VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ ĐỨC BÌNH
ĐẤU THẦU MUA SẮM HÀNG HÓA THEO PHƯƠNG THỨC
MỘT GIAI ĐOẠN, HAI TÚI HỒ SƠ THEO PHÁP LUẬT
ĐẤU THẦU Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Hà Nội - 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ ĐỨC BÌNH
ĐẤU THẦU MUA SẮM HÀNG HÓA THEO PHƯƠNG THỨC
MỘT GIAI ĐOẠN, HAI TÚI HỒ SƠ THEO PHÁP LUẬT
ĐẤU THẦU Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8.38. 01 .07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. BÙI NGUYÊN KHÁNH
Hà Nội - 2019
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐẤU
THẦU MUA SẮM HÀNG HÓA THEO PHƯƠNG THỨC MỘT
GIAI ĐOẠN, HAI TÚI HỒ SƠ.................................................................... 66
3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật đấu thầu mua sắm hàng hóa theo
phương thức một giai đoạn, hai túi hồ sơ ............................................... 66
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đấu thầu mua
sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, hai túi hồ sơ ................ 73
KẾT LUẬN .................................................................................................... 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 79
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Tên viết tắt
Diễn giải
HSMT
Hồ sơ mời thầu
HSDT
Hồ sơ dự thầu
KQLCNT
Kết quả lựa chọn nhà thầu
HSĐXKT
thức đấu thầu hai giai đoạn hai túi hồ sơ và phương thức đấu thầu hai giai
đoạn một túi hồ sơ.
Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của việc đấu thầu mua sắm
hàng hóa nói chung, pháp luật Việt Nam hiện hành đã có rất nhiều văn bản
khác nhau điều chỉnh về vấn đề này. Điển hình trong đó phải kể tới Luật Đấu
thầu năm 2013 và hệ thống các thông tư, nghị định hướng dẫn thi hành. Nhờ
có những văn bản, quá trình đấu thầu mua sắm hàng hóa giữa các bên được
đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước, các vấn đề có liên quan cũng
được bóc tách, quy định cụ thể và rõ ràng hơn. Đồng thời, hoạt động đấu thầu
còn có nhiều đóng góp to lớn cho sự phát triển kinh tế của đất nước.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, hoạt động đấu thầu hiện nay
còn tồn tại một thực tế đáng buồn như đấu thầu thiếu minh bạch, thiếu công
1
bằng, tình trạng thông thầu giữa chủ đầu tư và nhà thầu, giữa các bên đấu thầu
với nhau,… Không chỉ vậỵ, trải qua hơn năm năm kể từ ngày Luật Đấu thầu
năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành có hiệu lực, các văn bản này đã
dần bộc lộ những hạn chế nhất định. Một số quy định về đấu thầu mua sắm
không còn phù hợp với tình hình thực tại.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài
“Đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, hai túi hồ
sơ theo pháp luật đấu thầu ở Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu và hoàn
thành Luận văn Thạc sĩ Luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đấu thầu mua sắm hàng hóa là một lĩnh vực quan trọng, luôn dành
được rất nhiều sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, của các bên tham gia vào
quan hệ đấu thầu. Đặc biệt, đây cũng là một lĩnh vực tốn khá nhiều giấy mực
của giới Luật học trong và ngoài nước. Có thể kể tới một số công trình nghiên
đoạn, hai túi hồ sơ.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu nêu trên, Luận văn đi sâu và
tập trung tiến hành các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
Một là, nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về
đấu thầu và pháp luật về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một
giai đoạn, hai túi hồ sơ.
Hai là, phân tích và tìm hiểu thực trạng pháp luật Việt Nam hiện nay về
đấu thầu và pháp luật về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một
giai đoạn, hai túi hồ sơ.
Ba là, phân tích và đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về đấu thầu
mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, hai túi hồ sơ ở Việt Nam
hiện nay.
3
Bốn là, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đấu thầu
mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, hai túi hồ sơ ở Việt Nam
hiện nay.
Năm là, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng
pháp luật đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, hai túi
hồ sơ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn bao gồm: (1) Lý thuyết chung về
đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, hai túi hồ sơ; (2)
Pháp luật Việt Nam hiện hành về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương
thức một giai đoạn, hai túi hồ sơ.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
về những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về vấn đề này.
