Tổ chức và hoạt động của các ban của HĐND cấp xã từ thực tiễn quận sơn trà, thành phố đà nẵng - Pdf 57

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN XUÂN TRINH

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC BAN
CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ
TỪ THỰC TIỄN QUẬN SƠN TRÀ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN XUÂN TRINH

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC BAN
CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ
TỪ THỰC TIỄN QUẬN SƠN TRÀ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành
Mã số

: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
: 8 38 01 02


văn đến khâu hoàn thành đề tài luận văn, xin được trân trọng bày tỏ lòng cảm
ơn sâu sắc đến thầy rất nhiều.
Mặc dù đã hết sức cố gắng trong quá trình nghiên cứu. Tuy nhiên, cũng
không không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế nhất định. Bản thân tôi rất
mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô để giúp tôi hoàn
thiện hơn nữa trong quá trình nghiên cứu của mình.
Xin trân trọng cảm ơn!


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỔ
CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC BAN CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN
DÂN CẤP XÃ .................................................................................................. 6
1.1. Khái niệm, vị trí và vai trò của các Ban Hội đồng nhân dân cấp xã.......... 6
1.2. Tổ chức và hoạt động của các Ban của Hội đồng nhân dân cấp xã theo
quy định của pháp luật hiện hành.................................................................... 14
1.3. Những yếu tố tác động đến tổ chức và hoạt động của các Ban của Hội
đồng nhân dân cấp xã ...................................................................................... 21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC
BAN HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN PHƯỜNG TẠI QUẬN SƠN TRÀ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ............................................................................. 25
2.1. Ban của Hội đồng nhân dân phường trong các điều kiện tự nhiên, kinh tế
- xã hội của quận Sơn Trà ............................................................................... 25
2.2. Thực tiễn tổ chức và hoạt động của các Ban của Hội đồng nhân dân
phường ở quận Sơn Trà ................................................................................... 27
2.3. Đánh giá chung về tổ chức và hoạt động của các Ban Hội đồng nhân dân
phường ở quận Sơn Trà ................................................................................... 42
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC BAN CỦA HỘI


3

CQĐP

Chính quyền địa phương

4

UBHC

Ủy ban hành chính

5

UBTVQH

Ủy ban Thường vụ Quốc hội

6

UBMTTQVN

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

7

XHCN

Xã hội chủ nghĩa


VÀ BAN PHÁP CHẾ HĐND 7

PL

PHƯỜNG
2.4

2.5

2.6

SỐ LƯỢNG TỔ CHỨC CÁC CUỘC THẨM TRA CỦA
CÁC BAN HĐND
SỐ LƯỢNG TỔ CHỨC CÁC CUỘC GIÁM SÁT CỦA
CÁC BAN HĐND
SỐ LƯỢNG TỔ CHỨC CÁC CUỘC KHẢO SÁT CỦA
CÁC BAN HĐND

PL

PL

PL


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý
chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương

- HĐND trong bộ máy Nhà nước. Nxb Chính trị - hành chính, 2013
luận chứng vị trí, vai trò và tổ chức, nhiệm vụ của HĐND - Ban Công tác đại
biểu - Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử
- Đề tài luận văn “Hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh từ thực tiễn
tỉnh Tuyên Quang” của Lý Ngọc Thanh (năm 2013).
- Đề tài luận văn “Giám sát của HĐND cấp tỉnh từ thực tiễn thành phố
Hồ Chí Minh” của Đặng Ngọc Quế Hương (năm 2014).
- “Tổ chức và Hoạt động của CQĐP - thực trạng và giải pháp” của
PGS.TS Nguyễn Minh Phương, tạp chí Tổ chức Nhà nước số 9/2005.
- Đề tài luận văn “Tổ chức và hoạt động các Ban của HĐND thành phố
Hồ Chí Minh thực trạng và kiến nghị” của Nguyễn Hồng Sơn (năm 2008).
- Tổ chức và hoạt động của các Ban của HĐND của PGS.TS Trương
Đắc Linh, nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, số 2/2003.
- Đề tài luận văn “Tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã từ thực tiễn
huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (năm 2015).
- Đề tài luận văn “Tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã từ thực tiễn
huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi (năm 2016).
- Đề tài luận văn “Hoạt động giám sát của HĐND thành phố Đà Nẵng
hiện nay” của Trương Thị Hương Thu (năm 2018).
Những công trình nghiên cứu trên là tư liệu rất cần thiết cho việc
nghiên cứu đề tài luận văn này. Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nghiên
cứu nào toàn diện, chuyên sâu về tổ chức và hoạt động các Ban HĐND cấp xã

