VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ ĐỨC BÌNH
ĐẤU THẦU MUA SẮM HÀNG HÓA THEO PHƯƠNG THỨC
MỘT GIAI ĐOẠN, HAI TÚI HỒ SƠ THEO PHÁP LUẬT
ĐẤU THẦU Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Hà Nội - 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ ĐỨC BÌNH
ĐẤU THẦU MUA SẮM HÀNG HÓA THEO PHƯƠNG THỨC
MỘT GIAI ĐOẠN, HAI TÚI HỒ SƠ THEO PHÁP LUẬT
ĐẤU THẦU Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8.38. 01 .07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. BÙI NGUYÊN KHÁNH
Hà Nội - 2019
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐẤU
THẦU MUA SẮM HÀNG HÓA THEO PHƯƠNG THỨC MỘT
GIAI ĐOẠN, HAI TÚI HỒ SƠ............................................................................................ 66
3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật đấu thầu mua sắm hàng hóa theo
phương thức một giai đoạn, hai túi hồ sơ................................................................ 66
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đấu thầu mua
sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, hai túi hồ sơ.......................73
KẾT LUẬN....................................................................................................................................... 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................................... 79
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Tên viết tắt
HSMT
HSDT
KQLCNT
HSĐXKT
HSĐXTC
CĐT
BMT
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, thị trường mua sắm hàng hóa ở Việt Nam đang phát triển khá
rầm rộ với rất nhiều mặt hàng cũng như nhiều bên cung ứng hàng hóa. Hơn
nữa, trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, việc mua sắm
hàng hóa với những dự án lớn, dự án sử dụng nhiều vốn thường được các bên
đặc biệt chú trọng. Những loại hàng hóa này không chỉ đáp ứng các yêu cầu
về kỹ thuật, đảm bảo theo đúng tiêu chuẩn của bên mua mà còn phải đảm bảo
sơ theo pháp luật đấu thầu ở Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu và hoàn
thành Luận văn Thạc sĩ Luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đấu thầu mua sắm hàng hóa là một lĩnh vực quan trọng, luôn dành
được rất nhiều sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, của các bên tham gia vào
quan hệ đấu thầu. Đặc biệt, đây cũng là một lĩnh vực tốn khá nhiều giấy mực
của giới Luật học trong và ngoài nước. Có thể kể tới một số công trình nghiên
cứu về đề tài này như: Cuốn “Quản lý đấu thầu - Thực trạng ở Việt Nam và
kinh nghiệm quốc tế” của tác giả Ngô Vinh Hải, NXB Giao thông vận tải, Hà
Nội; Bài viết “Bảo đảm dự thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa theo pháp
luật Việt Nam hiện nay” của tác giả Cao Thị Lê Thương, Viện Nhà nước và
pháp luật – Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, năm 2019; Bài viết
“Hoàn thiện các quy định về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong
Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi)” của tác giả Lê Vũ Nam, Tạp chí Nghiên
cứu lập pháp, Số 13/2015, tr. 23 - 30.
Bên cạnh đó, có một số học giả cũng lựa chọn đề tài này để làm Luận
văn Thạc sĩ của mình như; “Đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức
một giai đoạn một túi hồ sơ theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn ngành khí
tượng thủy văn” Luận văn Thạc sĩ Luật học, của tác giả Nguyên Thị Hiệp,
Học viện khoa học xã hội, năm 2017; “Pháp luật Việt Nam về đấu thầu xây
2
dựng – thực trạng và hướng hoàn thiện”, Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác
giả Nguyễn Thành Nam, Khoa Luật – đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2014.
3.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Năm là, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng
pháp luật đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, hai túi
hồ sơ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn bao gồm: (1) Lý thuyết chung về
đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, hai túi hồ sơ; (2)
Pháp luật Việt Nam hiện hành về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương
thức một giai đoạn, hai túi hồ sơ.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là những quy định của Luật Đấu thầu
năm 2013 về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, hai
túi hồ sơ. Đồng thời, phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật cũng như thực
tiễn áp dụng pháp luật về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một
giai đoạn, hai túi hồ sơ ở Việt Nam hiện nay; đưa ra một số kiến nghị nhằm
hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đấu thầu mua
sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, hai túi hồ sơ.
Về phạm vi thời gian, Luận văn nghiên cứu trong khoảng thời gian từ
ngày 01 tháng 07 năm 2014 - kể từ khi Luật Đấu thầu năm 2013 chính thức có
hiệu lực thi hành tới nay.
5.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Để đạt được những mục đích nghiên cứu, Luận văn đã vận dụng các
phương pháp luận nghiên cứu khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, của tư
4
để đối chiếu giữa các quy định của pháp luật, tìm ra các điểm bất cập, chưa
hợp lý, chưa thống nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành về đấu
5
thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, hai túi hồ sơ. Đồng
thời, tìm ra điểm nào chưa phù hợp giữa quy định của pháp luật và thực tiễn
thi hành các quy định này trong thực tế.
