ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN VĂN LONG
CÁC TỘI ĐIỀU ĐỘNG NGƢỜI KHÔNG ĐỦ ĐIỀU KIỆN
ĐIỀU KHIỂN CÁC PHƢƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ,
ĐƢỜNG SẮT, ĐƢỜNG THỦY, ĐƢỜNG KHÔNG THEO
LUẬT HÌNH SỰ VIỆTNAM (TRÊN CƠ SỞ SỐ LIỆU THỰC TIỄN
TẠI ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG)
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN VĂN LONG
CÁC TỘI ĐIỀU ĐỘNG NGƢỜI KHÔNG ĐỦ ĐIỀU KIỆN
ĐIỀU KHIỂN CÁC PHƢƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ,
ĐƢỜNG SẮT, ĐƢỜNG THỦY, ĐƢỜNG KHÔNG THEO
LUẬT HÌNH SỰ VIỆTNAM (TRÊN CƠ SỞ SỐ LIỆU THỰC TIỄN
TẠI ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG)
Chuyên ngành
Mã số
: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ......................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ................................................................................... 3
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài .................................................................. 4
4. Đối tƣợng và Phạm vi nghiên cứu. ........................................................................ 5
5. Phƣơng pháp nghiên cứu........................................................................................ 6
6. Những đóng góp khoa học của Đề tài .................................................................... 6
7. Kết cấu của luận văn ............................................................................................... 6
CHƢƠNG 1: KHÁI NIỆM VÀ NHỮNG DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA CÁC
TỘI ĐIỀU ĐỘNG NGƢỜI KHÔNG ĐỦ ĐIỀU KIỆN ĐIỀU KHIỂN CÁC
PHƢƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ, ĐƢỜNG SẮT, ĐƢỜNG
THỦY, ĐƢỜNG KHÔNG THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ......................... 8
1.1. Khái niệm và các đặc điểm chung của các tội điều động ngƣời không đủ
điều kiện điều khiển phƣơng tiện tham gia giao thông đƣờng bộ, đƣờng sắt,
đƣờng thủy, đƣờng không trong luật hình sự Việt Nam. ........................................ 8
1.2. Các dấu hiệu pháp lý và hình phạt của các tội điều động ngƣời không đủ
điều kiện điều khiển các phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ, đƣờng sắt, đƣờng
thủy, đƣờng không. ................................................................................................... 16
1.2.1. Các dấu hiệu pháp lý và hình phạt của tội điều động người không đủ điều
kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ (Điều 263 BLHS). ... 16
1.2.2. Các dấu hiệu pháp lý và hình phạt đối với tội điều động người không đủ
điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường sắt (Điều 270 BLHS). .......... 19
1.2.3. Các dấu hiệu pháp lý và hình phạt đối với tội điều động người không đủ
điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường thủy (Điều 275 BLHS) ........ 23
1.2.4. Các dấu hiệu pháp lý và hình phạt đối với tội điều động người không đủ
điều kiện điều khiển tàu bay (Điều 280 BLHS). .................................................... 27
CHƢƠNG 2: THỰC TIỄN XÉT XỬ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
Bộ luật hình sự
BLTTHS
Bộ luật tố tụng hình sự
CBĐT
Cán bộ điều tra
CQĐT
Cơ quan điều tra
ĐTV
Điều tra viên
KTV
Kiểm tra viên
KSV
Kiểm sát viên
tạp, nhiều vụ gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng cho xã hội. Trước tình
hình đó, Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng đã tích cực, chủ động
đưa ra nhiều biện pháp, giải pháp đồng bộ nhằm hạn chế, ngăn chặn để tiến
tới làm giảm thiểu tối đa tình trạng vi phạm đó. Song, thực tế cho thấy, tình
trạng tội phạm điều động người không đủ điều kiện điều khiển các phương
tiện giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không chưa có
chiều hướng giảm trên cả 3 tiêu chí: số vụ; số người chết, bị thương, và
thiệt hại về tài sản.
