ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THANH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
VÀ TRÌNH TỰ ĐOẠN GEN matK/ITS
CỦA MỘT SỐ MẪU CÂY ĐẬU NHO NHE (Vigna umbellata)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Thái Nguyên, năm 2019
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THANH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
VÀ TRÌNH TỰ ĐOẠN GEN matK/ITS
CỦA MỘT SỐ MẪU CÂY ĐẬU NHO NHE (Vigna umbellata)
Ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 8 42 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới
TS. Nguyễn Hữu Quân, giảng viên Khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Đại học Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện giúp
đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của cô Trần Thị Hồng, cô Cao Thị
Phương Thảo và các thầy cô kỹ thuật viên phòng thí nghiệm của Khoa Sinh học,
Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên trong quá trình làm thí
nghiệm.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Bộ môn Sinh học hiện đại và
Giáo dục sinh học, Bộ phận Sau đại học thuộc Phòng Đào tạo, Trường Đại học
Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong
quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Em xin cảm ơn sự hỗ trợ kinh phí từ đề tài bảo tồn và lưu giữ quỹ gen cấp
Bộ năm 2018 “Nghiên cứu bảo tồn nguồn gen nhóm cây đậu đỗ địa phương thu
thập từ các tỉnh thuộc miền Bắc Việt Nam”, mã số B2018-TNA-09-GEN.
Em xin bày tỏ lời biết ơn đến gia đình, bạn bè đã động viên, khuyến khích
và giúp đỡ em trong tiến trình học tập và hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
MỤC LỤC
2.2. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................. 19
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái, giải phẫu ........................... 19
2.2.1.1.Nghiên cứu hình thái ............................................................................... 19
2.2.1.2. Phương pháp giải phẫu thực vật ............................................................. 20
2.2.2. Phương pháp hóa sinh ............................................................................... 20
2.2.2.1.Xác định hoạt tính α-amilase .................................................................. 20
2.2.2.2 Xác định hoạt tính protease ..................................................................... 22
2.2.2.3. Định lượng protein tan ........................................................................... 23
2.2.2.4. Phương pháp xác định hàm lượng isoflavon ......................................... 24
2.2.2.5. Xác định hàm lượng lipit ....................................................................... 24
2.2.3. Phương pháp sinh học phân tử .................................................................. 25
2.2.4. Phương pháp xử lý và phân tích kết quả ................................................... 27
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................ 28
3.1. Ðặc điểm hình thái ngoài và giải phẫu của các giống đậu Nho nhe ............ 28
3.1.1. Ðặc điểm hình thái ngoài của các giống đậu Nho nhe.............................. 28
3.1.2 Hình thái giải phẫu của các giống đậu Nho nhe ........................................ 36
3.1.2.1. Hình thái giải phẫu của rễ ...................................................................... 36
3.1.2.2 Hình thái giải phẫu của thân.................................................................... 37
3.1.2.3. Hình thái giải phẫu của lá....................................................................... 38
3.2. Hoạt tính α- amylase từ mầm hạt đậu Nho nhe ........................................... 39
3.3. Hoạt tính enzyme protease từ mầm hạt đậu Nho nhe .................................. 41
3.4. Định lượng protein tan ................................................................................. 42
3.5. Hàm lượng isoflavone từ mầm hạt đậu Nho nhe ......................................... 43
3.6. Hàm lượng lipit trong các mẫu đậu Nho nhe ............................................... 44
3.7. Đặc điểm của vùng gen ITS phân lập từ mẫu đậu Nho nhe ........................ 45
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .......................................................................... 50
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 50
KIẾN NGHỊ ........................................................................................................ 50
THÀNH TÍCH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ................................................ 51
FAO
HDL
INRA
ITS
LDL
matK
PCR
RAPD
RNA
rRNA
SSR
Tên tiếng Anh
Centre de coopération