-
Phương pháp quy nạp, diễn dịch: Với tất cả những thông tin đã có được
nhờ việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu nêu trên, Luận văn đã vận
dụng một cách linh hoạt phương pháp quy nạp và phương pháp diễn dịch.
Mục đích của việc sử dụng phương pháp này là nhằm nghiên cứu và chứng
minh những kiến nghị để hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả áp dụng pháp luật đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức
một giai đoạn, hai túi hồ sơ.
Bên cạnh đó, Luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
khác để đạt được mục đích nghiên cứu đã đề ra và nhằm làm cho bài Luận
văn cụ thể, sinh động hơn.
6.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện những
vấn đề lý luận và các quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề đấu thầu
LÝ LUẬN CHUNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ
ĐẤU THẦU MUA SẮM HÀNG HÓA THEO PHƯƠNG THỨC
MỘT GIAI ĐOẠN, HAI TÚI HỒ SƠ
1.1. Khái niệm về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai
đoạn, hai túi hồ sơ
1.1.1. Khái niệm “Đấu thầu”
Trước hết, thuật ngữ “đấu thầu” đã xuất hiện từ lâu. Theo Từ Điển Luật
học A Law Dictionary, Adapted to the Constitution and Laws of the United
States bởi John Bouvier, xuất bản năm 1856 có viết: “A bid is an offer to pay
a specified price for an article about to be sold at auction. The bidder has a
right to withdraw his bid at any time before it is accepted, which acceptance
is generally manifested by knocking down the hammer.” [33] (Tạm dịch: Đấu
thầu là một đề nghị trả giá xác định cho một sản phẩm sắp được bán đấu giá.
Nhà thầu có quyền rút lại giá thầu của mình bất cứ lúc nào trước khi được
chấp nhận, sự chấp nhận này thường được biểu hiện bằng cách hạ búa). Theo
Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, xuất bản năm 2003, NXB Đà
Nẵng – Từ điển học, trang 302 thì “đấu thầu là việc tổ chức cuộc đọ sức công
khai ai nhận làm, ai bán với điều kiện tốt nhất”[26,tr.302]
Dưới góc độ pháp lý, khoản 1 Điều 214 Luật Thương mại 2005 có quy
định về khái niệm đấu thầu đối với hàng hóa, dịch vụ như sau: “Đấu thầu
hàng hoá, dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên mua hàng hoá,
dịch vụ thông qua mời thầu (gọi là bên mời thầu) nhằm lựa chọn trong số các
thương nhân tham gia đấu thầu (gọi là bên dự thầu) thương nhân đáp ứng tốt
nhất các yêu cầu do bên mời thầu đặt ra và được lựa chọn để ký kết và thực
hiện hợp đồng (gọi là bên trúng thầu)”[29].
8
Trước đây, tại khoản 2 Điều 4 Luật đấu thầu năm 2005 quy định khái
tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư
để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư,
9
dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh
bạch và hiệu quả kinh tế.”[30]
Như vậy, từ quy định nêu trên, có thể thấy, đấu thầu được hiểu là quá
trình mà chủ đầu tư lựa chọn ra nhà thầu có thể đáp ứng các yêu cầu của mình
để ký kết và thực hiện hợp đồng như hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch
vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; hoặc thông qua quá trình này lựa
chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức
đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất. Trong đó, thông qua đấu thầu mà
bên mua tổ chức thì bên bán, chính là các nhà thầu sẽ cạnh tranh nhau để
giành được quyền cung cấp mua hàng hóa, dịch vụ đó với giá đủ bù đắp các
chi phí đầu vào và đảm bảo mức lợi nhuận cao nhất có thể cho bên mình. Bên
mua sẽ lựa chọn nhà thầu nào mà mang lại cho bên mua hàng hóa hoặc dịch
vụ có thể thỏa mãn các yêu cầu về kĩ thuật, chất lượng trong hồ sơ mời thầu
và đặc biệt là chi phí thấp nhất. Nói chung, bản chất của đấu thầu như 1 sự
cạnh tranh lành mạnh có tính công bằng, minh bạch và mang lại hiệu quả kinh
tế để được thực hiện công việc nào đó, yêu cầu nào.
Đấu thầu có một số đặc điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, đấu thầu là một hoạt động thương mại mà bên dự thầu là các
thương nhân đáp ứng đủ điều kiện và hướng tới là lợi nhuận từ việc ký kết,
thực hiện hợp đồng; còn bên mời thầu thông qua hoạt động đấu thầu để ký kết
hợp đồng mua bán hàng hóa, hoặc sử dụng dịch vụ với bên nhà thầu mà có thể
đáp ứng các điều kiện tốt nhất của mình.
Thứ hai, đấu thầu là một giai đoạn tiền hợp đồng. Mục đích cuối cùng
dự thầu theo những yêu cầu được thể hiện ở hồ sơ mời thầu để có thể nhà thầu
phù hợp nhất.
Thứ sáu, giá của gói thầu là giá trị của gói thầu được phê duyệt trong kế
hoạch lựa chọn nhà thầu. Bên dự thầu nếu đưa ra giá cao hơn khả năng tài
11
chính được thể hiện tại kế hoạch lựa chọn nhà thầu của bên mời thầu thì chất
lượng hàng hóa, dịch vụ có tốt cũng khó có thể trúng thầu. Nhà thầu dự thầu
nào có thể đáp ứng được các yêu cầu của bên mời thầu trong kế hoạch lựa
chọn nhà thầu nhưng có giá càng thấp so với giá của gói thầu thì sẽ càng có cơ
hội chiến thắng.
1.1.2. Vai trò của đấu thầu
Đấu thầu là cách thức cạnh tranh trong việc nhận dự án một cách công
khai, minh bạch và công bằng nhất cho các nhà thầu tham gia đấu thầu. Thông
qua đấu thầu, bên mời thầu có thể lựa chọn được nhà thầu phù hợp nhất với
giá thấp nhất nhưng vẫn đảm bảo cho việc hiệu quả kinh tế trong việc đầu tư
dự án của mình.
Vai trò của đấu thầu với chủ đầu tư dự án: Việc tổ chức đấu thầu là
quá trình giúp chủ đầu tư dự án tìm ra được nhà thầu phù hợp nhất để thực
hiện có hiệu quả về yêu cầu chất lượng của dự án; hàng hóa, dịch vụ đảm bảo
cả về chất lượng và giá cả, giúp tiết kiệm nguồn vốn đầu tư dự án nhưng vẫn
đem lại hiệu quả kinh tế.
Vai trò của đấu thầu với nhà thầu: Khi tham gia đấu thầu, các nhà
thầu buộc phải cạnh tranh nhau để có thể tìm kiếm các cơ hội tham dự đấu
thầu các gói thầu, để có thể trúng thầu và thương thảo, kí kết hợp đồng, tạo cơ
hội việc làm cho người lao động nhà thầu và phát triển sản xuất. Thông qua
việc tham gia đấu thầu các dự án, nhà thầu biết cách hoàn thiện hơn ở mọi
phương diện để đáp ứng yêu cầu của dự án, để có thể trúng thầu. Từ đó, các
thầu, nhà đầu tư nộp đồng thời hồ sơ đề xuất về kỹ thuật và hồ sơ đề xuất về
tài chính riêng biệt theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu” [ 30, điều 29]. Theo đó,
“việc mở thầu được tiến hành hai lần. Hồ sơ đề xuất về kỹ thuật sẽ được mở
ngay sau thời điểm đóng thầu. Nhà thầu, nhà đầu tư đáp ứng yêu cầu về kỹ
thuật sẽ được mở hồ sơ đề xuất về tài chính để đánh giá.” [30, điều 29, 3].
Theo quy định tại khoản 1 điều 29 Luật đấu thầu 2013 thì phương thức một
giai đoạn hai túi hồ sơ được áp dụng trong các trường hợp sau đây:
-
Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu cung cấp dịch vụ
tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp;
- Đấu thầu rộng rãi đối với lựa chọn nhà đầu tư.
Còn đối với phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ thì áp dụng với
trường hợp sau: Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu cung cấp
13
dịch vụ phi tư vấn; gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô
nhỏ. Theo quy định “gói thầu quy mô nhỏ là gói thầu cung cấp dịch vụ phi tư
vấn, mua sắm hàng hóa có giá trị gói thầu không quá 10 tỷ đồng”. Như vậy,
đối với những gói thầu mua sắm hàng hóa trên 10 tỷ thì phải áp dụng theo
phương thức một giai đoạn, hai túi hồ sơ.
Luật Đấu thầu 2013 được các đánh giá cao bởi sự không ràng buộc về
giá, không bắt buộc lấy tiêu chí giá thấp nhất mà thay vào đó sử dụng tiêu chí
xác định toàn diện, cả về kỹ thuật và năng lực tổ chức thi công. Trước đây,
theo Luật đấu thầu 2005, các trường hợp nhà thầu bỏ giá thấp nhất đều trúng
thầu, trong đó có rất nhiều nhà thầu Trung Quốc. Trường hợp nếu doanh
nghiệp bỏ giá thứ 2 nhưng đáp ứng đầy đủ các tiêu chí về kỹ thuật thì vẫn
đồng mua sắm hàng hóa trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch
và hiệu quả kinh tế.
