GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM - Pdf 57

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG
NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12 quy định Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam (NHNN) là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, là Ngân hàng
trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Do vậy, để đáp ứng
yêu cầu hoạt động của NHNN Việt Nam, cơ chế tài chính của NHNN Việt Nam
được xây dựng với các nội dung đặc thù, là sự kết hợp giữa nguyên tắc quản lý
ngân sách nhà nước với các thông lệ quốc tế về tài chính ngân hàng trung ương,
và được ban hành theo một Quyết định riêng của Thủ tướng Chính phủ - Quyết
định số 07/2013/QĐ-TTg.
Một số đặc điểm của cơ chế tài chính NHNN Việt Nam:
Thứ nhất, NHNN có vốn pháp định theo quy định của pháp luật với hạn
mức là 10.000 tỷ đồng; được trích lập khoản dự phòng rủi ro, các quỹ thực hiện
chính sách tiền tệ quốc gia, quỹ dự phòng tài chính từ chênh lệch thu chi hàng
năm của NHNN theo một tỷ lệ cố định lần lượt là 10% chênh lệch thu chi trước
dự phòng, 20% và 10% chênh lệch thu chi sau dự phòng để thực hiện các giải
pháp điều hành chính sách tiền tệ và xử lý rủi ro trong hoạt động.
Thứ hai, trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ Ngân hàng Trung
ương, NHNN phát sinh nguồn thu từ nghiệp vụ thị trường mở, điều hành tỷ giá,
lãi suất,.. Nhìn chung, nguồn thu này hàng năm là tương đối lớn, đủ để bù đắp
các chi phí nghiệp vụ và chi phí hoạt động quản lý công vụ. Do vậy, NHNN
không được cấp kinh phí hoạt động từ Ngân sách Nhà nước thông qua Kho bạc
Nhà nước như các Bộ, ngành khác mà sử dụng nguồn thu từ hoạt động nghiệp
vụ để bù đắp các khoản chi phí phát sinh trong năm. Chênh lệch thu trừ chi còn
lại, sau khi trích lập các khoản dự phòng rủi ro và trích lập các quỹ, được nộp về
Ngân sách Nhà nước.
Thứ ba, NHNN được áp dụng cơ chế khoán kinh phí hoạt động khác với
các cơ quan hành chính nhà nước khác. Theo đó, NHNN được giao khoán theo
hạn mức kinh phí cần thiết cho hoạt động trong năm, bao gồm 02 cấu phần riêng
biệt: (1) Số kinh phí tuyệt đối là kinh phí hoạt động thường xuyên của NHNN
như: tiền lương và các khoản có tính chất lương, chi phí hoạt động công vụ, chi

hóa mà Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng ban hành theo Quyết định
986/QĐ-TTg ngày 08/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ đã đề ra.
(ii) Cơ chế quản lý, sử dụng Vốn pháp định, các Quỹ thực hiện chính sách
tiền tệ quốc gia, Quỹ dự phòng tài chính, khoản dự phòng rủi ro hiện nay còn
chưa cụ thể, có một số điểm bất cập và chưa khả thi trong thực tế dẫn đến việc
khi sử dụng các Quỹ này, NHNN phải trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê
duyệt theo từng trường hợp cụ thể.
(iii) Về khoản dự phòng rủi ro của NHNN: Theo quy định hiện hành,
NHNN thực hiện trích lập khoản dự phòng rủi ro bằng tỷ lệ cố định 10% chênh
lệch thu chi hàng năm. Mặc dù, ngày 31/12 năm tài chính, NHNN có đánh giá,
xác định mức dự phòng rủi ro phải trích lập của NHNN theo từng khoản mục tài
sản theo chuẩn mực kế toán quốc tế. Tuy nhiên, mức dự phòng rủi ro phải trích
lập này không được sử dụng để trích lập khoản dự phòng rủi ro mà chỉ là hạn
mức tối đa của khoản dự phòng rủi ro của năm tài chính đó. Trên thực tế, khoản
dự phòng rủi ro NHNN trích lập (10% chênh lệch thu chi) chỉ đạt 3,3% số dự
phòng rủi ro phải trích lập (theo số liệu năm 2018). Do vậy, cơ chế trích lập dự
phòng rủi ro hiện nay của NHNN chưa đúng với bản chất khoản dự phòng rủi
ro, chưa phù hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế cũng như thông lệ của NHTW
các nước. Trường hợp phát sinh các rủi ro lớn, mang tính hệ thống, khoản dự
phòng rủi ro hiện nay của NHNN không đủ để xử lý các rủi ro thực tế có thể
phát sinh.
(iv) Cơ chế phân phối kết quả tài chính của NHNN chưa tạo sự độc lập về
mặt tài chính của NHNN với Ngân sách Nhà nước. Với tỷ lệ chênh lệch thu chi
giữ lại NHNN hiện nay là quá nhỏ (30% chênh lệch thu chi để bổ sung Quỹ thực