international en recherche
agronomique
pour
le
développement
Deoxyribonucleic acid
Ethylene diamine tetra
acid cetic
Food and Agriculture
Organization of the United
Nations
High density lipoprotein
cholesterol
Institut National de la
Phản ứng chuỗi polymerase
Đa hình DNA nhân bản ngẫu nhiên
Ribonucleic axit
riboxom RNA
Đa hình các đoạn lặp lại đơn giản
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Danh sách các mẫu đậu Nho nhe sử dụng trong nghiên cứu ............. 18
Bảng 2.2. Các hóa chất sử dụng trong thí nghiệm.............................................. 18
Bảng 2.3. Thiết bị sử dụng trong thí nghiệm ...................................................... 19
Bảng 2.4. Chương trình gradient nồng độ của pha động .................................... 25
Bảng 2.5. Thông tin về cặp mồi ITS sử dụng trong nghiên cứu ......................... 26
Bảng 2.6. Thông tin về cặp mồi ITS sử dụng trong nghiên cứu ......................... 26
Bảng 3.1. Đặc điểm hình thái hạt của các giống đậu Nho nhe ........................... 34
Bảng 3.2. Định tính α-amylase của các giống đậu Nho nhe .............................. 39
Bảng 3.3. Hoạt tính α-amylase của các giống đậu Nho nhe............................... 40
Bảng 3.4. Hoạt tính protease của các giống đậu Nho nhe .................................. 41
Bảng 3.5. Hàm lượng protein tan của các giống đậu Nho nhe ........................... 42
Bảng 3.6. Hàm lượng isoflavone trong hạt nảy mầm 3 ngày tuổi của 4 mẫu đậu
Nho nhe ............................................................................................................... 43
Bảng 3.7. Hàm lượng lipit của các giống đậu Nho nhe...................................... 45
Bảng 3.8. Hệ số tương đồng và hệ số phân ly dựa trên trình tự vùng gen ITS từ
mẫu đậu Nho nhe NN18-LC và NN20-TC với các loài trên GenBank .............. 49
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Ở Việt Nam đậu đỗ được trồng ở các tỉnh thành trên cả nước. Các giống
đậu đỗ rất phong phú và đa dạng gồm các giống nhập nội, giống lai tạo, giống
đột biến và tập đoàn các giống đậu đỗ địa phương. Do vậy, nguồn gen nhóm
cây đậu đỗ địa phương cần phải được bảo tồn trong một môi trường thuận lợi,
ổn định, ít có những biến đổi khắc nghiệt mang tính hủy diệt nguồn gen.
Do nhiều nguyên nhân như sự tăng dân số, nhu cầu lương thực và các nhu
cầu khác của con người ngày càng tăng dẫn đến khai thác đất rừng, đất nông
nghiệp và các nguồn tài nguyên một cách quá mức. Ngoài ra do các yếu tố tự
nhiên như thiên tai, dịch bệnh và sự phát triển nhanh của các giống mới có
năng suất cao dẫn đến nguồn tài nguyên di truyền ở nhiều vùng sinh thái đã suy
giảm nghiêm trọng. Sự suy giảm nhanh và mạnh của các giống đậu đỗ địa
phương ở các khu vực miền núi khi mùa mưa đến. Trước tình trạng các giống
đậu đỗ địa phương, đặc biệt là giống đậu Nho nhe địa phương đang dần bị thoái
hóa và mất dần các đặc tính quý của giống, việc thu thập nguồn gen, xác định
đặc điểm sinh học và mã vạch DNA là rất cần thiết.
Đậu Nho nhe (Vigna umbellata) là cây có giá trị dinh dưỡng cao cung cấp
thực phẩm cho con người, làm thức ăn cho gia súc, cung cấp nguyên liệu chế
biến. Đậu Nho nhe có khả năng cải tạo và làm tốt đất, giảm thiểu việc đầu tư
phân đạm vô cơ so với nhiều loại cây trồng khác, góp phần bảo vệ môi trường
bền vững. Kỹ thuật canh tác đậu Nho nhe đơn giản, dễ tăng vụ, trồng xen, trồng
gối với nhiều loại cây trồng khác.
Đậu Nho nhe phân bố rải rác ở một số địa phương thuộc khu vực miền núi
phía Bắc. Vì vậy, công tác thu thập đậu Nho nhe để có được một tập đoàn
giống phục vụ công tác lưu giữ và bảo tồn nguồn gen là mục tiêu cần hướng
1.1.1. Hệ thống phân loại
Họ Đậu còn gọi là họ Cánh bướm (danh pháp khoa học: Fabaceae) thuộc
bộ Đậu. Họ Đậu là họ thực vật có hoa lớn thứ ba sau họ Phong lan và họ Cúc
gồm khoảng 730 chi và 19.400 loài. Các loài trong họ Đậu rất đa dạng và tập
trung chủ yếu ở các phân họ như phân họ Trinh nữ (Mimosoideae) và phân họ
Đậu (Faboideae), chiếm khoảng 9,4% trong tổng số loài thực vật hai lá
mầm. Các loài trong họ Đậu chiếm khoảng 16% các loài cây trong vùng rừng
mưa nhiệt đới Nam Mỹ. Ngoài ra, họ Đậu cũng có mặt nhiều ở các rừng mưa
và rừng khô nhiệt đới thuộc châu Mỹ và châu Phi [11]. Việc chia họ Đậu thành
3 phân họ hay tách các phân họ của nó thành các họ riêng biệt vẫn còn nhiều
tranh cãi. Có rất nhiều thông tin về dữ liệu phân tử và hình thái học chứng minh
họ Đậu là một họ đơn ngành [23]. Quan điểm này được xem không chỉ ở cấp
độ tổng hợp khi so sánh các nhóm khác nhau trong họ này và các quan hệ họ
hàng của chúng mà còn dựa trên các kết quả phân tích về phát sinh loài gần đây
dựa trên DNA [36].
