MỤC LỤC
Trang
1.
PHẦN MỞ ĐẦU..............................................................................................1
1.1.
Lí do chọn đề tài........................................................................................1
1.2.
Mục đích nghiên cứu.................................................................................2
1.3.
Đối
tượng
nghiên
cứu................................................................................2
1.4.
2.
Phương pháp nghiên cứu..........................................................................2
NỘI
DUNG.......................................................................................................2
2.1. Cơ sở lí luận .................................................................................................2
2.1.1 Bản đồ tư duy..............................................................................................2
2.1.2. Lập, phân loại BĐTD……………………………………………………………....3
việc hướng dẫn học sinh cách học, liên hệ kiến thức theo hệ thống là điều rất cần
thiết trong quá trình dạy học. Một trong những phương pháp dạy học hiện nay
giúp học sinh có thể khắc phục được các tồn tại trên là phương pháp thiết kế và
sử dụng bản đồ tư duy(BĐTD).
Bản đồ tư duy còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy,… là hình thức ghi
chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của
một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề … bằng cách kết hợp việc sử dụng hình
ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết … Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, việc thiết kế
sơ đồ là theo mạch tư duy của mỗi người.
Với học viên Giáo dục thường xuyên nói chung, đầu vào rất thấp, năng lực
học tập rất kém cùng với đó là yếu tố vùng miền, phong tục tập quán...là những
trở ngại không rễ để vượt qua. Do đó người thầy càng phải gia công sư phạm
nhiều hơn, phải lựa chọn phương pháp dạy phù hợp với đối tượng thì mới mong
cải thiện được phần nào chất lượng, nâng cao hiệu quả học tập của học sinh.
Được phân công giảng dạy sinh học lớp 12, tôi nhận thấy đây là phần kiến
thức tương đối khó, trừu tượng, một tiết học lại gồm khá nhiều kiến thức, nếu
giáo viên không hướng dẫn học sinh cách ghi nhớ, hệ thống hóa kiến thức thì
kiến thức đọng lại ở mỗi học sinh là rất hạn chế. Từ những lí do trên, tôi hình
2
thành ý tưởng đó là ứng dụng BĐTD để dạy học nhằm phát huy tối đa năng lực
của mỗi cá nhân cũng như hiệu quả học tập. Vì vậy tôi lựa chọn đề tài “Sử dụng
Bản đồ tư duy trong dạy học sinh học 12” nhằm nâng cao kết quả dạy học.
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm tâm lí của học sinh GDTX, khả năng tư
duy logic, khả năng ghi nhớ, phương pháp học bài,… mà đề ra các biện pháp tổ
chức dạy và học nhằm phát triển sự ghi nhớ, vận dụng kiến thức cho học sinh.
- Giúp cho các em hiểu một cách sâu sắc hơn về khả năng ghi nhớ của bản
thân, đồng thời tìm ra phương pháp dạy và học thích hợp với chương trình học
Học sinh tự vẽ BĐTD có ưu điểm là phát huy tối đa tính sáng tạo của học
sinh, phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của học sinh, các em tự do chọn
màu sắc (xanh, đỏ, vàng, tím,…), đường nét (đậm, nhạt, thẳng, cong…), các em
tự “sáng tác” nên trên mỗi BĐTD thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức
của từng học sinh và BĐTD do các em tự thiết kế nên các em yêu quí, trân trọng
“tác phẩm” của mình.
Học sinh thiết kế BĐTD phải chọn lọc thông tin, từ ngữ, sắp xếp, bố cục
để “ghi” thông tin cần thiết nhất và lôgic, vì vậy, sử dụng BĐTD sẽ giúp học
sinh dần hình thành cách ghi chép có hiệu quả.
Kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và
in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình
vì vậy việc sử dụng BĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động
tối đa tiềm năng của bộ não.
2.1.2. Lập, phân loại BĐTD
* Các bước lập bản đồ tư duy
- Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm trên một mảnh giấy (đặt nằm ngang)
+ Chúng ta sẽ bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh, ngôn ngữ của chủ đề.
Hình ảnh có thể thay thế cho cả ngàn từ và giúp chúng ta sử dụng tốt hơn trí
tưởng tượng của mình. Sau đó có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ
đề không rõ ràng.