hiện chính sách tiền tệ quốc gia, Quỹ dự phòng tài chính; 70% nộp về NSNN),
không tạo ra nguồn lực dự trữ vững mạnh cho NHNN để thực hiện các giải pháp
điều hành chính sách tiền tệ và xử lý rủi ro hoạt động mang tính hệ thống có thể
phát sinh.

hướng: mức vốn pháp định 10.000 tỷ đồng là mức vốn tối thiểu của NHNN cần
phải có; và NHNN tiếp tục được trích lập bổ sung nguồn vốn đầu tư XDCB và
mua sắm TSCĐ hàng năm của NHNN. Bên cạnh đó, để thực hiện quy định tại
khoản 10, khoản 22 Điều 4, Luật Ngân hàng Nhà nước về góp vốn thành lập
doanh nghiệp đặc thù và đóng góp vào các tổ chức quốc tế, Chế độ tài chính của
NHNN cần được bổ sung thành phần “Vốn góp vào các tổ chức quốc tế và
doanh nghiệp đặc thù” vào Vốn pháp định. “Vốn góp vào các tổ chức quốc tế và


doanh nghiệp đặc thù” được bổ sung từ chênh lệch thu chi hàng năm và ghi nhận
theo số vốn góp thực tế phát sinh trong năm.
Hai là, NHNN cần ban hành quy chế quản lý, sử dụng các Quỹ thực hiện
chính sách tiền tệ quốc gia, Quỹ dự phòng ổn định tài chính, đảm bảo khoa học,
cụ thể và có tính khả thi trong thực tế, đặc biệt là việc sử dụng Quỹ thực hiện
chính sách tiền tệ quốc gia trong việc góp vốn thành lập doanh nghiệp hoặc góp
vốn, mua cổ phần của các TCTD được kiểm soát đặc biệt.
Ba là, NHNN cần phối hợp với Bộ Tài chính để nghiên cứu cơ chế phân
phối kết quả tài chính hàng năm, cơ chế xử lý chênh lệch thu chi âm và mối
quan hệ giữa tài chính của NHNN với Ngân sách Nhà nước. Theo đó, có 02
phương án xử lý:
(i) Phương án 1: Kết quả tài chính dương (thu lớn hơn chi) hàng năm của
NHNN, sau khi trích lập các khoản vốn, quỹ sẽ được nộp về NSNN; đồng thời,
khi NHNN phát sinh chênh lệch thu chi âm (chi lớn hơn thu), NSNN sẽ bố trí
kinh phí để cấp bù cho NHNN.
(ii) Phương án 2: Theo thông lệ quốc tế, kết quả tài chính hàng năm của
NHTW, sau khi trích lập các khoản dự trữ cụ thể, các quỹ theo quy định, số còn
lại được phân bổ một phần lớn vào Quỹ dự trữ chung do NHTW nắm giữ, tích
lũy qua các năm nhằm bù đắp các “lỗ” phát sinh (nếu có do điều hành chính
sách tiền tệ) và một phần nộp về NSNN.
Đối với NHNN Việt Nam, chênh lệch thu, chi hàng năm cần được tích lũy




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status