Thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình tại huyện thăng bình, tỉnh quảng nam - Pdf 57

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ THU NGUYỆT

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÒNG, CHỐNG
BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI HUYỆN THĂNG BÌNH
TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ THU NGUYỆT

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÒNG, CHỐNG
BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI HUYỆN THĂNG BÌNH
TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN THỊ HỒNG

HÀ NỘI, năm 2019


ĐÌNH TẠI HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM.....................
2.1. Một số đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng
Nam .................................................................................................................
2.2. Thực trạng bạo lực gia đình tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam năm
2013-2018........................................................................................................ 36

2.3. Thực trạng thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình tại huyện
Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam 5 năm qua .......................................................
2.4. Kết quả thực hiện chính sách Phòng, chống bạo lực gia đình tại huyện
Thăng Bình ......................................................................................................


CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH
TẠI HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM.................................52
3.1. Quan điểm................................................................................................52
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phòng chống bạo lực
gia đình............................................................................................................53
KẾT LUẬN....................................................................................................70
TÀI LIỆU THAM KHẢO


PCBLGĐ
BLGĐ
Hội LHPN
MTTQ
BĐG


MỞ ĐẦU

1


nhiên, trước những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường, gia đình Việt
Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó có vấn đề bạo lực gia
đình.
Trong những năm qua, công tác thực hiện chính sách phòng, chống bạo
lực gia đình tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam nhìn chung đã được cấp
ủy Đảng, chính quyền địa phương quan tâm và thu được một số kết quả bước
đầu đáng ghi nhận. Công tác truyền thông về phòng, chống bạo lực gia đình
được thực hiện dưới nhiều hình thức, thu hút sự quan tâm của quần chúng
nhân dân và tạo dư luận lên án các hành có tính chất bạo lực; các cơ quan
chuyên môn, các phòng, ban và các tổ chức chính trị - xã hội đã tích cực, chủ
động triển khai một cách đồng bộ đã góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện
chính sách phòng chống bạo lực gia đình. Tuy nhiên, bên cạnh những kết qủa
đạt được thì việc thực thi chính sách phòng, chống bạo lực gia đình vẫn còn
nhiều hạn chế, bất cập như: Bạo lực trong gia đình vẫn còn tồn tại dưới nhiều
hình thức, từ việc sử dụng sức lực, vật dụng để đánh đập gây thương tích, tổn
hại về thể chất cho các thành viên khác; dùng quyền lực để kiểm soát, khống
chế, cấm đoán các thành viên khác về nhiều mặt… việc bố trí ngân sách cho
công tác phòng, chống bạo lực gia đình chưa nhiều. Bên cạnh đó, việc xử lý
các đối tượng gây bạo lực gia đình của chính quyền cơ sở ở một số địa
phương còn mang yếu tố duy trì, dẫn đến những đối tượng gây bạo lực gia
đình coi nhẹ pháp luật và không chấm dứt hành vi… Cơ chế phối hợp liên
ngành trong việc thực thi Luật Phòng, chống bạo lực gia đình chưa thực sự
chặt chẽ, còn mang tính hình thức.
Xuất phát từ ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách phòng,
chống bạo lực gia đình; đồng thời xuất phát từ thực tiễn địa phương và lĩnh vực
tôi đang công tác; tôi lựa chọn đề tài “Thực hiện chính sách phòng, chống bạo


Hà Nội và PGS.TS. Nguyễn Trí Dũng, Phó Viện Trưởng Viện Xã hội học và
Tâm lý lãnh đạo, quản lý Học viện Chính trị Quốc gia HCM;
-

Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình” của tác giả Nguyễn

Ngọc Điện;
-

Pháp luật quốc tế về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ”

của tác giả Trần Thị Hòe;
-

Bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em - thực trạng và nguyên nhân” của