Trên thực tế, tình trạng vi phạm các quy định về an toàn giao thông
vẫn chưa thuyên giảm, còn xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông đặc biệt
1
nghiêm trọng, làm chết và bị thương nhiều người, gây thiệt hại lớn về tài
sản, khiến dư luận nhân dân hết sức lo ngại. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến
tình trạng trên, nhưng chủ yếu là do ý thức của những người tham gia giao
thông, một phần do không hiểu biết về các quy định của Nhà nước về an
toàn giao thông, một phần do người tham gia giao thông biết nhưng cố tình
vi phạm. Nhiều trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng chưa triệt để áp dụng
các biện pháp nghiệp vụ theo quy định của pháp luật trong việc xác định lỗi
của các bên điều khiển phương tiện tham gia giao thông gây tai nạn, lỗi của
người điều động người khác điều khiển phương tiện giao thông cũng như
nguyên nhân dẫn đến tử vong do tai nạn giao thông gây ra.
Trong những năm qua, qua thực tiễn công tác điều tra, truy tố, xét xử
các các tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện
giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không cho thấy, ngoài
những kết quả đạt được thì hoạt động giải quyết các vụ án của cơ quan có
thẩm quyền tiến hành tố tụng vẫn còn nhiều hạn chế. Nhiều vụ án bị bế tắc
ngay từ khâu bảo vệ hiện trường, dựng hiện trường, vẽ sơ đồ hiện trường,
Việt Nam hiện nay, NXB Công an nhân dân, Hà Nội; Cao Vũ Minh (2013),
Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường
bộ - những bất cập và hướng hoàn thiện, Tạp chí Luật học số 9/2013...
Các đề tài luận văn thạc sĩ: Luận văn thạc sĩ luật học: Thực hiện
pháp luật trong lĩnh vực đảm bảo trật tự, an toàn giao thông đường bộ (qua
thực tế tỉnh Thái Nguyên) của Nguyễn Quang Huy Năm 2010; Luận văn
thạc sĩ luật học: Các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông đường bộ
theo luật hình sự Việt Nam của Bùi Quang Trung năm 2011; Luận văn thạc
sĩ luật học: Các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông đường bộ theo
3
luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Nông)
của Bùi Danh Đại năm 2015;...
Các công trình khoa học trên đã đề cập đến các góc độ khác nhau về
tội phạm xâm phạm an toàn giao thông và vấn đề xử lý đối với các tội
phạm này. Tuy nhiên, cho tới nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên
cứu về vấn đề tội phạm điều động người không đủ điều kiện điều khiển các
phương tiện giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không
trên địa bàn một địa phương cụ thể là thành phố Hải Phòng.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu đề tài:
Trên cơ sở nghiên cứu, làm sáng tỏ lý luận về vấn đề tội phạm điều
động người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông
đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không; những khó khăn, vướng
mắc trong quá trình giải quyết các vụ án về tội phạm điều động người
không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ,
đường sắt, đường thủy, đường không, Luận văn nghiên cứu đề xuất một số
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ án về tội phạm điều
không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ,
đường sắt, đường thủy, đường không trong luật hình sự Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu các qui định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội
phạm điều động người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao
thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không.
- Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự, tố tụng hình
sự Việt Nam về giải quyết các vụ án điều động người không đủ điều kiện
điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy,
đường không trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
5
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
- Luận văn dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng
Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương của Đảng; Chính sách, pháp luật của
Nhà nước làm cơ sở lý luận để nghiên cứu. Đồng thời sử dụng các phương
pháp: lôgíc và lịch sử, phân tích và tổng hợp; cụ thể: phương pháp so sánh,
thống kê, phân tích để chọn lọc tri thức khoa học cũng như kinh nhiệm
thực tiễn để thực hiện mục đích và nhiệm vụ luận văn đề ra.
- Trong quá trình nghiên cứu có tham khảo, kế thừa có chọn lọc các
công trình nghiên cứu, bài viết có liên quan đến lĩnh vực luận văn đề cập.
6. Những đóng góp khoa học của Đề tài.
- Luận văn đã làm rõ một số vấn đề lý luận về tội phạm điều động
người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ,
đường sắt, đường thủy, đường không.