Tên gọi chủ yếu của các loài trong họ Đậu là đỗ hay đậu và họ này chứa
một số loài quan trọng bậc nhất (các loài đậu, đỗ, lạc, đậu tương và đậu lăng)
giúp cung cấp thực phẩm cho con người [12]. Các loài khác trong họ Đậu cũng
là các nguồn cung cấp thức ăn quan trọng cho gia súc và gia cầm hoặc làm
phân xanh (như loài đậu lupin, cỏ ba lá, muồng hay đậu tương) cung cấp cho
đất. Một số loài thuộc các chi Laburnum, Gleditsia, Acacia, Mimosa và Delonix
được sử dụng làm cây cảnh. Một số loài khác có các tính chất y học hoặc diệt
trừ sâu bọ hay sản sinh ra các chất quan trọng như gôm Ả-rập, tanin, thuốc
nhuộm hoặc nhựa. Một số loài như sắn dây có nguồn gốc ở khu vực Đông Á,
được trồng đầu tiên tại miền Đông Nam Hoa Kỳ nhằm cải tạo đất và làm thức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
đũa (V. unguiculata). Giống như các loài thuộc chi Vigna ở châu Á, đậu Nho
nhe được trồng vào mùa ấm áp khá ngắn trong năm và trồng chủ yếu dưới
dạng hạt khô. Trước đây, nó được trồng rộng rãi dưới dạng cây trồng trên vùng
đất thấp sau khi thu hoạch lúa mùa, nhưng nó đã bị thay thế bởi các giống đậu
có thời gian ngắn hơn. Ở Việt Nam, đậu Nho nhe được trồng phổ biến ở các
tỉnh thuộc miền núi phía bắc như Sơn La, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Lào
Cai. Đậu Nho nhe thích hợp trên các loại đất trồng khác nhau. Ngày nay, đậu
Nho nhe phát triển nhanh chóng và có khả năng sản xuất một lượng lớn thức ăn
gia súc bổ dưỡng và hạt của nó có chất lượng cao.
Sự phát triển của cây đậu Nho nhe cho thấy tính đa hình thích nghi với các
môi trường đa dạng. Sự phân bố của đậu Nho nhe từ khí hậu nhiệt đới ẩm đến
cận nhiệt đới. Những giống đậu Nho nhe này được cho là có nguồn gốc từ
mẫu Vigna umbellata var gracilis hoang dã, có khả năng sinh sản chéo và được
phân phối từ miền Nam Trung Quốc đến phía Bắc Việt Nam, Lào, Thái Lan,
Myanmar và Ấn Độ.
1.1.2. Đặc điểm hình thái
Đậu Nho nhe thuộc nhóm thực vật có hoa với tên khoa học là Vigna
umbellata, thuộc chi đậu Vigna, họ Fabaceae, bộ Fabales. Đậu Nho nhe có
thân mảnh, chiều cao từ 1m trở lên, khi còn non trên thân cây có những sợi
lông mảnh và khi trưởng thành thì không có lông. Thân cây có nhánh và một số
vùng thân cây có thể leo. Lá có hình trái tim, lá chét hình trứng hoặc hình chóp,
có lông nhung thưa thớt trên các gân của cả hai bề mặt lá, gốc rộng hình nêm,
toàn bộ hoặc hơi thùy, ba gân lá từ gốc, có chóp nhọn. Hoa mọc trên các nách
dài 5-10 cm. Mỗi nách lá có nhiều hơn 2 hoa. Hoa có hình dạng nhú và màu
vàng sáng, cuống hoa ngắn. Quả nang dài, không có lông, dài từ 7,5-12,5 cm
chứa 6-10 hạt thuôn, mỗi hạt dài 6-8 mm với một lõm. Hạt đậu Nho nhe có
màu sắc rất đa dạng, từ vàng lục đến đen qua vàng nâu hoặc lốm đốm, hình
(4) Đậu đỗ giúp duy trì tuổi trẻ: Một trong những yếu tố làm đậu đỗ trở
nên cần thiết cho sức khỏe con người đó là rất giàu chất chống ôxy hóa. Các
chất chống ôxy hóa cũng là những vi chất giúp bảo vệ cơ thể chống lại những
ảnh hưởng không mong đợi như sự lão hóa và ung thư. Như vậy, đậu đỗ có khả
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
năng hỗ trợ, bảo vệ cơ thể khi đang mắc bệnh ung thư, cũng như giúp kéo dài
tuổi xuân và tinh thần lạc quan, tươi trẻ.