Ngô Thị Hường, Đại học Luật Hà Nội;
Ngoài ra, còn nhiều bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học, các
Luận văn, đề tài đã được nghiệm thu liên quan đến vấn đề BLGĐ. Nhìn
chung, các công trình nêu trên đã phân tích, đánh giá vấn đề BLGĐ dưới
nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề
thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình dưới góc độ chính sách
công về phòng, chống bạo lực gia đình ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
đến nay hầu như chưa có. Trong khi đó, để chính sách có thể đi vào cuộc
3


sống; một mặt có thể tạo cơ chế giúp đỡ cho nạn nhân bạo lực gia đình, mặt
khác có giá trị phòng ngừa tình trạng bạo lực gia đình có thể xảy ra.. Xuất
phát từ lý luận và thực tiễn địa phương cũng như phù hợp với yêu cầu thực

4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu việc thực hiện chính sách phòng, chống
bạo lực gia đình tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu việc thực hiện chính sách
phòng, chống bạo lực gia đình tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
4


Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách
phòng, chống bạo lực gia đình tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam từ năm
2013 - 2018.
5.

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận được sử dụng trong luận văn là phương pháp
luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm chỉ đạo Đảng, pháp luật của nhà nước
Việt Nam về phòng, chống bạo lực gia đình.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận văn gồm:
(1) Phương pháp tổng quan tài liệu
-

Phương pháp tổng quan tài liệu được sử dụng để phân tích, tổng hợp

nội dung các chính sách và quá trình cụ thể hóa, đưa chính sách phòng, chống

Đối tượng phỏng vấn sâu;
Cán bộ thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình tại huyện
Thăng Bình (cấp huyện, xã); cán bộ thực hiện nhiệm vụ Bình đẳng giới tại
Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện; Cán bộ văn hóa - xã hội cấp
xã/thị trấn, thu thập thông tin và đánh giá quá trình thực hiện chính sách để có
đánh giá, phân tích từ phía người thực thi chính sách.
Số lượng phỏng vấn: Dự kiến, phỏng vấn Thành viên Ban chỉ đạo Vì sự
tiến bộ phụ nữ huyện; Thành viên Ban chỉ đạo vì sự tiến bộ phụ nữ cấp xã:
Tổng số 18 người.
6.

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn vận dụng lý thuyết về chính sách công để đánh giá việc thực
hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình; từ đó chỉ ra những bất cập của
quá trình thực hiện chính sách và góp phần hoàn thiện thêm cơ sở lý luận về
xây dựng chính sách phòng, chống bạo lực gia đình.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề xuất được các giải pháp thiết thực, hữu hiệu góp phần nâng cao hiệu
quả thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình nói chung và tại
huyện Thăng Bình nói riêng. Đồng thời, luận văn sẽ góp phần làm phong phú
hơn nguồn tư liệu phục vụ cho hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học, là
một nguồn tài liệu tham khảo cho các đề tài, các nghiên cứu có cùng chủ đề,
cùng đối tượng nghiên cứu với đề tài này..

6


7.

này có thể dựa trên những căn cứ pháp lý hoặc có thể dựa trên những căn cứ
thực tế một cách tự nhiên, tự phát.
Trong thực tế ở mỗi quốc gia, mỗi gia đình có văn hóa và lối sống khác
nhau nên có rất nhiều định nghĩa về gia đình. Khó có thể đưa ra một định
nghĩa chung hoàn hảo. Luận văn này sử dụng khái niệm gia đình được đề cập
trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014.
1.1.2. Bạo lực gia đình
Bạo lực gia đình là một dạng thức của bạo lực xã hội, Điều 1 Luật
Phòng, chống bạo lực gia đình 2007 quy định bạo lực gia đình là "Bạo lực gia
đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây
tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia
8


đình"[29]. Nếu nhìn nhận về hình thức biểu hiện của bạo lực gia đình thì tà có
thể chia thành các hình thức chủ yếu sau:
Bạo lực về thể chất: là hành vi ngược đãi, đánh đập thành viên gia