- Luận văn đã làm rõ được thực tiễn áp dụng các qui định của luật
hình sự, luật tố tụng hình sự trong quá trình giải quyết các vụ án điều động
người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ,
không đủ điều kiện điều khiển phƣơng tiện tham gia giao thông đƣờng
bộ, đƣờng sắt, đƣờng thủy, đƣờng không trong luật hình sự Việt Nam.
Nghiên cứu thực trạng tình hình hệ thống giao thông đường bộ, đường
sắt, đường thủy, đường không ở Việt Nam cho thấy:
Về đường bộ, với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân khiến nhu cầu
vận tải về người, hàng hoá cũng như hệ thống kết cấu hạ tầng và phương tiện
giao thông tăng rất nhanh. Ở Việt Nam, vận tải đường bộ chiếm một tỷ lệ lớn
trong tổng nhu cầu vận tải. Nhu cầu vận tải đường bộ ở Việt Nam đang tăng
lên làm cho khả năng xảy ra tai nạn giao thông cũng tăng lên.
Giao thông đường bộ ở Việt Nam chủ yếu là giao thông hỗn hợp giữa ô
tô và xe máy. Lưu lượng giao thông xe máy chiếm 65% tổng lưu lượng giao
thông hoặc gấp 19 lần lưu lượng ô tô. Giao thông hỗn hợp giữa ô tô và xe
máy là một trong các nguyên nhân làm gia tăng tai nạn giao thông, vì xung
đột giao thông giữa các phương tiện có tốc độ và kích cỡ khác nhau.
Về đường sắt, hệ thống hạ tầng giao thông đường sắt gồm 2632 km
đường sắt chính tuyến, 403 km đường ga, 85 km đường nhánh và 290 ga
trạm; một số điểm đen về tai nạn và ách tắc giao thông đã được xử lý như:
nhiều đường ngang được cải tạo, nâng cấp; đường ngang mở mới; xây dựng
rào ngăn cách giữa đường sắt và đường bộ... nâng cao điều kiện an toàn của
kết cấu hạ tầng giao thông đường sắt; tạo thuận lợi cho các phương tiện giao
8
thông qua đường ngang thuận lợi và an toàn, ngăn chặn được những vụ tại
nạn do phương tiện giao thông đường bộ đổ vào đường sắt; tăng cường đáng
kể các điều kiện an toàn, cung cấp cho người tham gia giao thông đầy đủ các
chỉ dẫn giao thông tạo điều kiện để người dân chấp hành các quy định của
pháp luật về đường sắt. Kết quả là tai nạn giao thông đường sắt cơ bản được
kiềm chế. Tuy nhiên, kết quả này là chưa bền vững, chưa đạt được mục tiêu
Về đường không, hàng không dân dụng là lĩnh vực giao thông đặc thù,
trong đó công tác bảo đảm an ninh, an toàn hàng không được đặt lên hàng
đầu. So sánh chỉ số an toàn của Hàng không Việt Nam với quốc tế cho thấy
tình trạng đảm bảo an toàn hàng không của Việt Nam trong giai đoạn 2006 2010 đạt được các chỉ số an toàn cao hơn mức trung bình của thế giới. Việt
Nam đạt 14 năm liên tục không để xảy ra tai nạn tàu bay gây thiệt hại về
người và tài sản.
Đông đảo đối tượng khi được tuyên truyền, phổ biến pháp luật đều tuân
thủ theo đúng các quy định của pháp luật nhưng một bộ phận nhỏ đối tượng
vẫn còn thiếu ý thức, cố tình vi phạm các quy định như: gây mất an ninh, trật
tự trên tàu bay; tung tin, cung cấp thông tin sai về có bom, mìn trên tàu bay;
mở cửa thoát hiểm trên tàu bay bay; hút thuốc trên tàu bay, mang vật phẩm
cấm lên tàu bay, xâm phạm độ cao an toàn tĩnh không...
