Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 thực hiện tốt phép chia số thập phân - Pdf 57

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Trong các môn học ở Tiểu học môn Toán có vị trí rất quan trọng vì cácc kiến
thức, kĩ năng của môn Toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống rất cần thiết
cho người lao động và để học sinh học các môn học khác ở bậc Tiểu học, đồng thời để
các em học tiếp môn Toán ở các bậc học trên. Môn Toán giúp học sinh nhận biết
những mối quan hệ về số lượng và hình dạng của thế giới hiện thực, nhờ đó mà học
sinh có phương pháp nhận thức một số mặt ở thế giới xung quanh và biết cách hoạt
động có hiệu quả trong đời sống. Ngoài ra, môn Toán còn góp phần rất quan trọng
trong việc rèn luyện cho học sinh phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận,
phương pháp giải quyết vấn đề; nó góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ
độc lập, linh hoạt, sáng tạo, góp phần vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết và
quan trọng của người lao động như: tính cần cù, cẩn thận, óc sáng tạo, tinh thần vượt
khó và phương pháp làm việc khoa học .
Cụ thể là: từ gần nửa học kì I, học sinh lớp 5 mới bắt đầu được làm quen với
khái niệm về số thập phân và học về các phép tính với số thập phân; sau đó vận dụng
các phép tính này vào tính giá trị biểu thức và giải toán xuyên suốt chương trình toán
của lớp 5. Mà khái niệm về số thập phân khá trừu tượng và các phép tính với số thập
phân là khó nhất với học sinh, trong đó đặc biệt là phép chia số thập phân.
Thực tế cho thấy rằng, khi học về nội dung này không ít học sinh gặp khó
khăn. Không chỉ với học sinh đại trà mà ngay cả học sinh có năng khiếu cũng mắc sai
lầm khi thực hiện các phép tính với số thập phân nói chung và phép chia số thập phân
nói riêng. Vì trong bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia của toán học kể cả với số tự
nhiên thì phép tính chia là khó nhất, dễ sai nhất đối với học sinh. Phép chia khó vì khi
thực hiện phép chia học sinh vừa phải nhẩm để tìm thương vừa phải kết hợp cả phép
trừ và phép nhân để tính. Như vậy, trong một bài toán học sinh phải kết hợp đồng thời
vừa nhẩm thương vừa cả trừ, nhân, chia một cách thành thạo thì mới có thể làm đúng được.
Hơn nữa, đối với phép chia với số thập phân thì càng khó hơn nữa vì nó có 4
trường hợp chia đó là : Chia một số thập phân cho một số tự nhiên; Chia một số tự
nhiên cho một số tự nhiên mà thương tìm được là một số thập phân; Chia một số tự
nhiên cho một số thập phân; Chia một số thập phân cho một số thập phân, chứ

1.3. Đối tượng nghiên cứu
Các dạng phép tính chia số thập phân trong chương trình Toán ở khối lớp 5 nói
chung và lớp 5B tại trường tiểu học Trí Nang năm học 2017- 2018 nói riêng.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp luyện tập thực hành
- Phương pháp kiểm tra đánh giá

2


2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5 THỰC HIỆN TỐT
PHÉP CHIA SỐ THẬP PHÂN
2.1. Cơ sở lí luận
Môn Toán có một hệ thống kiến thức cơ bản rất cần thiết cho đời sống sinh hoạt
và lao động. Những kiến thức, kỹ năng Toán học là những công cụ cần thiết để học các
môn học khác và để ứng dụng trong thực tiễn. Toán học có khả năng to lớn trong giáo
dục học sinh về nhiều mặt như: phát triển tư duy lôgic, bồi dưỡng, phát triển những
năng lực trí tuệ (trừu tượng hóa, khái quát hóa, phân tích – tổng hợp, chứng minh…);
ngoài ra, còn giúp học sinh suy nghĩ, làm việc khoa học và góp phần giáo dục những
phẩm chất, đức tính tốt đẹp của người lao động.
Giáo dục Toán học là một bộ phận của giáo dục Tiểu học. Do đó, môn Toán có
nhiệm vụ góp phần vào việc thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu của bậc học, đó là : Trang
bị cho học sinh một hệ thống kiến thức và kỹ năng cơ bản, cần thiết cho việc học tiếp
lên lớp trên hoặc đi vào cuộc sống lao động.
Vận dụng kiến thức vào các hoạt động thực tiễn trong đời sống, từng bước hình
thành, tác phong làm việc khoa học.
Ngoài ra, Toán 5 vừa kế thừa và phát huy các phương pháp dạy học Toán đã sử
dụng trong giai đoạn ở các lớp 1, 2, 3, 4 đồng thời tăng cường sử dụng các phương
pháp dạy học giúp học sinh tự nêu các nhận xét, các quy tắc, các công thức ở dạng