+ Sử dụng màu sắc vì màu sắc có tác dụng kích thích não như hình ảnh,
đặc biệt là các màu sắc bản thân yêu thích.
+ Có thể dùng từ khóa, kí hiệu, câu danh ngôn, câu nói nào đó gợi ấn
tượng sâu sắc về chủ đề.
+ Không nên đóng khung hoặc che chắn mất hình vẽ chủ đề vì chủ đề cần
được làm nổi bật dễ nhớ
+ Chủ đề phải đủ to, rõ, nổi bật trọng tâm cần ghi nhớ.
- Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm
+ Tiêu đề phụ có thể viết bằng chữ in hoa nằm trên các nhánh to để làm nổi bật.
+ Tiêu đề phụ được gắn với trung tâm.
phương pháp giảng dạy dùng BĐTD phát huy hiệu quả cao khi giáo viên tổ chức
cho học sinh lĩnh hội kiến thức.
- Về cơ sở vật chất đã có đổi mới tạo điều kiện cho hoạt động học tập:
phòng công nghệ thông tin, đèn chiếu, bảng phụ…
- Giáo viên được đào tạo và tập huấn đổi mới phương pháp dạy học về sử
dụng BĐTD trong giảng dạy.
- Giáo viên và học sinh có điều kiện tiếp cận nhiều nguồn thông tin từ
nhiều phương tiện khác nhau.
- Phương pháp sử dụng BĐTD trong dạy học các kiểu bài phù hợp tâm sinh lý
lứa tuổi học sinh, khắc phục được sự nhàm chán của phương pháp dạy học truyền
thống. Vì vậy, gây hứng thú cho người học, kích thích học sinh tư duy tích cực.
2.2.2. Khó khăn
5
- Đây là phương dạy học mới nên giáo và học sinh không tránh khỏi lúng
túng trong một số kĩ năng như sử dụng lúc nào, như thế nào, sưu tầm, xử lý
thông tin, vẽ, ý tưởng…
- Nội dung môn Sinh học lớp 12 là khó đối với học sinh GDTX … nên
giáo viên khó dạy, học sinh khó tiếp thu.
- Đòi hỏi giáo viên phải có nhiều kĩ năng khác ngoài kĩ năng sư phạm.
- Giáo viên khó khăn trong việc đánh giá cụ thể hiệu quả làm việc của
từng học sinh.
- Cơ sở vật chất có đổi mới nhưng chưa thực sự phù hợp: Số học sinh,
không gian lớp học, trang thiết bị, đồ dung dạy học, thời gian tiết học…
- Năng lực học sinh thấp, nhất là học sinh GDTX nên đôi khi việc vẽ
BĐTD trong học tập là điều không rễ ràng.
- Quan niệm của xã hội, gia đình, và đặc biệt là học sinh đối với bộ môn
này đôi khi còn lệch lạc: chưa đầu tư, dành sự quan tâm, chưa chú ý, xem
động của học sinh và trên cơ sở đó rút ra kết luận về tình trạng kiến thức của học
sinh.
- Trong quá trình học sinh đang trả lời câu hỏi có thiếu sót hoặc sai, nếu
không có lí do gì cần thiết giáo viên cũng không nên ngắt lời của học sinh. Cùng
là một sai sót nhưng giáo viên phải biết sai sót nào nên sửa ngay và sai sót nào
thì nên đợi học sinh trả lời xong.
- Nên phối hợp các cách kiểm tra và cùng một lúc có thể kiểm tra được
nhiều học sinh: trong lúc gọi một số học sinh lên bảng thì giáo viên ra cho các
học sinh ở dưới lớp câu hỏi khác sau đó thu vở nháp của một số em để chấm.
- Khi tổ chức kiểm tra thì giáo viên phải giải quyết các khó khăn lớn sau
đây: khi một hay vài học sinh được chỉ định lên bảng thì các học sinh khác trong
lớp cần phải làm gì ?. Giáo viên gọi một số học sinh trả lời câu hỏi và yêu cầu
các học sinh ở dưới lắng nghe sau đó đưa ra nhận xét của mình khi giáo viên yêu
cầu: “Bạn trả lời như vậy có đúng không?” “Các em có đồng ý với câu trả lời đó
của bạn không?” “Có điểm nào sai hoặc thiếu không ?”… Ngoài những câu cơ
bản, Giáo viên có thể sử dụng các câu hỏi phụ trong quá trình kiểm tra miệng.