Không chỉ vậy, phương pháp thống kê, tổng hợp còn được sử dụng
trong việc thu thập và kế thừa các thông tin, tài liệu tổng kết thi hành Luật
Đấu thầu năm 2013, số liệu của các công trình nghiên cứu khoa học đã được
công bố.
- Phương pháp phân tích, bình luận, đánh giá: Trên cơ sở những thông tin
đã thống kê, tổng hợp được, Luận văn tiếp tục sử dụng phương pháp phân tích
và đánh giá để có cái nhìn đa chiều hơn về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo
phương thức một giai đoạn, hai túi hồ sơ. Đồng thời, chỉ ra được những kết
quả đã đạt được cũng như những hạn chế còn tồn tại trong các quy định của
pháp luật hiện nay về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai
đoạn, hai túi hồ sơ.
- Phương pháp so sánh: Phương pháp so sánh này được Luận văn sử dụng
để đối chiếu giữa các quy định của pháp luật, tìm ra các điểm bất cập, chưa
hợp lý, chưa thống nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành về đấu
5
thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai đoạn, hai túi hồ sơ. Đồng
thời, tìm ra điểm nào chưa phù hợp giữa quy định của pháp luật và thực tiễn
thi hành các quy định này trong thực tế.
- Phương pháp quy nạp, diễn dịch: Với tất cả những thông tin đã có được
nhờ việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu nêu trên, Luận văn đã vận
dụng một cách linh hoạt phương pháp quy nạp và phương pháp diễn dịch.
Mục đích của việc sử dụng phương pháp này là nhằm nghiên cứu và chứng
minh những kiến nghị để hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả áp dụng pháp luật đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức
một giai đoạn, hai túi hồ sơ.
Bên cạnh đó, Luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
giai đoạn, hai túi hồ sơ.
7
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ
ĐẤU THẦU MUA SẮM HÀNG HÓA THEO PHƯƠNG THỨC
MỘT GIAI ĐOẠN, HAI TÚI HỒ SƠ
1.1. Khái niệm về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai
đoạn, hai túi hồ sơ
1.1.1. Khái niệm “Đấu thầu”
Trước hết, thuật ngữ “đấu thầu” đã xuất hiện từ lâu. Theo Từ Điển Luật
học A Law Dictionary, Adapted to the Constitution and Laws of the United
States bởi John Bouvier, xuất bản năm 1856 có viết: “A bid is an offer to pay
a specified price for an article about to be sold at auction. The bidder has a
right to withdraw his bid at any time before it is accepted, which acceptance
is generally manifested by knocking down the hammer.” [33] (Tạm dịch: Đấu
thầu là một đề nghị trả giá xác định cho một sản phẩm sắp được bán đấu giá.
Nhà thầu có quyền rút lại giá thầu của mình bất cứ lúc nào trước khi được
chấp nhận, sự chấp nhận này thường được biểu hiện bằng cách hạ búa). Theo
Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, xuất bản năm 2003, NXB Đà
Nẵng – Từ điển học, trang 302 thì “đấu thầu là việc tổ chức cuộc đọ sức công
khai ai nhận làm, ai bán với điều kiện tốt nhất”[26,tr.302]
Dưới góc độ pháp lý, khoản 1 Điều 214 Luật Thương mại 2005 có quy
định về khái niệm đấu thầu đối với hàng hóa, dịch vụ như sau: “Đấu thầu
hàng hoá, dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên mua hàng hoá,
dịch vụ thông qua mời thầu (gọi là bên mời thầu) nhằm lựa chọn trong số các
thương nhân tham gia đấu thầu (gọi là bên dự thầu) thương nhân đáp ứng tốt
nhất các yêu cầu do bên mời thầu đặt ra và được lựa chọn để ký kết và thực
để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư,
9
dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh
bạch và hiệu quả kinh tế.”[30]
Như vậy, từ quy định nêu trên, có thể thấy, đấu thầu được hiểu là quá
trình mà chủ đầu tư lựa chọn ra nhà thầu có thể đáp ứng các yêu cầu của mình
để ký kết và thực hiện hợp đồng như hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch
vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; hoặc thông qua quá trình này lựa
chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức
đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất. Trong đó, thông qua đấu thầu mà
bên mua tổ chức thì bên bán, chính là các nhà thầu sẽ cạnh tranh nhau để
giành được quyền cung cấp mua hàng hóa, dịch vụ đó với giá đủ bù đắp các
chi phí đầu vào và đảm bảo mức lợi nhuận cao nhất có thể cho bên mình. Bên
mua sẽ lựa chọn nhà thầu nào mà mang lại cho bên mua hàng hóa hoặc dịch
vụ có thể thỏa mãn các yêu cầu về kĩ thuật, chất lượng trong hồ sơ mời thầu
và đặc biệt là chi phí thấp nhất. Nói chung, bản chất của đấu thầu như 1 sự
cạnh tranh lành mạnh có tính công bằng, minh bạch và mang lại hiệu quả kinh
tế để được thực hiện công việc nào đó, yêu cầu nào.
Đấu thầu có một số đặc điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, đấu thầu là một hoạt động thương mại mà bên dự thầu là các
thương nhân đáp ứng đủ điều kiện và hướng tới là lợi nhuận từ việc ký kết,
thực hiện hợp đồng; còn bên mời thầu thông qua hoạt động đấu thầu để ký kết
hợp đồng mua bán hàng hóa, hoặc sử dụng dịch vụ với bên nhà thầu mà có
thể đáp ứng các điều kiện tốt nhất của mình.
Thứ hai, đấu thầu là một giai đoạn tiền hợp đồng. Mục đích cuối cùng
của đấu thầu là lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng theo quy
định của Luật đấu thầu. Sau khi quá trình lựa chọn nhà thầu hoàn tất, nhà thầu
Thứ sáu, giá của gói thầu là giá trị của gói thầu được phê duyệt trong kế
hoạch lựa chọn nhà thầu. Bên dự thầu nếu đưa ra giá cao hơn khả năng tài
11
chính được thể hiện tại kế hoạch lựa chọn nhà thầu của bên mời thầu thì chất
lượng hàng hóa, dịch vụ có tốt cũng khó có thể trúng thầu. Nhà thầu dự thầu
nào có thể đáp ứng được các yêu cầu của bên mời thầu trong kế hoạch lựa
chọn nhà thầu nhưng có giá càng thấp so với giá của gói thầu thì sẽ càng có
cơ hội chiến thắng.
1.1.2. Vai trò của đấu thầu
Đấu thầu là cách thức cạnh tranh trong việc nhận dự án một cách công
khai, minh bạch và công bằng nhất cho các nhà thầu tham gia đấu thầu.
Thông qua đấu thầu, bên mời thầu có thể lựa chọn được nhà thầu phù hợp
nhất với giá thấp nhất nhưng vẫn đảm bảo cho việc hiệu quả kinh tế trong
việc đầu tư dự án của mình.
Vai trò của đấu thầu với chủ đầu tư dự án: Việc tổ chức đấu thầu là
quá trình giúp chủ đầu tư dự án tìm ra được nhà thầu phù hợp nhất để thực
hiện có hiệu quả về yêu cầu chất lượng của dự án; hàng hóa, dịch vụ đảm bảo
cả về chất lượng và giá cả, giúp tiết kiệm nguồn vốn đầu tư dự án nhưng vẫn
đem lại hiệu quả kinh tế.
Vai trò của đấu thầu với nhà thầu: Khi tham gia đấu thầu, các nhà
thầu buộc phải cạnh tranh nhau để có thể tìm kiếm các cơ hội tham dự đấu
thầu các gói thầu, để có thể trúng thầu và thương thảo, kí kết hợp đồng, tạo cơ
hội việc làm cho người lao động nhà thầu và phát triển sản xuất. Thông qua
việc tham gia đấu thầu các dự án, nhà thầu biết cách hoàn thiện hơn ở mọi
phương diện để đáp ứng yêu cầu của dự án, để có thể trúng thầu. Từ đó, các
nhà thầu sẽ phải nâng cao năng lực của mình, nâng cao kỹ thuật để có thể
thực hiện các dự án.
tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp;
- Đấu thầu rộng rãi đối với lựa chọn nhà đầu tư.
Còn đối với phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ thì áp dụng với
trường hợp sau: Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu cung cấp
13
dịch vụ phi tư vấn; gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô
nhỏ. Theo quy định “gói thầu quy mô nhỏ là gói thầu cung cấp dịch vụ phi tư
vấn, mua sắm hàng hóa có giá trị gói thầu không quá 10 tỷ đồng”. Như vậy,
đối với những gói thầu mua sắm hàng hóa trên 10 tỷ thì phải áp dụng theo
phương thức một giai đoạn, hai túi hồ sơ.
Luật Đấu thầu 2013 được các đánh giá cao bởi sự không ràng buộc về
giá, không bắt buộc lấy tiêu chí giá thấp nhất mà thay vào đó sử dụng tiêu chí
xác định toàn diện, cả về kỹ thuật và năng lực tổ chức thi công. Trước đây,
theo Luật đấu thầu 2005, các trường hợp nhà thầu bỏ giá thấp nhất đều trúng
thầu, trong đó có rất nhiều nhà thầu Trung Quốc. Trường hợp nếu doanh
nghiệp bỏ giá thứ 2 nhưng đáp ứng đầy đủ các tiêu chí về kỹ thuật thì vẫn
trúng thầu.
Ngoài ra, một trong những điểm nổi bật tạo ra sự minh bạch trong đấu
thầu của việc áp dụng phương thức đấu thầu một giai đoạn hai túi hồ sơ. Điều
đó đồng nghĩa là túi hồ sơ đề xuất về kỹ thuật sẽ được đánh giá trước và nhà
thầu nào đáp ứng về kinh nghiệm, năng lực kỹ thuật chất lượng thì mới được
bóc túi hồ sơ về tài chính ra để cùng so sánh. Nếu như trước đây, theo Luật
đấu thầu 2005, việc đấu thầu sẽ mở cùng lúc túi về tài chính cũng như túi về
kỹ thuật. Trong trường hợp thì nhà thầu không mạnh về kỹ thuật nhưng họ
chào với giá thấp thì tổ chuyên gia sẽ gặp phải lúng túng. Còn theo Luật đấu
thầu 2013 không bóc túi tài chính nên không biết giá mà nhà thầu chào thầu
cao hay thấp, tổ chuyên gia sẽ làm việc một cách khách quan hơn.
đấu thầu, nhà đầu tư mua sắm được hàng hóa với giá thấp nhất nhưng vẫn đạt
yêu cầu về chất lượng của hàng hóa. Thông qua đấu thầu giúp thúc đẩy sự
phát triển của nền kinh tế cũng như sự hoàn thiện và phát triển của doanh
nghiệp do tính cạnh tranh mà hoạt động đấu thầu tạo ra.
15
1.2. Pháp luật về đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một giai
đoạn, hai túi hồ sơ
1.2.1. Một số quy định chung về pháp luật đấu thầu mua sắm hàng hóa
theo phương thức một giai đoạn, hai túi hồ sơ
1.2.1.1. Tư cách nhà đầu tư, nhà thầu
Theo quy định của Luật đấu thầu về tư cách của nhà thầu, nhà đầu tư
thì khi tham gia gói thầu, nhà thầu, nhà đầu tư phải có tư cách hợp lệ. Nhà
thầu, nhà đầu tư có tư cách hợp lệ khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:
Đối với nhà thầu, nhà đầu tư là tổ chức (Khoản 1 Điều 5 Luật đấu
thầu 2013):
- Có đăng ký thành lập, hoạt động do cơ quan có thẩm quyền của nước
mà nhà thầu, nhà đầu tư đang hoạt động cấp;
- Hạch toán tài chính độc lập;
- Không đang trong quá trình giải thể; không bị kết luận đang lâm vào tình
trạng phá sản hoặc nợ không có khả năng chi trả theo quy định của pháp luật;
- Đã đăng ký trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia;
- Bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu theo quy định của Luật đấu thầu;
- Không đang trong thời gian bị cấm tham dự thầu;
- Có tên trong danh sách ngắn đối với trường hợp đã lựa chọn được danh
sách ngắn;
- Phải liên danh với nhà thầu trong nước hoặc sử dụng nhà thầu phụ
trong nước đối với nhà thầu nước ngoài khi tham dự thầu quốc tế tại Việt
lập, thẩm định hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu; đánh giá hồ sơ dự thầu,
hồ sơ đề xuất; thẩm định kết quả lựa chọn nhà thầu gói thầu đó;
- Các nhà thầu khác cùng tham dự thầu trong một gói thầu đối với đấu
thầu hạn chế.
17
Đối với Nhà thầu tư vấn giám sát thực hiện hợp đồng: phải độc lập
về pháp lý và độc lập về tài chính với nhà thầu thực hiện hợp đồng, nhà thầu
tư vấn kiểm định gói thầu đó.
Theo khoản 4 Điều 2 Nghị định 63/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu hướng dẫn về cách
thức xác định Nhà thầu được đánh giá độc lập về pháp lý và độc lập về tài
chính với nhà thầu khác; với nhà thầu tư vấn; với chủ đầu tư, bên mời thầu
theo quy định nêu trên. Theo đó, độc lập về pháp lý và độc lập về tài chính
được đánh giá khi đáp ứng các điều kiện sau đây:
- Không cùng thuộc một cơ quan hoặc tổ chức trực tiếp quản lý đối với
đơn vị sự nghiệp;
- Nhà thầu với chủ đầu tư, bên mời thầu không có cổ phần hoặc vốn góp
trên 30% của nhau;
- Nhà thầu không có cổ phần hoặc vốn góp trên 20% của nhau khi cùng
tham dự thầu trong một gói thầu đối với đấu thầu hạn chế;
- Nhà thầu tham dự thầu với nhà thầu tư vấn cho gói thầu đó không có cổ
phần hoặc vốn góp của nhau; không cùng có cổ phần hoặc vốn góp trên 20%
của một tổ chức, cá nhân khác với từng bên.
Ngoài ra, Điều 2 Nghị định 63/2014/NĐ-CP còn hướng dẫn thêm để
đảm bảo tính cạnh trạnh trong đấu thầu:
- Nhà thầu tham dự thầu gói thầu hỗn hợp phải độc lập về pháp lý và độc
lập về tài chính với nhà thầu lập báo cáo nghiên cứu khả thi, lập hồ sơ thiết kế
Bảo đảm dự thầu trong đấu thầu là một trong những quy định ràng buộc
cả Bên mời thầu và Bên dự thầu đều phải tuân thủ trong đấu thầu nói chung
và đấu thầu mua sắm hàng hoá nói riêng. Bên dự thầu phải có bảo đảm dự
thầu bằng một trong các biện pháp đặt cọc, ký quỹ hoặc nộp thư bảo lãnh để
bảo đảm trách nhiệm tham gia đấu thầu của mình trong suốt quá trình đấu
19
thầu. Bên mời thầu cần phải tuân thủ các quy định về bảo đảm dự thầu để hồ
sơ mời thầu của mình là hợp lệ.
a. Các trường hợp áp dụng bảo đảm dự thầu
Bảo đảm dự thầu áp dụng trong các trường hợp theo Điều 11 Luật đấu
thầu 2013:
Trường hợp thứ nhất: Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, chào hàng
cạnh tranh đối với gói thầu cung cấp dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa,
xây lắp và gói thầu hỗn hợp;
Trường hợp thứ hai: Đấu thầu rộng rãi và chỉ định thầu đối với lựa
chọn nhà đầu tư.
b. Giá trị bảo đảm dự thầu
Nhà thầu, nhà đầu tư sẽ phải thực hiện biện pháp bảo đảm dự thầu để
nhằm bảo đảm trách nhiệm dự thầu của mình trước thời điểm đóng thầu đối
với hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất với giá trị bảo đảm dự thầu phải được thực
hiện theo như sau:
- Đối với lựa chọn nhà thầu: giá trị bảo đảm dự thầu được quy định trong
hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu theo một mức xác định từ 1% đến 3% giá gói
thầu căn cứ quy mô và tính chất của từng gói thầu cụ thể;
- Đối với lựa chọn nhà đầu tư, giá trị bảo đảm dự thầu được quy định
trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu theo một mức xác định từ 0,5% đến 1,5%
tổng mức đầu tư căn cứ vào quy mô và tính chất của từng dự án cụ thể.
c. Thời gian có hiệu lực của bảo đảm dự thầu