-

đình, làm tổn thương tới sức khỏe, tính mạng của họ.
-

Bạo lực về tinh thần: là những lời nói, thái độ, hành vi làm tổn thương

tới danh dự, nhân phẩm, tâm lý của thành viên gia đình
-

Bạo lực về kinh tế: là hành vi xâm phạm tới các quyền lợi về kinh tế


tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình.
Bạo lực gia đình không phải là vấn đề mang tính địa phương, vùng
miền mà là một vấn đề toàn cầu, ở đâu cũng có, xuất hiện trong mọi gia đình.
9


Đối tượng bạo lực gia đình có cả nam lẫn nữ, nhưng thường là những thành
viên yếu đuối.
1.1.3. Phòng, chống bạo lực gia đình
*

Khái niệm phòng bạo lực gia đình

Phòng bạo lực gia đình nhằm mục đích tìm ra được những biện pháp
tác động và quy luật phát sinh, tồn tại và phát triển của bạo bực gia đình, đồng
thời khắc phục được nguyên nhân và điều kiện xuất hiện bạo lực gia đình.
Phòng bạo lực gia đình và sự cần thiết của phòng bạo lực gia đình là để bảo
vệ, duy trì trật sự và công bằng xã hội, góp phần bảo vệ các lợi ích chung của
cộng đồng, của xã hội.
Bạo lực gia đình phát sinh, tồn tại là do những nguyên nhân và điều
kiện khác nhau, song chúng ta hoàn toàn có khả năng tiến hành phòng ngừa
và ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình khi nó chưa xảy ra. Quan điểm này thể
hiện phương châm rất quan trọng là lấy giáo dục, phòng ngừa là chính, phòng
ngừa tốt cũng chính là chống bạo lực gia đình tốt. Yêu cầu là phải phòng bạo
lực gia đình ngay từ lúc đầu, làm cho bạo lực gia đình ít xảy ra hơn và tiến tới
không xảy ra bạo lực gia đình hay xử lý bạo lực gia đình chỉ là hãn hữu, là
việc làm bất đắc dĩ.
Do đó, phòng bạo lực gia đình cần lấy việc tuyên truyền, phổ biến giáo
dục pháp luật là quan trọng, hàng đầu. Thực hiện tư tưởng phòng ngừa này thì
phòng bạo lực gia đình được coi là nhiệm vụ chung của các cấp, các ngành và

trong hoạt động chống bạo lực gia đình. Bên cạnh đó, hành vi bạo lực càng
kéo dài thì càng gây ra nhiều tổn thương cho nạn nhân, tổn hại tới mối quan
hệ gia đình. Điều này sẽ được hạn chế rất nhiều nếu hành vi bị phát hiện và xử
lý kịp thời. Do đó, cần phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình,
cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong chống bạo lực gia đình. Bạo lực gia đình từ
lâu đã không còn là vấn đề của mỗi gia đình mà còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ
gây mất ổn định xã hội, do đó việc chống bạo lực gia đình là trách nhiệm
chung của cộng đồng chứ không chỉ là của nhà nước và những người có liên
quan. Việc chống bạo lực gia đình vốn gặp nhiều khó khăn khi triển khai trên
thực tế, do không có nhiều chủ thể tích cực tham gia công tác này vì nhận
thức không đúng tầm quan trọng, ý nghĩa của nó. Điều đó một lần nữa khẳng
11


định tầm quan trọng cũng như sự cần thiết của việc phát huy vai trò, trách
nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong việc phòng
chống bạo lực gia đình.
1.1.4. Chính sách phòng,
chống bạo lực gia đình
Thực tế có rất nhiều các nhìn
nhận, định nghĩa về chính sách:
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam
(1995), “Chính sách là những chuẩn
tắc cụ thể để thực hiện đường lối,
nhiệm vụ của chủ thể quản lý tác
động lên đối tượng quản lý trong
một thời gian nhất định và đạt được
mục tiêu nhất định của chủ thể quản
lý…” [24, tr.475]
Hay nói cách khác, CSC là