2


nói chung cũng như tổ chức và hoạt động các Ban HĐND cấp phường ở quận
Sơn Trà nói riêng. Vì vậy, luận văn sẽ được nghiên cứu sâu về vấn đề này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu

động của các Ban HĐND 7 phường ở quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng từ
năm 2017 đến tháng 6 năm 2019.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu của luận văn dựa trên nền tảng các văn bản Luật Tổ chức
HĐND và UBHC; Luật Tổ chức HĐND và UBND; Luật Tổ chức CQĐP;
Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND; Sắc Lệnh số 63; Sắc Lệnh
số 77; về tổ chức hoạt động của các Ban của HĐND cấp xã nói chung và về tổ
chức, hoạt động của các Ban của HĐND phường ở quận Sơn Trà, thành phố
Đà Nẵng nói riêng.
Phương pháp nghiên cứu gồm: thống kê; phỏng vấn trực tiếp; quan sát,
tổng kết thực tiễn; phân tích, tổng hợp, diễn giải; so sánh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về lý luận: Luận văn đã tập hợp, hệ thống hóa, bổ sung tri thức, quan
điểm lý luận đề xuất giải pháp đổi mới tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động
của các Ban HĐND cấp xã, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân.
- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài
liệu tham khảo cho những người làm công tác nghiên cứu, tập huấn, làm tài
liệu tham khảo cho hoạt động của HĐND, các Ban của HĐND.
7. Cơ cấu của luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về tổ chức và hoạt động
của các Ban của Hội đồng nhân dân cấp xã.
- Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của các Ban của Hội
đồng nhân dân cấp xã tại quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

4


- Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức và
hoạt động của các Ban của Hội đồng nhân dân phường quận Sơn Trà, thành

ninh tại địa phương góp phần thực hiện chế độ dân chủ XHCN, đồng thời

6


giám sát mọi hoạt động của UBND cùng cấp tại địa phương (Điều 113 Hiến
pháp năm 2013).
Về cơ bản, căn cứ vào nhận thức chung về HĐND theo Luật Tổ chức
CQĐP năm 2015, khái niệm HĐND cấp xã có thể nêu như sau: HĐND cấp xã
gồm các đại biểu HĐND do cử tri ở xã bầu ra, là cơ quan quyền lực Nhà
nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của
Nhân dân quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định
của pháp luật, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và chính quyền
Nhà nước cấptrên.
1.1.1.2. Vai trò và chức năng của Hội đồng nhân dân cấp xã
a) Vai trò của Hội đồng nhân dân cấp xã
Theo Hiến pháp năm 2013, chính quyền cấp xã (gồm HĐND và
UBND) là cấp thấp nhất trong hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước, là nền
tảng của chế độ chính trị - xã hội tại địa phương. HĐND cấp xã là nơi phản
ánh đời sống của Nhân dân trên địa bàn xã và tổ chức, quản lý các phong trào
của địa phương để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ.
HĐND là thiết chế đại diện cho quyền lực Nhân dân trên một đơn vị
hành chính - lãnh thổ, thay mặt Nhân dân địa phương quyết định những vấn
đề quan trọng của địa phương, Nhân dân sử dụng quyền lực thông qua HĐND
- cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình. Điều này thể hiện như
sau:
Thứ nhất, HĐND cấp xã là một thiết chế đảm bảo và phát huy quyền
làm chủ của Nhân dân. Nhân dân phát huy quyền làm chủ của mình hay
không là phụ thuộc vào tính đại diện của HĐND cấp xã, HĐND là cơ quan
quyền lực Nhà nước đại diện cho quyền lực của Nhân dân được phát huy tối

năng cơ bản nhất của HĐND là căn cứ vào Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan
Nhà nước cấp trên để ban hành nghị quyết về những vấn đề thuộc nhiệm vụ,
quyền hạn của HĐND cấp xã. (Điều 33 Luật Tổ chức CQĐP năm 2015)

8


Nghị quyết của HĐND cấp xã phải đảm bảo đúng thể thức, được trình
bày mạch lạc, rõ ràng, đúng văn phạm tiếng việt, được hiểu theo một nghĩa,
không sử dụng những từ đa nghĩa, khi cần thiết phải giải thích rõ ràng trong
nghị quyết.
Chức năng giám sát: Giám sát việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật ở
địa phương, việc thực hiện nghị quyết của HĐND; giám sát hoạt động của
Thường trực HĐND, UBND, Ban của HĐND cùng cấp; giám sát văn bản quy
phạm pháp luật của UBND cùngcấp. HĐND xã thực hiện quyền giám sát tại
kỳ họp; giám sát của Thường trực HĐND; giám sát của Ban HĐND và giám
sát của đại biểu HĐND. Nội dung giám sát do HĐND xã quyết định theo đề
nghị của Thường trực HĐND trên cơ sở kiến nghị của Ban HĐND, đại biểu
HĐND, UBMTTQVN cùng cấp và ý kiến, kiến nghị của cử tri địa phương.
Các hoạt động giám sát của HĐND được quy định tại Điều 87 Luật Tổ chức
CQĐP năm 2015.
1.1.2. Sự hình thành, khái niệm, đặc điểm và vị trí, vai trò của các
Ban Hội đồng nhân dân cấp xã
1.1.2.1. Sự hình thành các Ban của Hội đồng nhân dân cấp xã
Trong tiến trình lịch sử phát triển của Nhà nước ta, các đơn vị hành
chính lãnh thổ tuy có thay đổi qua từng thời kỳ, nhưng vẫn có 4 cấp đơn vị
hành chính cơ bản đó là cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Cấp
tỉnh, huyện, xã được xác định là cấp CQĐP. HĐND và UBHC (UBND) được
tổ chức ở cấp địa phương theo quy định của pháp luật. Trừ bản hiến pháp năm
1946, thì các bản Hiến pháp còn lại đều xác định HĐND các cấp là cơ quan

Đây là giai đoạn thực hiện theo quy định của: Luật Tổ chức HĐND và
UBND năm 1983; Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1989; Luật Tổ chức
HĐND và UBND năm 1994 và Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
Các Ban của HĐND được thành lập ở cấp tỉnh và cấp huyện, Ban của HĐND
thực hiện nhiệm vụ giúp HĐND theo Luật định và được xác định rõ hơn về vị

10


trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cũng như cơ cấu, tổ chức.
Mặc dù quy định về tổ chức và hoạt động của các Ban của HĐND chưa
được hoàn thiện như hiện nay, nhưng cơ bản đã được hoàn thiện nhiều hơn so
với Luật Tổ chức CQĐP năm 1958 và Luật Tổ chức HĐND và UBHC năm
1962. Các Ban của HĐND được thành lập là trong giai đoạn này là “cơ quan
chuyên trách” của HĐND, có cơ cấu tổ chức, tính chất, vị trí và vai trò, chức
năng và nhiệm vụ, quyền hạn được quy định cụ thể, rõ ràng.
* Giai đoạn từ từ năm 2016 đến nay
Theo quy định của Luật Tổ chức CQĐP năm 2015 thì CQĐP được
thành lập ở cấp tỉnh, huyện, xã. Tổ chức và hoạt động của CQĐP cũng được
quy định rõ ràng, cụ thể hơn, nhiều điểm mới được bổ sung cho phù hợp với
chính quyền ở nông thôn và chính quyền ở đô thị, phù hợp với điều kiện kinh
tế, xã hội, vị trí địa lý và dân cư và yêu cầu quản lý từng địa phương. HĐND
cấp xã được thành lập Ban kinh tế - xã hội và Ban pháp chế, hoạt động
thường xuyên, theo từng lĩnh vực cụ thể và chuyên sâu, mang tính ổn định
của HĐND xã. Các Ban của HĐND xã giúp cho HĐND xã thực hiện chức
năng, nhiệm vụ của mình ở từng lĩnh vực, nhiệm vụ cụ thể theo luật định. Cơ
cấu tổ chức các Ban của HĐND cấp xã được quy định rõ ràng, mỗi Ban có
trưởng ban, một phó trưởng Ban và các thành viên, số lượng các thành viên
của Ban là đại biểu HĐND do HĐND quyết định và hoạt động theo chế độ
kiêm nhiệm; nhiệm vụ, quyền hạn của các Ban của HĐND cấp xã ở nông

theo khảo 4 Điều 104 Luật Tổ chức CQĐP năm 2015 quy định: “Thường trực
HĐND chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của các Ban của HĐND …”
Ba là, thể hiện tính chuyên môn của các Ban HĐND, từ chỗ không quy
định có Ban đến có Ban, là cơ quan chuyên môn của HĐND, thực hiện nhiệm
vụ theo quy định và ở những lĩnh vực được phân công phụ trách.
Bốn là, thành viên của Ban HĐND xã là đại biểu HĐND cùng cấp. Do
đó, thành viên của Ban của HĐND xã cũng phải thực hiện quy định về công

12


tác tiếp công dân, tiếp xúc cử tri theo quy định của pháp luật.
1.1.2.3. Vị trí, vai trò của các Ban trong Hội đồng nhân dân cấp xã
Vị trí của Ban HĐND xã có thể xét trên các phương diện sau:
Thứ nhất, Ban của HĐND xã là bộ phận cấu thành, là cơ quan chuyên
môn của HĐND xã, bên cạnh Thường HĐND, đều do HĐND lập ra.
Thứ hai, theo khoản 4 Điều 104 và khoản 3 và khoản 4 Điều 6 của Luật
Tổ chức CQĐP năm 2015 thì Thường trực HĐND chỉ đạo, điều hòa, phối hợp
hoạt động của các Ban HĐND, nhưng không quy định các Ban HĐND là cơ
quan thuộc Thường trực HĐND, mà cả Thường trực HĐND và các Ban của
HĐND xã đều là cơ quan của HĐND.
Thứ ba, Ban của HĐND xã có quyền giám sát hoạt động của UBND và
các cơ quan thuộc UBND cùng cấp trong các lĩnh vực phụ trách; giám sát văn
bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi phụ trách (Điều 109 Luật Tổ chức
CQĐP); giám sát quyết định của UBND cùng cấp (Khoản 2, Điều 76 Luật
Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND). Trường hợp phát hiện văn bản
quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật,
văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của
HĐND cùng cấp thì các Ban của HĐNDxã có quyền yêu cầu UBND xem xét,
sửa đổi, bổ sung, đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ

theo quy định của pháp luật hiện hành
1.2.1. Tổ chức của các Ban Hội đồng nhân dân cấp xã
1.2.1.1. Cơ cấu tổ chức của các Ban Hội đồng nhân dân cấp xã
Với vai trò là cơ quan của HĐND, các Ban của HĐND xã được thành
lập phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng Ban. Theo Điều 32 Luật Tổ
chức CQĐP năm 2015, HĐND xã được thành lập Ban pháp chế và Ban kinh
tế - xã hội. Mỗi Ban của HĐND gồm có Trưởng ban, một phó Trưởng ban và
các ủy viên; Trưởng Ban, phó trưởng Ban do HĐND bầu, là đại biểu HĐND;
số lượng ủy viên của mỗi Ban do HĐND xã quyết định; thành viên của các