Hiện nay, giao thông của Việt Nam còn rất nhiều bất cập. Áp lực
phương tiện đè nặng lên kết cấu hạ tầng giao thông, nên cần có hệ thống hạ
tầng thích hợp cùng mạng lưới vận tải công cộng phát triển, thuận tiện, được
người dân ưu tiên lựa chọn. Đặc biệt, cần có chiến lược, lộ trình và quy hoạch
cụ thể như việc triển khai các dự án phải tuyệt đối tuân thủ quy hoạch đã được
phê duyệt, đẩy mạnh quá trình triển khai ứng dụng, khoa học, công nghệ mới,
kết hợp quản lý chặt chẽ các nguồn vốn đầu tư; cần tranh thủ sự ủng hộ, tạo
điều kiện của quốc tế, mở rộng quan hệ hợp tác, học tập kinh nghiệm phát
triển cơ sở hạ tầng giao thông ở các thành phố lớn hiện đại trên thế giới;
10
Chính sách xây dựng phát triển hạ tầng giao thông phải kết hợp chặt chẽ với
các chính sách xã hội khác, nhất là nhà ở, ổn định dân cư; Đa dạng hóa các
hình thức đầu tư trong và ngoài nước, đặc biệt là việc tổ chức giao thông luôn
phải linh hoạt, sáng tạo trên nguyên tắc giảm đến mức thấp nhất ách tắc cũng
như tai nạn giao thông.
và hình ảnh của đất nước Việt Nam với bạn bè quốc tế.
Tình hình trên do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do ý thức
tự giác chấp hành kỷ luật về trật tự, an toàn giao thông của người tham gia
giao thông còn yếu kém. Kết cấu hạ tầng giao thông còn nhiều hạn chế, bất
cập.... [01].
Hiện nay, tai nạn giao thông do không tuân thủ pháp luật về an toàn iao
thông ở nước ta ở mức cảnh báo, nó để tác hại vô cùng to lớn trước mắt và lâu
dài; một phần nguyên nhân là do ý thức của người dân không thực hiện an
toàn giao thông khi lưu thông, số thiệt hại do tai nạn giao thông gây ra ngày
càng nghiêm trọng. Trong những năm qua, các cơ quan, đơn vị, ban ngành ở
địa phương đã có nhiều hoạt động cụ thể triển khai thực hiện công tác tuyên
truyền phổ biến giáo dục pháp luật về giao thông với hàng loạt các biện pháp
mang tính vi mô và vĩ mô.
Các nghị quyết, chỉ thị, quyết định, chương trình, kế hoạch có liên
quan đến công tác này đã được nhiều cấp ban hành từ trung ương đến địa
phương; các hình thức tuyên truyền, phổ biến đa dạng, phong phú được
triển khai để phù hợp với từng điều kiện, đối tượng cụ thể (như tổ chức hội
thảo, hội nghị, hội thi, phát sách, tờ rơi, đăng báo, bản tin, gửi email, đăng
trên website, Internet…); công tác tuyên truyền, phổ biến cũng hướng đến
nhiều đối tượng như: cán bộ, công chức, viên chức, học sinh, sinh viên;
người sử dụng lao động, người lao động trong các doanh nghiệp và người
tham gia giao thông...
12
Tuy nhiên, công tác đảm bảo trật tự, an toàn giao thông vẫn chưa đạt
được hiệu quả như mong muốn. Có nhiều yếu tố khách quan đã và đang gây
ảnh hưởng đến hoạt động đảm bảo an toàn giao thông, hạn chế phần nào hiệu
quả, tác động tích cực đến kết quả của công tác này. Số lượng tai nạn giao
nạn giao thông, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội, đảm bảo tính mạng,
sức khỏe, tài sản của người dân.
Vì vậy, các nhà làm luật Việt Nam đã quy định các hành vi điều động
người không đỉ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông thành những
tội cụ thể xâm phạm an toàn giao thông trong BLHS với 4 tội phạm cụ thể
quy định tại các điều 263, 270, 275, 280 làm căn cứ pháp lý quan trọng để bảo
đảm việc giữ gìn và bảo vệ an toàn công cộng, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài
sản của người dân đối với các tội phạm điều động người không đủ điều kiện
điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy,
đường không.
Nghiên cứu các tội phạm này cho thấy chúng có những đặc điểm chủ
yếu sau:
Thứ nhất, các tội phạm điều động người không đủ điều kiện điều khiển
các phương tiện giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không.
Tính nguy hiểm cho xã hội của các tội phạm này thể hiện trước hết ở chỗ
chúng trực tiếp xâm hại tới trật tự an toàn giao thông trên các lĩnh vực đường
bộ, đường sắt, đường thủy và đường không, xâm hại hoặc đe dọa trực tiếp
xâm hại tới tính mạng, sức khỏe của người khác, tài sản của cá nhân hoặc của
xã hội, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của xã hội.
Thứ hai, các hành vi điều động người không đủ điều kiện điều khiển các
phương tiện giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không là những
hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội và được BLHS năm 2015 quy định là tội
phạm và bị đe dọa phải chịu biện pháp xử lý TNHS, trong đó có hình phạt.
14
Thứ ba, các tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển các
phương tiện giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không đều
được thực hiện có lỗi. Lỗi trong các tội phạm này được thể hiện dưới dạng lỗi
đƣờng sắt, đƣờng thủy, đƣờng không.
1.2.1. Các dấu hiệu pháp lý và hình phạt của tội điều động ngƣời
không đủ điều kiện điều khiển phƣơng tiện tham gia giao thông đƣờng
bộ (Điều 263 BLHS).
a) Các dấu hiệu pháp lý của tội điều động ngƣời không đủ điều
kiện điều khiển phƣơng tiện tham gia giao thông đƣờng bộ
* Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm này cũng là trật tự, an toàn giao thông
đường bộ.
Đối tượng tác động của tội phạm này là con người, là người điều khiển
phương tiện giao thông đường bộ không đủ điều kiện quy định tại Luật giao
thông đường bộ. Người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông
là người không có giấy phép lái xe, không đủ sức khỏe, không đủ độ tuổi để
điều khiển phương tiện hoặc người đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia
mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, người có
sử dụng chất ma túy, chất kích thích mạnh khác hoặc không đủ các điều kiện
khác theo quy định của pháp luật…
Theo quy định của Luật giao thông đường bộ thì những người không
đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (phương tiện giao
thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông thô sơ đường bộ và xe máy
chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ), như: Không có giấy phép lái xe
theo quy định; Điều khiển xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ
không có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ,
bằng hoặc chứng chỉ điều khiển xe máy chuyên dùng. Không bảo đảm độ
16
tuổi, sức khoẻ [14, Điều 60]; Người tập lái xe thực hành trên xe không phải xe
tập lái và không có giáo viên bảo trợ tay lái; Điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe
người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của
những người này từ 61% đến 121%; iii) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000
đồng đến dưới 500.000.000 đồng. Nếu hành vi điều động người không đủ điều
kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ mà chưa gây ra thiệt hại
hoặc gây thiệt hại liên quan tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác nhưng
chưa đến mức độ quy định như trên thì không cấu thành tội phạm.
- Giữa hành vi điều động người không đủ điều kiện điều khiển phương
tiện tham gia giao thông đường bộ của chủ thể với hậu quả thiệt hại về tính
mạng, sức khỏe hoặc về tài sản như nêu trên có mối quan hệ nhân quả biện
chứng với nhau. Hành vi của chủ thể là nguyên nhân dẫn đến hậu quả làm
chết người, gây thương tich hoặc gây thiệt hại về tài sản cho người khác như
nêu trên.
* Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt. Người phạm tội là người
chịu trách nhiệm về việc điều động người điều khiển các phương tiện giao
thông đường bộ, có năng lực TNHS, như: Giám đốc xí nghiệp vận tải, Giám
đốc xí nghiệp xe khách, Chủ các doanh nghiệp vận tải...
* Mặt chủ quan của tội phạm
Lỗi của người điều động người không đủ điều kiện điều khiển phương
tiện tham gia giao thông đường bộ là lỗi vô ý. Mặc dù là vô ý phạm tội,
nhưng trước khi điều động người không đủ điều kiện điều khiển các phương
tiện giao thông đường bộ, người phạm tội phải biết người mà mình điều động
phải là người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông
đường bộ. Nếu vì một lý do nào đó mà người phạm tội không biết người mà
mình điều động người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao
thông đường bộ thì không có lỗi đối với hành vi điều động.
18