Nhờ những câu hỏi bổ sung đó mà giáo viên có thể hình dung được chất lượng
kiến thức của học sinh.
* Sử dụng BĐTD.
Như ta đã biết, kiểm tra miệng là việc diễn ra thường xuyên, liên tục trong
các tiết dạy. Vì vậy hoạt động này phải đa dạng để tránh sự nhàm chán đơn điệu,
tạo không khí sinh động trong lớp học và giúp học sinh học tập có hiệu quả
hơn.
Tuỳ theo mỗi tiết học và tuỳ theo từng yêu cầu về kiểm tra kiến thức, kĩ
năng mà giáo viên có thể áp dụng thêm cách kiểm tra miệng bằng cách sử dụng
BĐTD. Sử dụng BĐTD vừa giúp giáo viên kiểm tra được phần nhớ lẫn phần
hiểu của học sinh đối với bài học cũ. Vì thời gian kiểm tra bài cũ tương đối ngắn
nên các BĐTD tôi thường sử dụng ở dạng thiếu thông tin, yêu cầu học sinh điền
các thông tin còn thiếu và rút ra nhận xét về mối quan hệ của các nhánh thông
tin với từ khóa trung tâm.
* Những vấn đề tồn tại
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển khả năng ghi nhớ, thông hiểu
và vận dụng kiến thức mới của học sinh, trong đó phương pháp dạy của thầy và
cách học của trò là yếu tố quyết định.
- Phương pháp dạy của giáo viên
+ Sử dụng phương pháp truyền thống chủ yếu là giáo viên độc thoại, độc
quyền đánh giá, thuyết giảng làm HS nhàm chán không tập trung, chú ý bài học.
+ Nội dung bám sát sách giáo khoa, ít liên hệ thực tiễn đời sống nên
không giúp các em ghi nhớ bài một cách tốt nhất.
+ Giáo viên giữ vai trò chủ động điều khiển.
+ Không phối hợp nhiều phương pháp dạy học trong một tiết dạy.
+ Phương pháp, dụng cụ giảng dạy không khoa học.
+ Gây áp lực đến với học sinh dẫn đến học sinh bị ức chế.
- Phương pháp học của học sinh:
+ Chưa có sự chú trọng đến việc học bộ môn, học thuộc lòng một cách
thụ động, ít có sự liên tưởng, liên hệ, tìm hiểu những tập tính, quy luật Sinh học
ngoài thực tế nên dễ quên đi những kiến thức vừa học.
+ Quan điểm các em học để đối phó, để kiểm tra, thi cử lấy điểm, thành tích.
+ Trong quá trình học, đa số các em thụ động, ít phát biểu ý kiến, chỉ mải
nghe, ghi những gì mà giáo viên ghi lên bảng. Khi về nhà thì học thuộc bài một
cách máy móc không cần hiểu rõ bài để hôm sau trả bài.
+ Phần lớn các em đợi gần đến thi hoặc kiểm tra mới học.
+ Các em chưa biết tổ chức cách học theo nhóm, theo tổ.
+ Một số em không chịu khó làm những bài tập cơ bản để ghi nhớ các
kiến thức tốt hơn và lâu hơn.
* Sử dụng BĐTD và một số biện pháp nhằm phát triển sự ghi nhớ,
thông hiểu, vận dụng kiến thức mới của học sinh.
Để nâng cao sự ghi nhớ, thông hiểu, vận dụng kiến thức mới của học sinh
+ Lựa chọn phương pháp học riêng cho mình để ghi nhớ bài thật tốt.
+ Biết liên hệ, kết hợp tri thức đã học với thực tiễn.
+ Thường xuyên tổ chức học theo nhóm để trao đổi khả năng nắm vững
các kiến thức đã học.
+ Khi có những thắc mắc về bài học cần chủ động hỏi giáo viên giảng dạy.
+ Vào lớp cần phải năng động, tự tìm tòi, học hỏi, học cách học…
- Sử dụng BĐTD
Trước tiên tôi yêu cầu học sinh:
+ Làm bài tập về nhà trước khi đến lớp, xem trước bài học mới.
+ Đi học đầy đủ, nếu bạn bỏ một buổi học thì bạn phải mượn vở của bạn
cùng lớp để ghi lại.
+ Ngoài các loại bút thông thường, học sinh cần trang bị thêm các loại bút
dạ quang, bút màu để làm nổi những thông tin quan trọng.
+ Dùng các ký hiệu để ghi bài nhanh hơn.
+ Chú ý lắng nghe những lời giảng của giáo viên. Không cần ghi lại mọi
lời giảng của giáo viên mà hãy tư duy để ghi những điều quan trọng nhất. Luôn
động não chứ đừng chỉ ghi chép máy móc.
10
+ Nếu bỏ lỡ thông tin nào, hãy cách ra vài dòng để bổ sung sau, bằng cách
hỏi lại giáo viên hay các bạn khác.
+ Dành khoảng thời gian để xem xét lại những ghi chép.
+ Ghi chép khi đọc một thông tin, một bài học mới nào đó ở sách giáo
khoa sẽ giúp bạn nhớ được các thông tin đó.
Để sử dụng BĐTD trong khi dạy học kiến thức mới, tôi đã tổ chức các
hình thức sau cho học sinh:
Khi dạy học sinh hoàn toàn bằng bảng tôi thường dành một góc bảng bên
phải để cùng học sinh hoàn thiện BĐTD. Ví dụ khi dạy bài “Đột biến gen” Sinh
học 12, sau khi đã kiểm tra bài cũ, tôi đi theo tiến trình và cách trình bày như
học sinh hoặc nhóm mình đã hoàn thành. Học sinh khác nhận xét, bổ sung.
Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh BĐTD từ đó
dẫn dắt đến kiến thức trọng tâm của bài học. Giáo viên giới thiệu BĐTD là một
sơ đồ mở nên không yêu cầu tất cả các nhóm học sinh có chung 1 kiểu BĐTD,
tôi chỉ chỉnh sửa cho học sinh về mặt kiến thức và góp ý thêm về đường nét vẽ
và hình thức (nếu cần).
Ví dụ: BĐTD hình thành sau khi học xong bài “Hệ sinh thái”
Qua việc hướng dẫn cách ghi, cách học bài nói trên, tôi nhận thấy học
sinh dần có những thay đổi đáng kể. Các em đã tự tin hơn trong việc ghi chép ở
lớp và chuẩn bị bài ở nhà thông qua sự hướng dẫn của tôi. Và, tôi nghĩ rằng việc
hệ thống kiến thức sẽ rất dễ dàng với các em khi các em đã quen với cách làm
việc có hệ thống như trên.
2.3.3. Sử dụng BĐTD trong việc củng cố kiến thức
Củng cố bài giảng là một khâu quan trọng của bài giảng, là một yếu tố
dẫn đến sự thành công của bài giảng. Củng cố bài giảng giúp học sinh nhớ lại và
khắc sâu kiến thức hơn. Ngoài việc xác định kiến thức trọng tâm, học sinh còn
có thể tự đánh giá kết quả học tập của mình. Từ đó các em có thể điều chỉnh lại
phương pháp học sao cho phù hợp.
Bằng các phương pháp củng cố bài giảng cụ thể, giáo viên sẽ giúp học
sinh phát huy tính tích cực, chủ động trong việc tiếp thu nội dung bài, đồng thời
mở rộng và phát triển tư duy cho học sinh.
Củng cố bài giảng còn tạo điều kiện tương tác giữa giáo viên và học sinh.
Điều đó tạo hứng thú học tập cho học sinh, nuôi dưỡng bầu không khí lớp học,
tạo điều kiện để học sinh phát biểu ý kiến.