Thứ ba, lưu ý về quy trình thực hiện đấu thầu: nhà thầu nộp đồng thời
hồ sơ đề xuất về kỹ thuật và hồ sơ đề xuất về tài chính riêng biệt theo yêu cầu
của hồ sơ mời thầu. Việc mở thầu được tiến hành hai lần. Hồ sơ đề xuất về kỹ
thuật sẽ được mở ngay sau thời điểm đóng thầu. Nhà thầu đáp ứng yêu cầu về
kỹ thuật sẽ được mở hồ sơ đề xuất về tài chính để đánh giá.
Về mặt lý thuyết, có thể thấy đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương
thức một giai đoạn, hai túi hồ sơ giữ vai trò rất quan trọng trong sự phát triển
kinh tế. Phương thức đấu thầu này tạo nên sự cạnh tranh bình đẳng đối với tất
cả doanh nghiệp, nhà cung cấp hàng hóa trên thị trường. Thông qua hoạt động
đấu thầu, nhà đầu tư mua sắm được hàng hóa với giá thấp nhất nhưng vẫn đạt
yêu cầu về chất lượng của hàng hóa. Thông qua đấu thầu giúp thúc đẩy sự
phát triển của nền kinh tế cũng như sự hoàn thiện và phát triển của doanh
nghiệp do tính cạnh tranh mà hoạt động đấu thầu tạo ra.
15
1.2. Pháp luật về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai
đoạn, hai túi hồ sơ
1.2.1. Một số quy định chung về pháp luật đấu thầu mua sắm hàng hóa
theo phương thức một giai đoạn, hai túi hồ sơ
1.2.1.1. Tư cách nhà đầu tư, nhà thầu
Theo quy định của Luật đấu thầu về tư cách của nhà thầu, nhà đầu tư
thì khi tham gia gói thầu, nhà thầu, nhà đầu tư phải có tư cách hợp lệ. Nhà
thầu, nhà đầu tư có tư cách hợp lệ khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:
Đối với nhà thầu, nhà đầu tư là tổ chức (Khoản 1 Điều 5 Luật đấu
trên của Luật đấu thầu được tham dự thầu với tư cách độc lập hoặc liên danh.
Đối với trường hợp nhà thầu, nhà đầu tư tham dự thầu với tư cách liên danh
phải có văn bản thỏa thuận giữa các thành viên, trong đó quy định rõ trách
nhiệm của thành viên đứng đầu liên danh và trách nhiệm chung, trách nhiệm
riêng của từng thành viên trong liên danh.
1.2.1.2. Tính bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu
Để đảm bảo tính cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu, Điều 6 Luật đấu
thầu 2013 quy định điều kiện đối với nhà thầu, nhà đầu tư khi tham gia dự thầu:
Đối với Nhà thầu nộp hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển: phải độc
lập về pháp lý và độc lập về tài chính với các nhà thầu tư vấn lập hồ sơ mời
quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển; đánh giá hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển;
thẩm định kết quả mời quan tâm, kết quả sơ tuyển.
Đối với Nhà thầu tham dự thầu: phải độc lập về pháp lý và độc lập về
tài chính với các bên sau đây:
- Chủ đầu tư, bên mời thầu;
- Các nhà thầu tư vấn lập, thẩm tra, thẩm định hồ sơ thiết kế, dự toán;
lập, thẩm định hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu; đánh giá hồ sơ dự thầu,
hồ sơ đề xuất; thẩm định kết quả lựa chọn nhà thầu gói thầu đó;
- Các nhà thầu khác cùng tham dự thầu trong một gói thầu đối với đấu
thầu hạn chế.
17
Nhà thầu tham dự thầu với nhà thầu tư vấn cho gói thầu đó không có cổ
phần hoặc vốn góp của nhau; không cùng có cổ phần hoặc vốn góp trên 20%
của một tổ chức, cá nhân khác với từng bên.
Ngoài ra, Điều 2 Nghị định 63/2014/NĐ-CP còn hướng dẫn thêm để
đảm bảo tính cạnh trạnh trong đấu thầu:
-
Nhà thầu tham dự thầu gói thầu hỗn hợp phải độc lập về pháp lý và độc
lập về tài chính với nhà thầu lập báo cáo nghiên cứu khả thi, lập hồ sơ thiết kế
kỹ thuật, lập hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công cho gói thầu đó, trừ trường hợp các
nội dung công việc này là một phần của gói thầu hỗn hợp.
-
Nhà thầu tư vấn có thể tham gia cung cấp một hoặc nhiều dịch vụ tư
vấn cho cùng một dự án, gói thầu bao gồm: Lập báo cáo nghiên cứu tiền khả
18