(5) Giúp ổn định lượng đường trong máu: Chất xơ có ở các thực phẩm
như đậu nành, đậu Hà Lan, đậu đen, đậu Nho nhe là chất xơ tan trong nước
giúp làm giảm cholesterol, điều hòa huyết áp, giảm co thắt tim, chống oxy hóa.
Chất xơ làm giảm cholesterol bằng cách làm giảm chất béo LDL và tăng HDL.
Nếu chế độ ăn nhiều bơ, cholesterol tăng cao, nhưng khi thêm chất xơ vào khẩu
phần ăn thì lượng cholesterol giảm xuống 20%. Lượng cholesterol tăng cao
trong máu là nguyên nhân gây một số bệnh tim mạch. Thực phẩm có chất xơ có
nhiều khả năng bình thường hóa lượng đường trong máu, giảm đường sau bữa
ăn, tăng công hiệu của Insulin. Đặc biệt, chất xơ tan trong nước rất tốt vì nó
ngăn cản không cho đường hấp thụ vào ruột và làm giảm đường trong máu tới
30%. Người mắc bệnh tiểu đường cũng hay có biến chứng xơ vữa động mạch
vì triglyceride lên cao. Chất xơ có thể làm giảm triglyceride và mỡ xấu LDL và
làm tăng mỡ lành HDL.
Giá trị dinh dưỡng của các thực phẩm nguồn gốc thực vật nói chung cũng
như giá trị của các thực phẩm thuộc họ Đậu nói riêng đều tốt cho sức khỏe,
phòng tránh các bệnh tăng huyết áp, tiểu đường, thừa cân béo phì,... Tuy nhiên
để duy trì chế độ ăn hợp lý, tốt cho sức khỏe, phù hợp với từng lứa tuổi, khẩu
phần ăn hàng ngày cần phải cân đối giữa đạm động vật và thực vật. Hàm lượng
protein thô của đậu Nho nhe thấp hơn một lượng đáng kể so với hầu hết các loại
sống của con người. Trong đời sống, con người sử dụng các loại đậu đỗ cũng
như đậu Nho nhe để làm thức ăn và rau hàng ngày. Mùa hè ăn nhiều đậu Nho
nhe (hay đậu gạo) có thể làm dịu tình trạng khô khát khó chịu, có hiệu quả xoa
dịu đối với chứng phù nề do mùa hè nóng ẩm gây ra, đặc biệt là phù nề chi
dưới. Ngoài ra, đậu Nho nhe còn được nấu xôi rất ngon dẻo là món ăn phổ biến
ở các tỉnh vùng núi phía Bắc nước ta. Quả đậu chín sau khi được thu hoạch sẽ
được phơi khô và chế biến thành những món ăn mang nét đặc trưng riêng.
Một đặc trưng nổi bật khác của các loài cây thuộc họ Đậu và đậu Nho nhe
là chúng có quan hệ mật thiết với nhiều loài vi khuẩn tại các nốt sần trên rễ của
chúng. Các loại vi khuẩn này được biết đến như là vi khuẩn nốt rễ (Rhizobium),
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
có khả năng lấy khí nitơ (N2) trong không khí và chuyển hóa nó thành các dạng
nitơ mà cây có thể hấp thụ được (NO3- hay NH4+). Hoạt động này được gọi
là cố định đạm. Cây đậu cung cấp nơi ở và dinh dưỡng, còn vi khuẩn nốt rễ có
vai trò là nhà cung cấp nitrat có ích, tạo ra một quan hệ cộng sinh. Mối quan hệ
này không chỉ giúp tạo đạm cho cây đậu sử dụng mà còn cho cả các cây khác
xung quanh, do đó có tác dụng cải tạo đất.