Một số phương pháp củng cố bài thường dùng:
12
BĐTD vào việc củng cố bài học ở lớp nói riêng và áp dụng cho các kiểu bài nói
chung, tôi thông qua trò chơi cho học sinh là sắp xếp các thẻ ôn bài, tóm tắt đề
mục chính của bài học để tập dần cho HS nhớ các từ khóa (nội dung chính cần
nắm) của bài học. Cụ thể, tôi lấy ví dụ sau khi học xong bài Đột biến cấu trúc và
đột biến số lượng NST (tiếp theo) Sinh học 12 tôi đã thực hiện việc củng cố như
sau:
Tôi cho HS chuẩn bị trước các thẻ ôn bài với các từ khóa:
13
HIỆN TƯỢNG ĐA BỘI
ĐỘT BIẾN NST
MẤT ĐOẠN
ĐỘT BIẾN CẤU TRÚC NST
HIỆN TƯỢNG DỊ BỘI
LẶP ĐOẠN
CHUYỂN ĐOẠN
ĐỘT BIẾN SỐ LƯỢNG NST
ĐẢO ĐOẠN
Sau đó, tôi đảo các thẻ để 2 nhóm 3-5 em tổ chức thi đua hoàn thành bằng
cách dán trên bảng hoặc cá nhân (tùy vào đối tượng lớp) chọn lựa, sắp xếp và
ĐOẠN
ĐỘT BIẾN CẤU TRÚC NST
ĐỘT
BIẾN NST
ĐẢO
ĐOẠN
LẶP
ĐOẠN
ĐỘT BIẾN
DỊ BỘI
ĐỘT BIẾN SỐ LƯỢNG NST
CHUYỂN
ĐOẠN
ĐỘT BIẾN
ĐA BỘI
14
Dạng sơ đồ thứ 3:
ĐỘT BIẾN CẤU TRÚC NST
ĐỘT BIẾN SỐ LƯỢNG NST
ĐỘT
BIẾN NST
hiệu ứng của phần mềm PowerPoint lần lượt đưa ra theo mục đích giảng dạy.
Qua nhiều bài củng cố như cách thực hiện ở trên, tôi nhận thấy các em
nhớ bài nhanh hơn, từng bước xây dựng được kĩ năng diễn giải. Song song với
việc củng cố bài học, khi học sinh đã hoàn thành sơ đồ tóm tắt, tôi thường dành
vài phút đề phân tích nhằm khắc sâu kiến thức qua các từ khóa của sơ đồ, cũng
như hướng dẫn các em kết nối các từ khóa đó. Bởi mục đích cuối cùng của tôi là
giúp các em có thể liên kết các bài có kiến thức liên quan được hệ thống thành
một BĐTD hoàn hảo.
Ví dụ: Củng cố bài “Hệ sinh thái” Sinh học 12, tôi đã dùng như sau:
GV: Vừa rồi chúng ta đã cùng tìm
hiểu các nội dung kiến thức trong bài
Hệ sinh thái. Bây giờ các em hãy
trình bày những kiến thức trọng tâm
đã được học. GV đưa từ khóa Hệ sinh
thái trên máy chiếu.
15
? Bài Hệ sinh thái chúng ta tìm hiểu
mấy nội dung kiến thức? Đó là những
nội dung nào?
HS đứng tại chỗ trả lời, HS khác
nhận xét, bổ sung (nếu cần)
GV đưa ra những nội dung trên máy
chiếu
- Nêu khái niệm hệ sinh thái.
- Nêu thành phần, cấu trúc của hệ sinh thái
- Nêu các kiểu hệ sinh thái
GV cho hiệu ứng ra hai nhánh tiếp theo sau khi HS đã phát biểu
GV đưa lần lượt các nội dung kiến thức.
có thể trình bày theo các đề mục, các vấn đề của nội dung mang kiến thức cần
ôn tập. Đồng thời bài tổng kết cũng có thể trình bày ở dạng các bảng tổng kết,
các sơ đồ thể hiện mối liên hệ các kiến thức giúp học sinh dễ nhìn, dễ nhớ và hệ
thống hóa kiến thức ở dạng khái quát cao. Khi xây dựng các bảng tổng kết cần
rõ ràng các sơ đồ dễ nhìn, đảm bảo tính khoa học và thẩm mỹ.
Ngoài việc chuẩn bị nội dung, kiến thức, câu hỏi cho bài ôn tập, hệ thống
kiến thức đã đựơc trình bày trong sách giáo khoa, giáo viên cần chuẩn bị thêm
một số kiến thức để mở rộng. Các kiến thức, bài tập được lựa chọn cần đảm bảo
trên cơ sở kiến thức phổ thông để học sinh có thể hiểu vận dụng được.
* Sử dụng BĐTD
BĐTD là một công cụ khá mạnh trong những tiết bài tập, ôn tập. Thông
thường tôi tiến hành theo sơ đồ: 1. Sơ đồ hóa kiến thức 2. Nội dung cần ôn
tập 3. Ôn tập tổng kết.
Bước 1. Thông thường tôi thường giao cho học sinh về nhà hoàn thiện
(Cách làm này cũng được áp dụng dạy kiến thức mới khi học sinh đã thành thạo
với BĐTD). Trước khi vào nội dung 2 tôi dành thời gian kiểm tra sự chuẩn bị
cũng như kiểm tra sự ghi nhớ kiến thức của học sinh bằng cách gọi một vài học
sinh lên bảng trình bày những nội dung kiến thức mà mình đã thể hiện trong
BĐTD. Riêng phần này tôi cho các em thoải mái trình bày theo những ý tưởng
đã sắp xếp, các học sinh con lại và giáo viên chỉ làm thêm nhiệm vụ bổ sung
những nội dung còn thiếu trong những phần đã học trong BĐTD.
Bước 2. Tôi hướng dẫn học sinh ôn tập theo những chủ điểm đã có trong BĐTD.
17
Bước 3. Tôi cho học sinh hoàn thiện BĐTD của mình như phần củng cố bài học:
Chú ý phân phối thời gian hợp lý: Thời gian 1 tiết học 45 phút, nên tôi
dùng thời gian của những bài học(sơ đồ) ngắn khoảng 5 - 9 phút để thực hiện.
Khoảng 2 - 4 phút: Các em bổ sung ý tưởng riêng của mình và trao đổi
với các bạn cùng nhóm.
%
12C1
Điểm số và tỉ lệ %
1
0
2
0
3
0
4
2
5
5
6
15
7
7
8
4
9
3.0
4
15
12.1 45.5
9
27.3
3
9.1
1
3.0
0
0
0
18
Điểm tổng kết cuối năm học
Điểm tổng kết và tỉ lệ %
Lớp
Kém
Yếu
Trung bình
Khá
- Nhìn vào điểm tổng kết để xếp loại thì thấy sự sai khác về nhóm điểm
trung bình và nhóm điểm khá không lớn nhưng thực ra điểm tổng kết ở nhóm
thực nghiệm từ 5.5 – 6.4 chiếm tỉ lệ cao hơn hẳn nhóm đối chứng.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Học sinh tiếp cận kiến thức một cách nhẹ nhàng hơn, nắm vững kiến thức
sâu hơn và có khả năng nhớ lâu hơn nhờ tác dụng của sơ đồ tạo hình sinh động
và khoa học.
Theo chủ quan, tôi phân ra 4 cấp độ học sinh khi học theo BĐTD :
Cấp độ 1: HS quan sát BĐTD theo mẫu đã vẽ sẵn
Cấp độ 2: HS tái hiện lại BĐTD sau khi đã quan sát, đã học về kiến thức
cần trình bày trong BĐTD
Cấp độ 3: HS tự vẽ được BĐTD sau khi đã học xong nội dung kiến thức
Cấp độ 4: HS tự đọc kiến thức mới và tự tổng kết được bằng BĐTD
Bên cạnh đó, vẫn có những vấn đề còn chưa được nghiên cứu trong đề tài
như: Sử dụng BĐTD trong các tiết thực hành, tiết bài tập, rèn khả năng ghi chép
(kiểm tra viết) đầy đủ dựa trên BĐTD và tái hiện BĐTD (khi không có bất kì tài
liệu nào) tránh trường hợp học sinh chỉ nhớ ý mà không biết diễn tả đầy đủ… rất
mong được sự góp ý, đánh giá của thầy cô.
3.2. Kiến nghị
- Vận dụng BĐTD vào việc hệ thống hóa kiến thức các chương trong
chương trình Sinh học THPT.
- Cần tổ chức cho giáo viên dạy Sinh học, đồng chí phụ trách thiết bị được
học bồi dưỡng sử dụng thiết bị, sử dụng phần mềm từ đầu năm học.
19
- Vì các giờ dạy Sinh học thường có nhiều đồ dùng, mẫu vật thực hành
khi dạy bằng phương pháp mới cũng đòi hỏi có sự đầu tư cơ sở vật chất nên cần
9. (Website của Bộ GD - ĐT)
10. (Website hỗ trợ GV)
11. (Website về Sinh học)
12. Phần mềm FreeMind, Edraw Mind Map, iMindMap 8
21