BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
----------
HOÀNG THẾ SƠN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Hà Nội – 5/2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
----------
HOÀNG THẾ SƠN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ VÀ CHÍNH SÁCH
MÃ SỐ: 8340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN LÂM THÀNH
Hà Nội – 5/2019
LỜI CẢM ƠN
LỜI NÓI ĐẦU.........................................................................................................1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH.............................................................................7
1.1. Khái niệm về du lịch và phát triển du lịch bền vững..................................7
1.1.1. Khái niệm về du lịch và phát triển du lịch bền vững.................................7
1.1.2. Vai trò của phát triển du lịch bền vững trong phát triển kinh tế xã hội.....8
1.2 Quản lý nhà nước về du lịch........................................................................11
1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước về du lịch...................................................11
1.2.2. Nội dung quản lý nhà nước về du lịch.....................................................16
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về du lịch...........................23
1.3.1. Yếu tố về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên...........................23
1.3.2. Các yếu tố về kinh tế xã hội và môi trường.............................................23
1.3.3. Các yếu tố thuộc về đường lối phát triển du lịch.....................................24
1.4. Kinh nghiệm quản lý Nhà nước về du lịch ở một số tỉnh.........................26
1.4.1. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về du lịch của Lao Cai...........................26
1.4.2 Kinh nghiệm Đà Nẵng..............................................................................28
1.4.3. Bài học kinh nghiệm................................................................................29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯƠC TRONG
LĨNH VỰC DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN.............................30
2.1. Tổng quan về tỉnh Điện Biên, tiềm năng và thế mạnh trong phát
triển du lịch.......................................................................................................30
2.1.1. Giới thiệu chung......................................................................................30
2.1.2 Tiềm năng du lịch.....................................................................................31
2.2. Thực trạng hoạt động du lịch ở tỉnh Điện Biên giai đoạn từ năm 2014 đến
năm 2018.............................................................................................................33
2.2.1 Những kết quả đạt được...........................................................................33
2.2.2. Một số hạn chế về hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Điện Biên giai đoạn
3.2.1 Hoàn thiện việc xây dựng và triển khai thực hiện quy hoạch tổng thể Quy
hoạch chi tiết phát triển du lịch.........................................................................52
3.2.2 Rà soát, xây dựng cơ chế, chính sách tạo bước đột phá để thu hút các
nguồn lực cho đầu tư phát triển du lịch.............................................................54
3.2.3 Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch. .54
3.2.4 Đa dạng hóa các sản phẩm phù hợp với tiềm năng, lợi thế của tỉnh..................55
3.2.5 Đẩy mạnh hoạt động đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch.....56
3.2.6
Đẩy mạnh tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch................................57
3.2.7
Hoàn thiện tổ chức quản lý và nâng cao năng lực quần lý nhà nước về
du lịch và đảm bảo an ninh du lịch....................................................................60
3.2.8
Đẩy mạnh hội nhập và hợp tác phát triển du lịch..................................62
3.2.9 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm trong hoạt động
du lịch................................................................................................................ 63
3.4. Một số kiến nghị..........................................................................................65
KẾT LUẬN............................................................................................................67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................69
PHỤ LỤC ............................................................................................................... 71
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH
BẢNG BIỂU:
đối với sự phát triển du lịch, trong đó nổi bật nhất là các sản phẩm du lịch
lịch sử, sinh thái, văn hóa.
Trong giai đoạn qua, du lịch của tỉnh Điện Biên đã có những phát triển nhất
định nhưng vẫn còn chưa xứng với tiềm năng và lợi thế của địa phương., Ðiện
Biên có nhiều lợi thế đối với phát triển du lịch, đó là có 18 di tích lịch sử được xếp
hạng, bốn di sản văn hóa phi vật thể nằm trong danh mục Di sản văn hóa phi vật
thể quốc gia, trong đó có di tích lịch sử quốc gia đặc biệt chiến trường Ðiện Biên
Phủ. Bên cạnh đó, Ðiện Biên còn sở hữu hệ sinh thái rừng, hang động, hồ nước,
điểm nước khoáng nóng, thuận lợi cho phát triển du lịch nghỉ dưỡng.
Nhờ có sự ưu đãi của thiên nhiên, Ðiện Biên đang là nơi thu hút khách
du lịch trong nước và ngoài nước. Chỉ tính riêng trong mười tháng đầu năm
2018, tỉnh đã đón hơn 600 nghìn lượt khách, trong đó gần 67 nghìn khách
quốc tế; ước tính cả năm sẽ đạt hơn 800 nghìn lượt. Dự kiến, doanh thu ngành
du lịch năm 2018 sẽ đạt trên 1.000 tỷ đồng góp phần tạo việc làm cho hơn 12
nghìn lao động, trong đó có hơn 5.000 lao động trực tiếp. Do đó, rất cần có
những nghiên cứu, giải pháp để du lịch Điện Biên phát triển tốt hơn.
Theo Quyết định Số: 555/QĐ-TTg ngày 16/5/2018 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
tỉnh Điện Biên đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã đặt ra mục tiêu phát
triển du lịch là: Xây dựng triển khai có hiệu quả Đề án bảo tồn, phát huy giá
trị quần thể tích lịch sử đặc biệt chiến trường Điện Biên Phủ theo quy hoạch
tổng thể phát triển khu du lịch quốc gia Điện Biên Phủ - Pá Khoang. Phát
triển du lịch nhanh, bền vững, gắn với an ninh quốc phòng và trật tự an toàn
xã hội. Phát triển du lịch của tỉnh phải đặt trong mối quan hệ với du lịch của
2
các tỉnh trong vùng trung du miền núi Bắc Bộ, với thủ đô Hà Nội và các tỉnh
biên giới nước bạn. Phát triển các loại hình du lịch chủ yếu: Du lịch lịch sử,
Đồng” luận án đã đánh giá được thực trạng QLNN đối với ngành du lịch trên địa
bàn tỉnh Lâm Đồng, từ đó có những giải hoàn thiện QLNN về du lịch góp phần
phát triển ngành du lịch tỉnh Lâm Đồng; Phạm Thị Hà (2010) với luận văn thạc
sĩ tại Đại học kinh tế quốc dân với đề tài “Hoàn thiện quản lý nhà nước về du
lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình” cũng đã tổng kết được cơ sở lý luận về quản lý
nhà nước trong lĩnh vực du lịch, đề xuất những giải pháp hoàn thiện quản lý nhà
nước trong lĩnh vực này tại Ninh Bình; hay Trần Thị Phương Thảo (2017), với
luận văn thạc sĩ tại Đại học kinh tế quốc dân với đề tài “Quản lý nhà nước về du
lịch của chính quyền tỉnh Sơn La” cũng đã đánh giá được hoạt động quản lý nhà
nước tại Sơn La có những đặc thù, và phải đổi mới thời gian tới.
Nguyễn Đình Sơn (2002) cho rằng du lịch là hoạt động của con người mà
trong quá trình đó đồng thời diễn ra cả hai mặt: sản xuất và tiêu dùng các sản
phẩm du lịch, người đi du lịch là những người tiêu dùng các sản phẩm du lịch,
người kinh doanh du lịch là người cung cấp các sản phẩm du lịch, chỉ có hoạt
động diễn ra đồng thời thì mới đảm bảo được một tour du lịch hoàn chỉnh. Để
phát triển kinh tế du lịch ở vùng Bắc Bộ kết hợp với tăng cường củng cố quốc
phòng an ninh trong thời gian tới nhằm góp phần tăng trưởng KT-XH, giải quyết
việc làm và tăng thu nhập người dân, tác giả đã đề xuất phương hướng, mục tiêu
và những giải pháp cơ bản để giải quyết những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
của những tồn tại, hạn chế của kinh tế du lịch.
Hoàng Văn Hoa (2017) cho rằng liên kết phát triển du lịch theo hướng
bền vững là giải pháp tạo sự phát triển mang tính thúc đẩy du lịch toàn Vùng.
Liên kết phát triển trên phạm vi toàn vùng và từng tiểu vùng có mối quan hệ
mật thiết với vấn đề phát triển bền vững. Muốn xây dựng được sự liên kết du
lịch vùng theo hướng bền vững đòi hỏi phải thực hiện các nội dung, hình
thức, giải pháp liên kết hiệu quả. Trong đó, đặc biệt chú ý sự liên kết trong
từng tiểu vùng, tránh các rào cản về hành chính, điều kiện tự nhiên. Liên kết
đòi hỏi phải có sức mạnh tổng thể, phối hợp công tư, hợp tác đa bên.
5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng
Hoạt động quản lý Nhà nước trong lĩnh vực du lịch trên địa bàn tỉnh Điện Biên.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực du
lịch trên địa bàn tỉnh Điện Biên.
- Về thời gian: Từ năm 2014 đến năm 2018
- Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu các hoạt động quản lý Nhà nước
được thực hiện bởi chính quyền tỉnh Điện Biên như nghiên cứu việc triển khai
thực hiện các chính sách, công cụ, hoạt động quản lý Nhà nước về lĩnh vực du
lịch, công tác quản lý Nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Điện Biên.
5. Phương pháp nghiên cứu
Thống kê, tổng hợp và phân tích tài liệu, số liệu, các phương pháp so sánh.
5.1. Phương pháp thu thập số liệu
- Sử dụng số liệu thứ cấp: Số liệu thứ cấp được sử dụng từ báo cáo
tổng kết năm của tỉnh Điện Biên giai đoạn 2014 - 2018.
- Sử dụng số liệu sơ cấp: Số liệu sơ cấp được sử dụng từ các cuộc
phỏng vấn các cán bộ, công chức và công nhân viên công tác trong lĩnh vực
quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Điện Biên, thời gian khảo sát
tháng 4 năm 2019. Tác giả sẽ lập phiếu khảo sát, tiến hành khảo sát 60 cán bộ
và viên chức, người lao động làm du lịch thuộc Sở Văn hoá thể thao và du
lịch tỉnh Điện Biên quản lý.
5.2. Phương pháp xử lý số liệu
Thứ nhất, đối với các phiếu khảo sát, tác giả sẽ tổng hợp và sử dụng phần
mềm Excel để phân tích, sử lý.
Thứ hai, Phương pháp xử lý số liệu tiếp theo được sử dụng là phương pháp
quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm
hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”.
Du lịch đã và đang ngày càng trở thành hoạt động khá phổ biến của con
người trong thời đại ngày nay. Khái niệm du lịch đã được sử dụng rộng rãi
trên sách báo và các phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên, qua mỗi thời
kỳ phát triển, khái niệm về du lịch cũng mang những nét đặc trưng khác nhau
và được nhận thức ngày càng đầy đủ hơn. Khái niệm du lịch có thể được được
định nghĩa theo quan niệm sản phẩm - dịch vụ du lịch hoặc theo hoạt động du
lịch. Theo Liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành (International Union of
Official Travel Oragnization - IUOTO): “Du lịch được hiểu là hành động du
hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên cuả mình nhằm mục
đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc
kiếm tiền sinh sống”.
Có nhiều cách hiểu về du lịch bền vững, như du lịch bền vững là du
lịch mà giảm thiểu các chi phí và nâng cao tối đa các lợi ích của du lịch cho
môi trường tự nhiên và cộng đồng địa phương và có thể được thực hiện lâu
dài nhưng không ảnh hưởng xấu đến nguồn lợi mà nó phụ thuộc vào; hay du
lịch bền vững là: Việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một
cách có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên (và
tất cả những đặc điểm văn hoá kèm theo, có thể là trong quá khứ và cả hiện
tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác động thấp từ du khách và mang
8
lại những lợi ích cho sự tham gia chủ động về kinh tê-xã hội của cộng đồng
địa phương. (World Conservation Union,1996),
Mạng Lưới tổ chức Du lịch Thế giới của Liên Hợp Quốc (United
Nation World Tourism Organization Network – UNWTO) chỉ ra rằng du lịch
bền vững cần phải:
khai thác các đặc sản văn hóa của vùng, người dân trong vùng có thể nâng cao
đời sống nhờ khách du lịch đến thăm quan, sử dụng những dịch vụ du lịch và
sản phẩm đặc trưng của vùng miền, của vùng. Phát triển du lịch bền vững
cũng giúp người làm du lịch, cơ quan địa phương, chính quyền và người tổ
chức du lịch được hưởng lợi, và người dân địa phương có công ăn việc làm.
Phát triển du lịch bền vững còn đảm bảo các vấn đề về xã hội, như việc
giảm bớt các tệ nạn xã hội bằng việc cung cấp công ăn việc làm cho người
dân trong vùng. Ở một cái nhìn sâu và xa hơn, du lịch bền vững giúp khai
thác nguồn tài nguyên một cách có ý thức và khoa học, đảm bào cho các
nguồn tài nguyên này sinh sôi và phát triển để thế hệ sau, thế hệ tương lai có
thể được tiếp nối và tận dụng.
Tổ chức Du lịch Thế giới UNWTO (2015) cũng đã dự đoán xu hướng
phát triển du lịch tới năm 2030 như sau:
- Số lượng khách du lịch đạt con số 1,4 tỷ năm 2020 và 1,8 tỷ vào năm 2030;
- Tới năm 2030, mỗi ngày có 5 triệu khách đi qua biên giới ra nước
ngoài cho các mục tiêu khác nhau như kinh doanh, giải trí...
- Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương tiếp tục là khu vực có tốc độ
tăng trưởng lượng khách đến lớn nhất và cũng sẽ là khu vực có khách du lịch
ra nước ngoài (outbound) lớn nhất.
- Đông Nam Á sẽ là khu vực tăng trưởng lượng khách tới lớn nhất và
Đông Bắc Á sẽ là nơi có lượng khách du lịch tới lớn nhất.
- Các loại hình du lịch thăm thân, thăm bạn bè, sức khỏe, tôn giáo sẽ
tăng nhanh hơn một chút so với khách du lịch giải trí và công vụ.
Du lịch có những bước phát triển mạnh mẽ trong thời gian vừa qua, trở
thành một hoạt động phổ biến, một lĩnh vực kinh tế quan trọng của Việt Nam.
10
Số lượng khách du lịch tăng trưởng nhanh qua các năm đặc biệt là khách du
11
giá trị văn hóa dân tộc; giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi trường; đảm bảo an
ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội;
- Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động mọi nguồn lực cả trong và ngoài
nước đầu tư phát triển du lịch; phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế quốc gia và
yếu tố tự nhiên và văn hóa dân tộc, thế mạnh đặc trưng các vùng, miền trong
nước; tăng cường liên kết phát triển du lịch.
Vùng trung du, miền núi Bắc Bộ trong đó có tỉnh Điện Biên là một
trong 7 vùng du lịch của cả nước có định hướng phát triển là:
- Sản phẩm du lịch đặc trưng của vùng trung du, miền núi Bắc Bộ là du
lịch văn hóa, sinh thái gắn với tìm hiểu bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số.
- Hướng khai thác sản phẩm du lịch đặc trưng của vùng: Du lịch về
nguồn tìm hiểu bản sắc văn hóa các dân tộc Việt Nam; tham quan, nghiên
cứu hệ sinh thái núi cao, hang động, hệ sinh thái trung du; nghỉ dưỡng núi;
nghỉ cuối tuần; thể thao khám phá; du lịch biên giới gắn với thương mại các
cửa khẩu.
1.2
Quản lý nhà nước về du lịch
1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước về du lịch
Quản lý Nhà nước về du lịch được hiểu là quá trình tác động của
Nhà nước đến hoạt động du lịch thông qua hệ thống chính sách pháp
luật, qui hoạch, kế hoạch với mục tiêu phát triển du lịch đúng định
hướng của Nhà nước.
Từ khái niệm trên có thể thấy quản lý Nhà nước là sự tác động của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền đến đối tượng chịu sự quản lý, nhằm hướng
hành vi của họ đến các mục tiêu nhà nước mong muốn thực hiện. Các thành
phần tham gia vào hoạt động du lịch bao gồm: khách du lịch; các doanh
trực thuộc trung ương là sự tác động có tổ chức của chính quyền nhà nước
cấp thành phố trực thuộc trung ương tới hoạt động du lịch trên địa bàn nhằm
thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển bền vững và có hiệu quả, góp phần thực
hiện các mục tiêu KT-XH đề ra của địa phương.
Quản lý nhà nước về du lịch của chính quyền thành phố trực thuộc
13
trung ương là sự tác động có tổ chức của chính quyền cấp tỉnh trong phạm vi
thẩm quyền của mình lên hoạt dộng du lịch trên địa bàn, đáp ứng các yêu cầu,
tiêu chuẩn ngành nhằm đạt mục tiêu của ngành và mục tiêu của địa phương
trong từng giai đoạn phát triển. Đó là mô hình quản lý theo ngành dọc kết hợp
với quản lý theo lãnh thổ trên cơ sở phát huy tính chủ động, sáng tạo của
chính quyền cấp tỉnh trong khung khổ được phân cấp.
Trong bối cảnh hiện nay, quản lý nhà nước về du lịch tại các tỉnh, thành phố
cần đổi mới, hoàn thiện đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển, bởi các lý do sau:
Thứ nhất, đó chính là những hạn chế, yếu kém nội tại trong quản lý nhà
nước về kinh tế nói chung và quản lý nhà nước về du lịch nói riêng, nên cần
thiết phải đối mới nhanh chóng. Việt Nam đang trên con đường đổi mới nền
kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế quản lý của nhà nước vẫn chịu ảnh hưởng
nhiều bởi cơ chế “xin - cho”, quản lý nhà nước vẫn can thiệp quá sâu vào thị
trường nhưng chưa chắc đã mang lại những kết quả tốt đẹp, có khi còn kìm
hãm sự phát triển và làm chệch hướng của cơ chế thị trường. Hệ thống thể chế
thị trường còn thiếu, yếu và không đồng bộ; Bộ máy tổ chức còn cồng kềnh,
chồng chéo, năng lực quản lý còn yếu; công tác cán bộ còn nhiều hạn chế;
công tác cải cách hành chính chưa đạt hiệu quả mong muốn, thủ tục hành
chính còn rườm rà, gây cản trở đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh và
thu hút đầu tư nước ngoài. Đổi mới thể chế và hệ thống chính sách du lịch đòi
triển lên một cấp độ mới, cao hơn nên đứng trước nhiều đòi hỏi gay gắt về
việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, nâng cao năng lực quản lý của Nhà
nước trong hoạch định chính sách và điều tiết nền kinh tế.
Thứ hai, Thế giới đang bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đi kèm
là sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông
tin và truyền thông đã làm thay đổi toàn diện bộ mặt của nền kinh tế thế giới,
một mặt đem lại nhiều cơ hội, thách thức đối với tăng trưởng, phát triển và
đảm bảo công bằng xã hội. Do vậy, công tác đổi mới quản lý của nhà nước sẽ
đương đầu với những khó khăn, thách thức cũng như đón bắt được những cơ
15
hội do quá trình hội nhập đem lại.
Thứ ba, Có nhiều các khiếm khuyết của thị trường mà chính phủ phải
can thiệp để đảm bảo một môi trường cạnh tranh công bằng, minh bạch cũng
như đảm bảo công bằng xã hội. Đối với một quốc gia đang phát triển như Việt
Nam thì các thất bại của thị trường càng trở nên phổ biến và trách nhiệm của
chính phủ hết sức nặng nề. Do đó, việc đổi mới quản lý nhà nước về du
lịchcàng trở nên cấp thiết nhằm nâng cao năng lực quản lý nền kinh tế của
chính phủ nhằm đạt được những mục tiêu tăng trưởng và phát triển của Việt
Nam trong quá trình đổi mới.
Tóm lại, du lịch luôn là ngành quan trọng và sẽ càng trở nên quan trọng
trong quá trình hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới. Do đó, đổi mới
quản lý nhà nước đối với sự phát triển du lịch là vấn đề cấp thiết cả về lý luận và
thực tiễn nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược về tăng trưởng và phát triển
kinh tế xã hội mà Đảng và Nhà nước đặt ra. Do vậy, trong thời gian tới quản lý
nhà nước về du lịch cần đổi mới quản lý một cách toàn diện, xác định rõ chức
năng, nhiệm vụ của bộ máy chính quyền các cấp, các cơ quan chuyên môn. Điều
chỉnh và khắc phục sự chồng chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ; đẩy mạnh
hoạch phát triển du lịch và dùng công cụ này tác động vào lĩnh vực du lịch để
thúc đẩy du lịch phát triển nhanh và bền vững, trở thành kinh tế mũi nhọn của
quốc gia. Đề làm được điều này, nhà nước phải xác định được chiến lược tổng
thể phát triển du lịch phù hợp với điều kiện đất nước, vừa phát huy được tính
đặc thù, huy động được nội lực để tăng khả năng hấp dẫn khách du lịch, vừa
phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa tranh thủ được nguồn lực bên ngoài.
Hoạch định phát triển các hoạt động du lịch là việc định hướng phát
triển thông qua các công cụ như chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, thông tin và
các nguồn lực của nhà nước. Để hoạt động du lịch phát triển cần phải có
hoạch định phát triển du lịch, đây là một trong những nội dung quản lý nhà
nước có tính quyết định đối với sự phát triển hoạt động du lịch trên địa bàn
của chính quyền cấp tỉnh. Hoạch định phát triển du lịch để định hướng hoạt
động du lịch địa phương phát triển theo quỹ đạo và mục tiêu KT-XH đã được
17
định ra, hướng dẫn các nhà kinh doanh, các tổ chức kinh tế hoạt động hướng
đích theo các mục tiêu chung. Việc định hướng phải đảm bảo theo các nguyên
tắc của thị trường, mang tính mềm dẻo, uyển chuyển, vừa đảm bảo tính tự chủ
vừa thực hiện mục tiêu chung.
Việc hoạch định phát triển các hoạt động du lịch ở địa phương phải
đảm bảo phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển chung của vùng và cả
nước, phù hợp với nhu cầu hội nhập ngày càng sâu, rộng vào nền kinh tế thế
giới gắn với tiến trình phát triển đất nước. Xây dựng và công khai các chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển các hoạt động du lịch là công việc rất
quan trọng quyết định định hướng phát triển và có tác dụng định hướng dài
hạn cho các cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động du lịch phát triển. Chính
quyền địa phương xác định rõ xu hướng chung phát triển hoạt động du lịch,
mục tiêu phát triển dài hạn, đồng thời cân đối đủ các nguồn lực cần thiết và