2.2.1.Thuận lợi
- Học sinh có đầy đủ sách giáo khoa, vở bài tập;
- Nhà trường có đồ dùng cần thiết cho giáo viên để phục vụ cho nghiên cứu và
giảng dạy;
- Phòng học đạt chuẩn theo quy định. Có hệ thống điện sáng phụ vụ cho quá
trình học tập;
- Ngoài ra, hàng tuần các tổ sinh hoạt chuyên môn để tìm ra và thống nhất các
phương pháp dạy học thích hợp, đồng thời tổ chức các buổi thao giảng, dự giờ thăm
lớp thường xuyên. Đây là cơ hội cho các giáo viên trong tổ nói riêng và trong trường
nói chung trao đổi, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau để nâng cao chất lượng giáo dục.
2.2.2. Khó khăn
- Lớp 5B do tôi chủ nhiệm 100% học sinh là con em dân tộc thiểu số sống ở
vùng nông thôn đời sống còn khó khăn. Mặt bằng dân trí nói chung thấp các em phải
tự học không có sự giúp đỡ từ phía phụ huynh, việc học tập đa phần phó mặc cho thầy
cô trên lớp;
- Qua thời gian trực tiếp giảng dạy, tôi nhận thấy nhiều học sinh thực hiện chưa
thành thạo 4 phép tính với số tự nhiên. Thậm chí, một số em chưa thuộc bảng nhân,
bảng chia. Cụ thể đối với phép chia như sau:
+ Kỹ năng thực hiện phép chia các số tự nhiên của học sinh còn chậm và yếu;
+ Phần lớn các em chưa có kỹ năng ước lượng thương trong phép chia;
+ Khi chia, một số em còn để số dư lớn hơn hoặc bằng số chia;
4


+ Khi hạ một chữ số tiếp theo ở số bị chia để thực hiện phép chia mà vẫn chưa
chia được các em không viết 0 vào thương mà cứ thế chia tiếp.
- Tư duy của học sinh Tiểu học đang trong quá trình hình thành và phát triển,
còn ở trong giai đoạn tư duy cụ thể nên việc nhận thức các kiến thức toán học trừu
tượng là vấn đề khó.
- Các phép tính liên quan đến số thập phân là nội dung hoàn toàn mới đối với

Hoàn thành tốt
SL
2

Tỉ lệ
10,53%

Hoàn thành
SL
9

Tỉ lệ
47,37%

Chưa hoàn thành
SL
8

Tỉ lệ
42,1%
5


2.2.3. Những nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên
Qua điều tra, khảo sát, tôi thấy có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên.
Song ở đây tôi chỉ đưa ra một số nguyên nhân cơ bản sau:
- Việc nhận thức vị trí, vai trò của môn học đối với các em còn chưa đúng và
chưa sâu sắc, từ đó các em chưa trú trọng vào môn học nên học còn mang tính chất
đối phó, bắt buộc.
- Kỹ năng thực hiện phép cộng, trừ, nhân, chia các số tự nhiên còn chậm và yếu.

ở lớp cũng như ở nhà.
Mặt khác, tôi nhận thấy nề nếp lớp học là rất quan trọng. Nó góp phần quyết định
đến chất lượng học tập của lớp nói chung và của mỗi học sinh nói riêng, nhất là chất
lượng học toán của các em. Vì nếu như các em đi học không chuyên cần thì các em sẽ
bị hổng kiến thức ngay bài các em nghỉ. Do vậy, trong lớp tôi thường xuyên động viên
học sinh đi học chuyên cần, chỉ nghỉ học khi ốm đau hoặc khi có lí do thật cần
thiết.Trường hợp nếu phải nghỉ học, tôi hoặc nhờ học sinh khác tranh thủ thời gian phụ
đạo thêm cho các em những bài học mà các em nghỉ học. Mặt khác, trong giờ học, nếu
các em không tập trung chú ý nghe giảng hoặc không tích cực học tập thì kết quả học
tập sẽ không tốt. Vì vậy ngay từ đầu năm học, tôi đã xây dựng nề nếp lớp ngồi học
nghiêm túc, chú ý lắng nghe giáo viên giảng bài, hăng say phát biểu ý kiến để xây dựng
bài. Mà muốn làm được việc này tôi luôn tuyên dương, nhắc nhở kịp thời khi thấy các
em nghiêm túc hoặc chưa nghiêm túc trong quá trình học tập.
2.3.2. Biện pháp thứ hai: Nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của môn Toán nói
chung và về chia số thập phân nói riêng
- Tuy nhiên, mỗi môn học đều có vị trí và vai trò nhất định nhưng tôi thấy môn
Toán ở bậc Tiểu học nói chung và ở lớp 5 nói riêng nó có vị trí, vai trò đặc biệt quan
trọng vì ứng dụng của nó vào thực tiễn cuộc sống là rất lớn. Vì vậy, ngay từ đầu năm
học tôi nêu rõ tầm quan trọng của môn Toán để từ đó có những hướng dẫn và định
hướng đúng cho học sinh. Riêng đối với phép chia các số thập phân, khi học đến phần
này tôi nêu rõ: phép chia các số thập phân có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng vì thực
hiện tốt phép tính này xem như các phép tính về số thập phân cũng như với số tự nhiên
các em đã nắm vững. Hơn nữa, nó còn xuyên suốt cả quá trình học môn toán ở lớp 5
của các em. Ngoài ra, ứng dụng của phép chia số thập phân trong thực tiễn là rất lớn,
nếu các em không học tốt phần này thì việc học chương trình toán 5 của các em sẽ
không đạt được yêu cầu và các em sẽ không vận dụng được kiến thức vào bài học vào
thực tiễn.
- Khi lựa chọn những nội dung dạy học, ngoài việc tổ chức, hướng dẫn để học
sinh tiếp thu được những nội dung , kiến thức trong sách giáo khoa, giáo viên cần gắn
nội dung bài học với thực tiễn bằng cách: đưa ra những nội dung thật gần gũi với đời

nhanh nhớ nhưng cũng chóng quên nếu không được ôn tập, củng cố thường xuyên. Từ
đó, tôi nhận thấy rằng đây là một khó khăn lớn cho học sinh khi học về các phép tính
với số thập phân nói chung và phép chia số thập phân nói riêng. Vì nếu các phép tính về
số tự nhiên các em không thành thạo thì không thể học được các phép tính về số thập
phân, nhất là phép chia. Xác định được vấn đề này, ngay từ đầu năm học, tôi đã lồng
ghép việc rèn kĩ năng thực hành các phép tính về số tự nhiên vào các buổi sinh hoạt
ngoại khoá hoặc sinh hoạt 15 phút đầu giờ. Nếu thấy em nào thực hiện còn yếu hoặc
chậm thì tôi tranh thủ kèm thêm trong các tiết học toán trên lớp. Đồng thời phân công
học sinh khá, giỏi trong lớp thường xuyên kèm cặp, giúp đỡ và giao thêm bài tập về nhà
rồi lên lớp giáo viên tranh thủ kiểm tra và chữa bài cho các em. Nội dung ôn tập, củng
cố tôi đưa theo trình tự từ dễ đến khó để nâng cao dần kĩ năng tính cho học sinh.
8


2.3.5. Biện pháp thứ năm: Rèn kĩ năng ước lượng thương cho học sinh
Trong khi hướng dẫn cách chia tôi luôn kết hợp hướng dẫn học sinh cách ước
lượng thương. Vì tôi nhận thấy, nêu trong quá trình thực hiện phép chia, kể cả chia số
tự nhiên hay số thập phân mà các em không có kĩ năng ước lượng thương thì tốc độ
làm bài của các em sẽ chậm, các em sẽ không hoàn thành bài theo đúng yêu cầu của
tiết học. Chính vì vậy mà ngay từ đầu năm học, khi hướng dẫn học sinh thực hiện
phép chia với số tự nhiên, tôi đã hướng dẫn các em cách ước lượng thương như sau:
a. Ước lượng bằng cách làm tròn giảm:
Cách này áp dụng cho trường hợp số chia có tận cùng là 1; 2; 3 ; hoặc 4 bằng
cách bớt 1; 2; 3 hoặc 4 đơn vị của số chia để số chia trở thành số tròn chục. Trong thực
tế là ta che bớt chữ số tận cùng của số chia đó đi đồng thời cũng che bớt chữ số tận
cùng của số bị chia để ước lượng thương.
Ví dụ: Muốn ước lượng thương của 72 : 24 ta làm tròn 72 thành 70 và 24 thành
20 rồi nhẩm 70 : 20 được 3 sau thử lại: lấy 24 × 3 = 72. Vậy 72 : 24 = 3.
Hoặc có thể ước lượng thương của 568 : 72 như sau : Số chia ta che chữ số 2 ; số bị
chia che chữ số 8 rồi nhẩm 56 : 7 = 8 ; sau đó thử lại : 72 × 8 = 576, ta thấy 576 > 568.

+Chia một số thập phân cho một số thập phân.
- Khi dạy mỗi dạng chia này , tôi thường tiến hành theo các bước:
+ Bước 1:Hướng dẫn học sinh tìm hiểu một bài toán đơn dưới dạng tóm tắt để
học sinh tự rút ra được phép tính phù hợp với bài toán .
+ Bước 2: Bằng những câu hỏi gợi mở và dẫn dắt để học sinh thấy được sự cần
thiết phải chuyển phép chia với số thập phân thành phép chia với số tự nhiên.
+ Bước 3: Xây dựng kĩ thuật chia về cách đặt tính và tính.
+ Bước 4: Từ cách đặt tính rồi tính, học sinh rút ra quy tắc chia .
+ Bước 5: Tổ chức cho học sinh Thực hành - Luyện tập để vận dụng, củng cố
quy tắc vừa hình thành.
Ví dụ: Dạy bài: “Chia một số thập phân cho một số thập phân”, tôi tiến hành
như sau:
- Học sinh đọc ví dụ 1 ( SGK toán 5 trang 71)
- Giáo viên tóm tắt đề bài toán lên bảng:
Tóm tắt: 6,2 dm sắt : 23,56 kg
1 dm sắt : ….kg?
- GV hỏi : Muốn biết 1 dm sắt cân nặng bao nhiêu ki-lô-gam ta làm như thế nào?
Học sinh : Lấy 23,56 kg : 6,2
- Giáo viên ghi bảng : 23,56 : 6,2 = ? (kg)
- Giáo viên nêu vấn đề bằng cách : Hỏi : Làm thế nào để đưa phép chia về dạng
chia các em đã được học là chia một số thập phân cho một số tự nhiên?
Học sinh nêu: Nhân cả số bị chia và số chia với 10.
Học sinh thực hiện nhân nhẩm và nêu:
23,56 : 6,2 = (23,56 × 10) : ( 6,2 × 10)
23,56 : 6,2 =
235,6 : 62
GV hỏi : Các em hãy quan sát và nhận xét phép tính 23,56 : 6,2 và phép tính 235,6: 62.
10



+ Đếm xem có bao nhiêu chữ số ở phần thập phân của số chia thì chuyển dấu
phẩy ở số bị chia sang phải bấy nhiêu chữ số.
+ Bỏ dấu phẩy ở số chia rồi thực hiên phép chia như chia số tự nhiên.
Tóm lại: Tuy phép chia số thập phân có bốn dạng nhưng khi dạy chúng ta cần
giúp học sinh đưa về hai dạng cơ bản là :
1) Chia một số tự nhiên cho một số tự nhiên mà thương tìm được là số thập phân.
2) Chia một số thập phân cho một số tự nhiên.
Do đó khi dạy, quan trọng là giáo viên cần hướng dẫn học sinh đưa về dạng nào. Vì

11


nếu học sinh nắm vững hai dạng cơ bản này thì khi chia các em sẽ không bị lẫn lộn.
Đồng thời, học sinh nhận thấy rằng khi đưa về hai dạng này thì số chia bao giờ cũng là
một số tự nhiên còn số bị chia có thể là số thập phân hoặc số tự nhiên.
Trong quá trình dạy để tránh học sinh lẫn lộn , trước tiên tôi cho học sinh xác
định bài toán thuộc trường hợp nào, và nhắc lại quy tắc đã học của trường hợp đó.
Ví dụ : 57,5 : 9 = ?
+ Học sinh xác định đây là trường hợp chia một số thập phân cho một số tự nhiên.
+ Học sinh nêu cách chia và thực hiện chia .
Hoặc: 172,4 : 1,42 = ?
+ Học sinh xác định đây là trường hợp chia số thập phân cho số thập phân .
+ Đưa về trường hợp chia một số tự nhiên cho một số tự nhiên .
+ Thực hiện phép tính .
Hay: 90 : 4,25 = ?
Học sinh xác định: để thực hiện phép tính trên phải áp dụng quy tắc: Chia một
số tự nhiên cho một số thập phân .
Học sinh thực hiện thao tác đầu là đếm xem có bao nhiêu chữ số ở phần thập
phân của số chia thì viết thêm vào bên phải số bị chia bấy nhiêu chữ số 0 và bỏ dấu
phẩy ở số chia .

những sai lầm như các trường hợp trên, học sinh còn có thể mắc sai lầm là: các em quên
không đếm xem ở phần thập phân của số chia có bao nhiêu chữ số để thêm vào bên phải
số bị chia bấy nhiêu chữ số 0, xoá dấu phẩy của số chia rồi chia như chia số tự nhiên mà
các em để cả dấu phẩy ở số chia để chia hoặc xoá dấu phẩy ở số chia nhưng không thêm
0 vào bên phải số bị chia hoặc thêm 0 nhưng chưa đúng.
- Chia một số thập phân cho một số thập phân: khi thực hành chia ngoài mắc
những sai lầm như các trường hợp trên, học sinh còn có thể mắc sai lầm là: các em xoá
dấu phẩy ở số chia nhưng chuyển dấu phẩy ở số bị chia sai. Đặc biệt là với trường hợp
mà số chữ số ở phần thập phân của số bị chia ít hơn số chữ số ở phần thập phân của số
chia, các em quên không thêm 0 vào bên phải của số bị chia.
Ví dụ : 32,5 : 1,25
Các em hay chuyển thành phép chia là : 32,5 : 1 ,25 hoặc 32,05 : 1 ,25
- Đối với Chia nhẩm một số thập phân cho 10, 100, 1000, . . . hoặc cho 0,1;
0,01; 0,001; . . . :
Ở các trường hợp chia nhẩm này các em hay nhầm lẫn với nhau nên dẫn đến
nhẩm sai quy tắc.
* Ví dụ 1:
57,63 : 100
- Tính đúng: 57,63 : 100 = 0,5763
- Tính sai:
57,63 : 100 = 5763 ;
57,63 : 100 = 5,763
57,63 : 100 = 0,05763 hoặc
57,63 : 100 = 57630
* Ví dụ 2:
57,63 : 0,001
- Tính đúng: 57,63 : 0,001 = 57630
- Tính sai: 57,63 : 0,001 = 0,05763 ;
57,63 : 0,001 = 0,5763
57,63 : 0,001 = 5763

33 1 0,57
17 2
1,52
4 14
0 70
08
04
Vậy : 33,14 : 58 = 0,57 dư 0,08
Vậy: 0,502 : 0,33 = 1,52 dư 0,0004
* Lưu ý: Để học sinh xác định đúng số dư bằng cách này, tôi yêu cầu học sinh, khi
chia, hạ đến chữ số nào của số bị chia xuống để chia thì phải hạ thẳng cột, không được
hạ lệch sang hàng khác và trường hợp chuyển dấu phẩy của số bị chia sang phải trong
trường hợp chia cho số thập phân thì muốn xác định số dư phải căn cứ vào dấu phẩy
lúc ban đầu chứ không căn cứ vào dấu phẩy lúc sau.
Cách 2: Ngoài ra, sau khi các em thực hiện phép chia xong theo yêu cầu của bài
tôi còn hướng dẫn các em tìm số dư bằng cách: Đếm xem phần thập phân của thương
14


và số chia có bao nhiêu chữ số thì dùng dấu phẩy tách ở phần dư ra bấy nhiêu chữ số
thập phân kể từ phải sang trái (nếu không đủ số chữ số phải thêm 0 vào bên trái phần
dư rồi viết 0 ở phần nguyên và đánh dấu phẩy).
Ví dụ: Tìm số dư của các phép chia sau, nếu chỉ lấy thương đến 2 chữ số ở phần
thập phân
a) 12,4 : 13
12,4 13
12 4 0,95
07 0
05
Vậy: 12,4 : 13 = 0,95 dư 0,05

Xuất phát từ đặc điểm của học sinh tiểu học là các em nhanh nhớ, nhanh hiểu
nhưng cũng nhanh quên nếu như giáo viên không thường xuyên kiểm tra hoặc cho các
em Thực hành - Luyện tập. Vì vậy, sau khi hình thành quy tắc của từng dạng chia tôi
luôn tổ chức cho học sinh học thuộc quy tắc chia ngay tại lớp, bằng cách lặp đi lặp lại
nhiều lần, tổ chức cho học sinh giỏi đọc trước ( có thể nhìn vào cách làm không nhìn
vào ghi nhớ ) tiếp tục cho học sinh ở mức độ hoàn thành và chưa hoàn thành. Sau đó,
đầu tiết học của các buổi tiếp theo tôi tranh thủ kiểm tra quy tắc đã học đồng thời giao
bài tập cho học sinh vận dụng quy tắc vừa học để làm. Đối với những học sinh chưa
15


thuộc quy tắc hoặc chưa biết vận dụng quy tắc vào làm bài tập, tôi thường yêu cầu các
tổ trưởng tranh thủ kiểm tra hoặc kèm thêm trong những giờ ra chơi.
* Lưu ý: Việc chữa bài tập về nhà này, tôi yêu cầu lớp phó học tập phải phân
công lần lượt các bạn trong lớp để em nào cũng được tham gia làm chứ không riêng gì
những học sinh hoàn thành tốt mới chữa bài. Có như vậy thì những học sinh yếu mới
chịu cố gắng. Còn nếu các em làm sai thì giáo viên cũng nắm bắt được. Từ đó kịp thời
uốn nắn, sửa chữa cho các em. Ngoài ra, trong các tiết sinh hoạt tập thể vào cuối tuần,
sau phần đánh giá những ưu điểm, hạn chế về các hoạt động của lớp trong tuần qua và
phổ biến kế hoạch của tuần tới, tôi thường tranh thủ tổ chức cho các em chơi trò chơi
để củng cố một số kiến thức đã học đặc biệt là phần chia số thập phân như trò chơi :
Đố vui toán học hoặc hái hoa dân chủ, …
Ví dụ: Trò chơi : Hái hoa dân chủ
- Mục tiêu của trò chơi: Củng cố lại quy tắc, cách thực hiện tính các trường hợp
chia số thập phân .
- Chuẩn bị : Giáo viên chuẩn bị yêu cầu bài tập hoặc câu hỏi sau đó dán câu hỏi
vào các bông hoa đã cắt sẵn (Các câu hỏi có nội dung liên quan đến về chia số thập
phân ):
+ Thực hiện phép chia 17,4 : 1,45 = ?
+ Tìm X : 9,5 × x = 399

được số câu hỏi nhiều hơn thì thắng cuộc.
2.3.9. Biện pháp thứ chín: Giúp học sinh kiểm tra kết quả phép chia bằng cách
thử lại
Thử lại là cách tốt nhất để kiểm tra kết quả tính của mình. Vì vậy ngay từ đầu
năm học, phần củng cố các phép tính với số tự nhiên đặc biệt là phép chia tôi luôn
nhắc nhở các em sau khi thực hiện chia xong thì các em phải thử lại kết quả bằng
cách: Lấy thương nhân với số chia rồi cộng với số dư (nếu có), nếu kết quả bằng số bị
chia thì kết quả phép chia đã tìm được là đúng, nếu thấy sai thì phải kiểm tra lại bài
xem mình sai ở đâu để sửa chữa.
2.4. Hiệu quả
Qua một thời gian nghiên cứu và áp dụng đề tài vào quá trình dạy học, tôi thấy
học sinh lớp 5B năm học 2017 - 2018 do tôi giảng dạy môn Toán nói chung và nhất là
khả năng làm tính với phép chia số thập phân nói riêng đã được nâng cao lên rõ rệt.
Bước đầu cải thiện được phương pháp và hình thức tổ chức dạy học của bản thân, học
sinh thật sự là chủ thể trong quá trình dạy học; các em đã có động cơ thích thú khi học
toán, nhiều em đã tự mình tìm tòi học hỏi có thái độ học tập chăm chỉ không chán nản
hay sợ học toán như trước.
2.4.1. Kết quả khảo sát chất lượng môn Toán gần cuối kì 1 của lớp (5B) do
tôi trực tiếp giảng dạy năm học 2017 - 2018:
Tổng số
học sinh
18

Hoàn thành tốt
SL
3

Tỉ lệ
16,6%


- Thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn của tổ, khối chúng tôi ngày càng
được trau dồi các kinh nghiệm, áp dụng các sáng kiến vào quá trình dạy học, từng
bước nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường, đáp ứng với mong muốn của học
sinh, phụ huynh và của ngành giáo dục.

18


3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Để đạt được kết quả như trên, trong quá trình giảng dạy, tôi rút ra được một số
kinh nghiệm như sau:
- Trong quá trình dạy học giáo viên cần nắm vững đối tượng học sinh, phân loại
và có biện pháp phù hợp với từng nhóm đối tượng;
- Thường xuyên kiểm tra việc nắm kiến thức của học sinh sau từng đơn vị kiến
thức mới; có hệ thống bài tập luyện tập phù hợp với đối tượng học sinh;
- Sử dụng đồng bộ các biện pháp dạy học, linh hoạt trong quá trình dạy học;
- Rèn cho học sinh thói quen học tập nghiêm túc, cẩn thận, khoa học ngay từ đầu
năm học, tránh để học sinh học vẹt, học đối phó, ….
- Tăng cường sử dụng các đồ dùng dạy học liên quan đến tiết dạy để nâng cao
hiệu quả tiết dạy của mình và đạt được mục tiêu đề ra;
- Liên hệ kịp thời với phụ huynh học sinh để kết hợp trong giáo dục.
3.2. Kiến nghị
- Để tiếp tục góp phần nâng cao hiệu quả dạy học các môn học ở bậc tiểu học
nói chung và môn Toán lớp 5 nói riêng, tôi rất mong được sự quan tâm và quan tâm
hơn nữa từ các cấp chính quyền trên địa bàn xã về cơ sở vật chất cũng như về tinh
thần để khích lệ các em học tốt hơn.
- Thư viện nhà trường hàng năm bổ sung thêm các loại sách tham khảo bổ trợ
môn toán để học sinh có tài liệu tham khảo nâng cao vốn hiểu biết về toán học.
Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ của bản thân rút ra từ thực tế quá trình dạy


20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status