Năm 2016, Heuzé và cộng sự đã nghiên cứu về đậu Nho nhe Vigna
umbellata trong Feedipedia - một chương trình của INRA, CIRAD, AFZ VÀ
FAO cho thấy đậu Nho nhe được coi là một loại thức ăn cao cấp cho gia súc để
tăng sản lượng sữa trong chăn nuôi [21]. Smil (1997) nhận thấy, hầu hết các
cây họ Đậu có chứa một hoặc một số chất ức chế enzyme và các yếu tố chống
độc trong khi thì hàm lượng của các chất này dường như có rất ít trong cây đậu
Nho nhe [34].
1.2. Nghiên cứu sử dụng mã vạch DNA
Khái niệm mã vạch DNA được Hebert đưa ra lần đầu tiên vào năm 2003,
vật mà mình nghiên cứu.
Vùng ITS (Internal Transcribed Spacer) là locus được giải mã phổ biến
nhất. Vùng ITS có hiệu quả cao trong nghiên cứu phân loại nhiều đối tượng
thực vật và nấm (ngoại trừ dương xỉ) và đây là một locus được sử dụng đọc
trình tự với DNA ngắn (Stoeckle et al, 2003) [35]. Ở mức độ loài, vùng ITS có
mức độ đa dạng cao (khoảng 13,6% giữa các loài gần gũi) và đã được chứng
minh trong hầu hết các nghiên cứu. Thuận lợi của vùng ITS là có thể nhân bản
theo hai đoạn nhỏ hơn (ITS1 và ITS2) nằm hai bên với locus 5,8S, điều này rất
có ý nghĩa khi nhân bản các mẫu bị hư hại. Vùng ITS cũng đã được chứng
minh có mức độ biến đổi thấp bên trong loài (Baldwin et al, 1995) [10].
Vùng gen matK (gen mã hóa cho maturaseK) được phát hiện đầu tiên trên
cây thuốc lá (Nicotiana tabacum) khi giải trình tự vùng gen trnK mã hóa cho
tRNALys (UUU) của lục lạp. Nó gồm 1 đoạn ORF chứa 509 nucleotit nằm
trong intron của gen trnK và chưa rõ chức năng. Các nghiên cứu sử dụng trình
tự gen matK để xây dựng cây phát sinh loài cho thấy gen matK có tính đa dạng
hơn những gen khác có trong lục lạp và do vậy gen matK trở thành gen chỉ thị
quan trọng để giúp phân loại thực vật [33].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
Năm 2004, Ba và cộng sự đã sử dụng chỉ thị RAPD để xác định 26 giống
đậu Nho nhe (gồm 5 giống thuần chủng và 21 giống địa phương) thu thập từ
Tây, Đông và Nam Phi. 28 cặp mồi được sử dụng để nhân dòng cho 202 băng;
trong đó có 180 băng thể hiện sự đa hình giữa các giống thuần chủng trên 181
giống địa phương. Kết quả chứng minh được các giống địa phương có sự đa
dạng hơn so với các giống thuần chủng [9].
Chen và cộng sự (2016) đã sử dụng chỉ thị maker SSR để xác định các loài
đậu Nho nhe (Vigna umbellata L.). Trong nghiên cứu này, khoảng 26 triệu
đáng kể theo thời gian ngâm và nảy mầm; lượng các chất này giảm mạnh khi
quan sát các hạt ngâm được nấu chín và hấp khử trùng. Kết quả cho thấy, các
phương pháp chế biến và nấu các hạt đậu Nho nhe trong nước, thì việc hấp khử
trùng làm giảm mạnh nhất các chất nghiên cứu [16].
Từ năm 1995-1996, Qamar-uz-Zaman và Asghar Malik đã nghiên cứu
năng suất cây trồng của hệ thống trồng xen canh giữa cây ngô và đậu Nho nhe
tại khu vực nghiên cứu nông học thuộc Đại học Nông nghiệp, Faisalabad. Thí
nghiệm được bố trí thành các lô: (1) Ngô hoặc đậu Nho nhe được trồng riêng;
(2) Ngô được trồng với một hàng đậu Nho nhe; (3) Ngô được trồng với hai
hàng đậu Nho nhe; và (4) Ngô được trồng với ba hàng đậu Nho nhe. Trong
cách bố trí trên, Ngô được trồng trong các dải hàng cách nhau 90 cm và cây
đậu Nho nhe được trồng xen giữa các dải. Kết quả bố trí cho thấy, năng suất
của cả hai loại cây trồng thành phần thấp hơn so với cây trồng đơn lẻ nhưng thu
nhập trên 1ha đã tăng lên do trồng xen [29].