chế do nhà nước thiết lập và tinh
thần nghiêm túc thực hiện, tự chủ,
sáng tạo của các chủ thể tham gia
giải quyết vấn đề chính sách trong
một phạm vi không gian và thời
gian nhất định. Điều kiện bảo đảm
cho sự tồn tại được thể hiện bằng
các nguồn lực con người, nguồn
lực tài chính, môi trường chính trị,
pháp lý, văn hóa xã hội và cả sự
bảo đảm bằng nhà nước
Từ các quan niệm trên,
chính sách công được xem là một
trong những căn cứ đo lường năng
lực hoạch định chính sách, xác
định mục tiêu, căn cứ
12


kiểm tra, đánh giá, xác định trách nhiệm trong việc sử dụng nguồn lực công
như ngân sách nhà nước, tài sản công, tài nguyên đất nước. Như vậy, bản chất
của chính sách công là công cụ để Nhà nước thực hiện các hoạt động liên
quan đến công dân và can thiệp vào mọi hành vi xã hội trong quá trình phát
triển.
Trên cơ sở đó, khái niệm về chính sách công được dùng trong luận văn
là: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan để lựa chọn
mục tiêu và những giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề
chính sách theo mục tiêu tổng thể đã xác định của đảng chính trị cầm quyền”.
Qua các định nghĩa trên, khái niệm “Chính sách Phòng, chống bạo lực
gia đình” được hiểu trong luận văn “Chính sách Phòng, chống bạo lực gia

BLG là nó bắt nguồn từ mối quan hệ quyền lực bất bình đẳng giữa con người
với nhau dựa trên những quy phạm, cấu trúc và vai trò xã hội đang tồn tại có
ảnh hưởng tới cuộc sống của nam và nữ giới. Mặc dù BLG có thể ảnh hưởng
tới cả nam và nữ, nhưng nó chủ yếu xẩy ra đối với phụ nữ và trẻ em gái.
Trên thế giới, BLG được coi là một vấn đề ưu tiên cơ bản liên quan tới
sức khỏe của người dân với những khía cạnh pháp lý, xã hội, văn hóa, kinh tế
và tâm lý. Nó cần được tất cả các chính phủ quan tâm, phù hợp với những
cam kết của họ về thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) và
thực hiện các quyền cơ bản của con người được quy định trong các công ước
quốc tế. Kể từ Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển năm 1994 (ICPD) và
Hội nghị Thế giới về Phụ nữ lần thứ 4 năm 1995, xóa bỏ bạo lực đối với phụ
nữ đã trở thành một nội dung quan trọng trong hoạt động của Liên hợp quốc
trên toàn thế giới. Đặc biệt, Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) có vai trò
nổi bật trong hệ thống LHQ trong việc thúc đẩy bình đẳng giới (BĐG), nâng
cao quyền năng cho phụ nữ và phòng, chống BLG, chính là phòng tránh BLG
phải gắn liền với việc cải thiện sức khỏe sinh sản cho phụ nữ, đặc biệt trên hết
là địa vị của họ trong xã hội.
Trọng tâm của UNFPA vẫn là giải quyết vấn đề bạo lực đối với phụ nữ
14


và trẻ em gái, vì tuyệt đại đa số những đối tượng này bị bạo hành. Phụ nữ và
trẻ em gái không chỉ có nguy cơ cao về BLG, mà họ còn phải chịu nhiều hậu
quả nghiêm trọng hơn so với những gì mà nam giới chịu đựng. Do sự phân
biệt giới và địa vị kinh tế-xã hội của họ thấp kém hơn, nên phụ nữ ít có cơ hội
và nguồn lực hơn để có thể giúp họ tránh hoặc thoát khỏi những trường hợp bị
lạm dụng và tìm kiếm công lý. Họ cũng phải chịu những hệ lụy liên quan tới
sức khỏe tình dục (SKTD) và sức khỏe sinh sản (SKSS), bao gồm cả việc
mang thai cưỡng bức và ngoài ý muốn, nạo phá thai không an toàn và tử vong
do những hậu quả liên quan, chấn thương do bị rò âm đạo, các bệnh lây

thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, trong đó có pháp luật về dân số, gia đình,
trẻ em và chính sách xã hội. Hiến pháp 2013 quy định các vấn đề chung, có
tính nguyên tắc liên quan đến gia đình tại Điều 16 (mọi người đều bình đẳng
trước pháp luật; không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự,
kinh tế, văn hóa, xã hội) và Điều 26 (công dân nam nữ bình đẳng về mọi mặt;
Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới; Nhà nước,
xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai
trò của mình trong xã hội). Bên cạnh đó, một số nội dung liên quan đến gia
đình, bình đẳng giới cũng đã được Hiến định trong một số điều, khoản của các
Chương II Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và
Chương III Kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi
trường[32].
Luật Hôn nhân và gia đình được Quốc hội ban hành vào ngày
19/6/2014. Luật này quy định chế độ hôn nhân và gia đình; chuẩn mực pháp
lý cho cách ứng xử giữa các thành viên trong gia đình; trách nhiệm của cá
nhân, tổ chức, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn
nhân và gia đình......
Luật Bình đẳng giới được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006, có
hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007. Luật quy định biện pháp bảo đảm bình
đẳng giới, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực
hiện bình đẳng giới.
Luật Phòng, chống bạo lưc gia đình được Quốc hội thông qua vào ngày
21/11/2007, có hiệu lực thi hành ngày 01/8/2008.
16


Quyết định số 363/QĐ-TTg ngày 08/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ,
Quyết định tháng hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình.
Chính phủ quy định tháng 11 hằng năm là “Tháng hành động về phòng, chống
bạo lực gia đình.

để tránh được bạo lực gia đình xảy ra. Luật còn chú trọng tới việc phát huy
hết khả năng và vai trò của gia đình, dòng họ; bạo lực gia đình cần được phát
hiện và xử lý sớm từ mâu thuẫn xích mích nhỏ, không để phát sinh thành mâu
thuẫn lớn gây bạo lực gia đình. Việc xử lý xích mích mâu thuẫn nhỏ thông
qua các biện pháp hoà giải cơ sở. Tuỳ theo từng sự việc mà việc hoà giải do
gia đình, dòng họ tiến hành hay cơ quan, tổ chức tiến hành hoặc do tổ chức
hoà giải cơ sở tiến hành. Quy định này rất quan trọng nhằm phát huy vai trò
và trách nhiệm của cộng đồng đối với mỗi thành viên trong xã hội, phát huy
được tính dân chủ trong nhân dân, từ đó góp phần thay đổi nhận thức và nâng
cao ý thức pháp luật, trình độ hiểu biết pháp luật đặc biệt là pháp luật về
phòng, chống bạo lực gia đình. Các hoạt động cụ thể mà Nhà nước đưa ra
nhằm thực hiện hoạt động phòng ngừa bạo lực gia đình, đó là:
Các hình thức thông tin, tuyên truyền. Trong công tác thông tin tuyên
truyền có thể sử dụng nhiều hình thức khác nhau lồng ghép trong việc giảng
dạy, học tập thông qua hoạt động văn học, nghệ thuật, sinh hoạt cộng đồng và
các loại hình văn hoá quần chúng khác.
Hoạt động hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên trong gia
đình cũng là một trong các hoạt ðộng nhằm phòng ngừa bạo lực gia đình xảy
ra mà Luật quy định. Người tham gia hòa giải có thể là thành viên gia đình,
dòng họ, cơ quan, tổ chức, cơ sở tiến hành.
Ngoài ra, còn có hoạt động tư vấn về gia đình để cung cấp kiến thức, kỹ
năng ứng xử phi bạo lực cho các thành viên gia đình. Việc tư vấn về gia đình


cơ sở tập trung vào các đối tượng sau đây: a) Người có hành vi bạo lực gia

đình; b) Nạn nhân bạo lực gia đình; c) Người nghiện rượu, ma tuý, đánh bạc;
d) Người chuẩn bị kết hôn. UBND cấp xã chủ trì phối hợp với Ủy ban Mặt
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status