành chính vô quyền, hành vi chậm trễ trong công vụ gây thiệt hại cho cá
nhân, tổ chức.

quyết VAHC. Theo nghĩa hẹp, nó là phạm vi nội dung các phán quyết mà toà
án đưa ra khi xét xử VAHC. Theo nghĩa hẹp thì quyền hạn của toà án khi xét
xử VAHC phụ thuộc vào cách thức tổ chức quyền lực nhà nước, sự phân công
rành mạch giữa hoạt động xét xử của toà án với hoạt động quản lý hành chính
nhà nước, bảo đảm không để hoạt động xét xử của toà án cản trở hoạt động
quản lý hành chính nhà nước hoặc chồng chéo chức năng giữa tòa án với các
cơ quan thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Trong hoạt động
quản lý hành chính nhà nước, pháp luật đòi hỏi các QĐHC, HVHC phải thoả
mãn cả yêu cầu về tính hợp pháp và tính hợp lý. Vì vậy, phạm vi quyền hạn
của toà án khi xét xử các VAHC được giới hạn phán xét về các thuộc tính trên
của QĐHC, HVHC.
Hai là, quy định về các chủ thể trong tố tụng hành chính
Trong tố tụng hành chính có hai nhóm chủ thể là chủ thể tiến hành tố
tụng và chủ thể tham gia tố tụng, bao gồm: toà án, viện kiểm sát, thẩm phán,
hội thẩm nhân dân, kiểm sát viên, thư ký tòa án, các đương sự, người đại diện
do đương sự uỷ quyền, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự,
người làm chứng, người giám định, người phiên dịch.
Để quá trình giải quyết VAHC khách quan, đúng pháp luật thì pháp
luật TTHC phải quy định quyền và nghĩa vụ tố tụng cho các chủ thể trên, bảo
đảm cho các chủ thể tiến hành tố tụng độc lập trong tố tụng, được áp dụng các
biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật về giải quyết VAHC; tham
gia vào quá trình giải quyết vụ án một cách dân chủ và bình đẳng để bảo vệ

19

quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Ba là, quy định một trình tự tố tụng hợp lý để giải quyết vụ án hành
chính, phù hợp với tranh chấp hành chính
Để thực hiện được nhiệm vụ này đòi hỏi pháp luật phải có quy định cụ
thể về các bước tiến hành hoạt động tố tụng từ khởi kiện, thụ lý VAHC đến

bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong hoạt động hành chính nhà nước.
Thứ nhất, pháp luật tố tụng hành chính có vai trò là phương tiện thể
chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng về tố tụng hành chính
Khiếu kiện hành chính là một thuật ngữ mới xuất hiện vào giữa thập kỷ
90 của thế XX, nó được sử dụng trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước,
cùng với quá trình cải cách nền hành chính nhà nước trong đó có đổi mới
công tác giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân. Thuật ngữ khiếu kiện hành
chính mới chính thức trở thành thuật ngữ pháp lý, được sử dụng trong các văn
bản pháp luật trong khoảng thời gian gần đây. Khái niệm này ngày càng được
sử dụng phổ biến khi đề cập đến hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo của
công dân.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá
VII về "Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính" đã nhấn mạnh
"Đẩy mạnh việc giải quyết khiếu kiện của dân xúc tiến việc thiết lập hệ
thống Toà án hành chính để xét xử các khiếu kiện của dân đối với các quyết
định hành chính". Thuật ngữ "khiếu kiện" lần đầu tiên được sử dụng trong
Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996. Theo quy định
của Pháp lệnh này thì người khiếu nại có quyền khởi kiện vụ án hành chính
tại toà án để yêu cầu giải quyết sau khi đã khiếu nại lần đầu tại cơ quan hành
chính nhà nước mà không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu đó.
Giải quyết khiếu kiện hành chính là hoạt động mang tính quyền lực nhà
nước của bất cứ một quốc gia nào, tuỳ thuộc vào các quan điểm chính trị -
pháp lý của mỗi quốc gia. Hiện nay, trên thế giới tồn tại phổ biến cơ chế giải

21

quyết khiếu kiện hành chính: vừa do chính các cơ quan hành chính thực hiện
vừa do toà án hành chính độc lập với cơ quan hành chính nhà nước thực hiện.
Ngay từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, trung thành

lĩnh vực, số lượng vụ việc ngày càng tăng, đặc biệt là các khiếu nại về hành
chính, do đó đòi hỏi việc giải quyết khiếu kiện hành chính của công dân phải
được nâng cao cả về chất lượng, đa dạng về phương thức, nhanh chóng và kịp
thời về thời gian.
Tại Đại hội toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986), Đảng ta đã khởi
xướng đường lối đổi mới đất nước, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, từng
bước đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị nhằm phục vụ cho công cuộc
đổi mới kinh tế, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do
dân, vì dân, tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy nền dân
chủ xã hội chủ nghĩa. Đường lối đổi mới này được Đảng ta từng bước hoàn
thiện qua các kỳ đại hội lần thứ VII, VIII, IX.
Đặc biệt, tại Hội nghị Ban chấp hành trung ương lần thứ 8 (khoá VII)
về "Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính" Đảng ta đã khẳng định:
"Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, lấy liên
minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm
nền tảng, do Đảng cộng sản lãnh đạo. Thực hiện quyền dân chủ của nhân
dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm
lợi ích của tổ quốc và lợi ích của nhân dân". Trên cơ sở đó, Đảng ta đã chỉ rõ:
"Đẩy mạnh việc giải quyết các khiếu kiện của dân, soát xét, bổ sung và thể
chế hoá các chính sách, trước hết đối với các lĩnh vực mà dân khiếu kiện
nhiều như những tranh chấp về nhà, đất Xúc tiến việc thiết lập hệ thống toà
án hành chính để xét xử các khiếu kiện của dân đối với các quyết định hành
chính".
Thể chế hoá quan điểm này, tại kỳ họp thứ VIII, Quốc hội khoá IX
ngày 28/10/1995 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức toà án nhân

23

dân, trong đó quy định Toà hành chính thuộc toà án nhân dân được thành lập

Thứ hai, pháp luật tố tụng hành chính có vai trò điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát sinh trong quá trình tố tụng hành chính
Các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình TTHC được pháp luật
điều chỉnh là các quan hệ pháp luật TTHC mà nội dung của các quan hệ pháp
luật này là các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể TTHC, bao gồm các nhóm
chủ thể: tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng. Như vậy, các quan hệ tố tụng
hành chính bao gồm quan hệ giữa các chủ thể tiến hành tố tụng với nhau, các
quan hệ giữa các chủ thể tham gia tố tụng với nhau và các quan hệ giữa các
chủ thể tiến hành tố tụng với các chủ thể tham gia tố tụng.
Các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể tiến hành tố tụng bao
gồm: quan hệ giữa các Tòa án với nhau, như quan hệ giữa Tòa án cấp sơ thẩm
với Tòa án cấp phúc thẩm, quan hệ giữa các Tòa án khi thực hiện việc ủy thác
xác minh, thu thập chứng cứ ; quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Tòa
án nhân dân khi Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng khởi tố vụ án và
kiểm sát hoạt động giải quyết vụ án hành chính; quan hệ giữa các thành viên
hội đồng xét xử VAHC với nhau, giữa Hội đồng xét xử với Kiểm sát viên,
Thư ký phiên tòa. Trong nhóm các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể
tiến hành tố tụng, được trao quyền lực nhà nước, thực hiện các hoạt động tố
tụng để giải quyết vụ án thì pháp luật TTHC có vai trò tạo ra cơ chế bảo đảm
sự phân công, kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước trong quá trình tố
tụng, tạo nên địa vị pháp lý độc lập giữa các chủ thể tiến hành tố tụng với
nhau để việc giải quyết VAHC bảo đảm vô tư, khách quan.
Trong nhóm các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể tiến hành tố
tụng với các chủ thể tham gia tố tụng như quan hệ giữa Hội đồng xét xử với
các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ
án. Nhóm quan hệ này được pháp luật TTHC điều chỉnh chủ yếu bằng
phương pháp quyền lực phục tùng. Do vậy, pháp luật TTHC có vai trò quy
định chi tiết và cụ thể, nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ nguyên tắc mọi công

25

Trích đoạn Những ưu điểm và hạn chế về hoạt động thực hiện pháp luật tố Những nguyên nhân làm hạn chế vai trò của pháp luật tốt ụng hành chính ở Việt Nam hiện nay Nâng cao vai trò của pháp luật tốt ụng hành chính phải căn cứ vào đường lối, chủ trương của Đảng về tố tụng hành chính Nâng cao vai trò của pháp luật tốt ụng hành chính phải bảo Nâng cao vai trò của pháp luật tốt ụng hành chính phải đáp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status