14


Ban HĐND xã là đại biểu HĐND cùng cấp và hoạt động kiêm nhiệm.
Theo Hướng dẫn số 1138/HD-UBTVQH13 của UBTVQH, số lượng ủy
viên các Ban của HĐND có ít nhất là 05 thành viên, Thường trực HĐND dự
kiến số lượng thành viên, cơ cấu thành phần các Ban của HĐND trình HĐND
dân khóa mới xem xét, quyết định dưới hình thức nghị quyết. Trưởng Ban lập
danh sách cụ thể ủy viên của Ban mình và trình Thường trực HĐND ra nghị
quyết phê chuẩn danh sách ủy viên của từng Ban; việc lập và phê chuẩn danh
sách ủy viên các Ban của HĐND dựa trên sự phù hợp về chuyên môn, nghiệp
vụ, kinh nghiệm, vị trí công tác của mỗi đại biểu, yêu cầu về số lượng, cơ cấu
của từng Ban và nguyện vọng của từng đại biểu HĐND. Để thực hiện nhiệm
vụ của mình, các Ban của HĐND xã có những chức năng cơ bản sau:
Thứ nhất, chức năng thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án, tờ
trình trước khi trình HĐND thông qua. Đây là chức năng rất quan trọng, giúp
cho HĐND trong việc xem xét, quyết định những vấn đề mang tính chiến
lược của địa phương, hằng hình thức ban hành các nghị quyết theo quy định
của pháp luật.
Thứ hai, chức năng giám sát. Giám sát những vấn đề thuộc lĩnh vực

HĐND chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND; trong thời gian
HĐND không họp thì báo cáo công tác trước Thường trực HĐND.
Ban của HĐND xã có quyền giám sát quyết định của UBND cùng cấp,
nếu phát hiện văn bản có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm
pháp luật của cơ quan Nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND cùng cấp thì
các Ban của HĐND có quyền yêu cầu cơ quan đã ban hành văn bản đó xem
xét, sửa đổi, bổ sung, đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ một phần hoặc toàn
bộ văn bản đó
1.2.1.2. Các mối quan hệ của Ban Hội đồng nhân dân cấp xã
Ban của HĐND cấp xã là cơ quan của HĐND cùng với Thường trực
HĐND, do đó trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của

16


mình, Ban của HĐND cấp xã có những mối quan hệ cơ bản sau:
Mối quan hệ giữa các Ban của HĐND: các Ban của HĐND chủ động
phối hợp với nhau trong quá trình thực hiện chức năng, chiệm vụ và quyền
hạn của mình và trao đổi kinh nghiệm hoạt động về những vấn đề có liên
quan trong quá trình công tác.
Mối quan hệ với Thường trực HĐND: Ban của HĐND cử thành viên
tham gia hoạt động của Thường trực HĐND cùng cấp theo yêu cầu của
Thường trực HĐND theo quy định của pháp luật và theo quy chế. Ban là cơ
quan của HĐND nhưng do Thường trực HĐND chỉ đạo, điều hòa, phối hợp
hoạt động trong quá trình thực hiện chức, năng nhiệm vụ.
Mối quan hệ với UBND cùng cấp: Ban của HĐND là cơ quan của
HĐND nên cũng có chức năng của cơ quan quyền lực nhà nước. Do đó,
UBND, các cơ quan thuộc UBND, cơ quan, tổ chức ở địa phương có trách
nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu về những vấn đề mà Ban của HĐND yêu
cầu.

Ban của Hội đồng nhân dân được quy định tại Điều 143 Luật Ban hành văn
bản Quy phạm pháp luật năm 2015 và Điều 111 Luật Tổ chức CQĐP năm
2015.
Để chuẩn bị cho việc thẩm tra, Ban của HĐND cử thành viên tham gia
nghiên cứu dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án; yêu cầu cơ quan soạn thảo và
các cơ quan hữu quan cung cấp tài liệu và trình bày về vấn đề mà Ban thẩm
tra; tổ chức họp lấy ý kiến của những người am hiểu về vấn đề đó; khảo sát
tình hình thực tế tại địa phương về những nội dung liên quan đến dự thảo nghị
quyết, báo cáo, đề án.
Báo cáo thẩm tra cần đánh giá về sự phù hợp của dự thảo nghị quyết, báo
cáo, đề án với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; nêu rõ quan điểm và
đề xuất phương án xử lý đối với những nội dung còn có ý kiến khác nhau.

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status