Năm 2004, Giovanni và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu sử dụng đoạn
DNA để chuyển gen vào cây đậu Phaseolus Vulgaris L. giúp thay cho việc sử
dụng vector plasmid chứa gen kháng kháng sinh. Sử dụng phương pháp súng
bắn gen, đoạn DNA có kích thước 1,5 kb mang gen đã được chuyển vào cây
đậu, hiệu quả chuyển gen sử dụng đoạn DNA được so sánh với vector
plasmid. Kết quả đã chứng minh rằng, tần số biến đổi gen sử dụng 2 phương
pháp là đương nhau. Đối với giống Carioca, tần số là 0,8% (sử dụng đoạn
DNA) và 0,7% (sử dụng vector plasmid). Đối với giống Oledit, tần số là 0,2%
(sử dụng đoạn DNA) và 0,3% (sử dụng vectơ plasmid). Ngoài ra, các phân tích
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
South blot cho thấy độ phức tạp của mẫu tương tự ở cây chuyển gen thu được
với toàn bộ đoạn plasmid hoặc DNA [18].
nồng độ vôi (đối chứng; 0,2; 0,4 và 0,6 tấn/ha) trong các ô chính và với 4 giống
đậu Nho nhe (RBS-16, RBS-53, PRR-2 và RCRB-4) trong các ô con (thí
nghiệm lặp lại ba lần). Kết quả cho thấy rằng việc tăng nồng độ vôi (trong
luống) từ 0-0,6 tấn/ha làm tăng đáng kể về sinh trưởng và năng suất của các
giống đậu. Các thông số chất lượng của cây đậu Nho nhe cũng bị ảnh hưởng
đáng kể bởi việc áp dụng vôi trong quá trình trồng. Năng suất tối đa (39,098
INR/ha), năng suất thực (27,281 INR/ha), tỉ lệ lợi ích: chi phí (2,29), hiệu quả
sản xuất và hiệu quả kinh tế cũng được ghi nhận khi sử dụng vôi ở nồng độ 0,6
tấn/ha. Trong số các giống đậu nghiên cứu, giống RBS-53 có sự sinh trưởng,
thuộc tính năng suất, năng suất hạt, năng suất thân khô, năng suất sinh học và
chỉ số thu hoạch cao hơn. Tương tự, năng suất và hàm lượng protein trong
giống RBS-53 cao hơn các giống còn lại. Năng suất tối đa, năng suất thực, tỉ lệ
lợi ích: chi phí, hiệu quả sản xuất và hiệu quả kinh tế đã được ghi nhận cho
giống RBS-53 [30].
Năm 2014, Linda khi nghiên cứu "Lợi ích sử dụng đậu Nho nhe Vigna
umbellata đã nhận thấy giá trị dinh dưỡng của nó gần với protein có trong thịt".
Đậu Nho nhe đã được tiêu thụ ở Brazil và các nước phương Đông để chế biến
thành kẹo đậu và được tiêu thụ như các loại đậu khác, có lợi cho sức khỏe.
Nghiên cứu cho thấy hiệu quả cao trong việc xác định các đặc tính dinh dưỡng
của đậu, có vai trò trong trồng trọt, tiêu thụ và đậu Nho nhe được coi là cây
trồng có thể sử dụng để xuất khẩu làm nguồn dinh dưỡng cho con người [28].
Như vậy, các nghiên cứu về đậu Nho nhe trên thế giới tập trung chủ yếu
liên quan tới thành phần dinh dưỡng, đặc điểm nông học và đặc điểm di truyền.
1.3.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Dựa trên các kết quả đã nghiên cứu, những lợi ích chính của việc ứng
dụng kỹ thuật trồng xen cây họ Đậu và các cây trồng khác nhằm: (1) Tăng
lượng sinh khối che phủ đất, giảm xói mòn đất và rửa trôi phân bón và chất hữu
cơ từ đất, như vậy có thể góp phần giảm phát thải khí nhà kính; (2) Từng bước
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
triển tốt. Gieo đậu Nho nhe thành 1 hàng giữa mỗi hai hàng sắn, trong các hốc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN