TRANH LUẬN của NGƯỜI bào CHỮA tại PHIÊN tòa HÌNH sự sơ THẨM từ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH - Pdf 57

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TẠ HỒNG LÊ

TRANH LUẬN CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA
TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TẠ HỒNG LÊ

TRANH LUẬN CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA
TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành:Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. VÕ THỊ KIM OANH

HÀ NỘI, năm 2019


2.2. Tình hình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn
2014 – 2018 ...........................................................................................................41
2.3. Thực tiễn thực hiện tranh luận của người bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ
thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh ...........................................................................42
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
TRANH LUẬN CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ
THẨM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH .........................................................67
3.1. Quan điểm nâng cao chất lượng tranh luận của người bào chữa tại phiên tòa
hình sự sơ thẩm tại thành Phố Hồ Chí Minh .........................................................67
3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng tranh luận của người bào chữa tại phiên tòa
hình sự sơ thẩm tại thành Phố Hồ Chí Minh .........................................................72


KẾT LUẬN ..............................................................................................................84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLHS

Bộ luật Hình sự

CQĐT

Cơ quan điều tra

HĐXX


1. Tính cấp thiết của đề tài
“Tranh luận là cái gốc của sự thật”, vấn đề này đã được các triết gia Hy Lạp
nhận thức từ thời cổ đại và cho đến bây giờ việc tranh luận tại phiên tòa vẫn luôn là
một bước không thể thiếu được của trình tự xét xử vụ án tại phiên tòa.Trong tiến
trình cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước
ta, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề quyền con người, quyền công
dân và đảm bảo quyền con người, quyền công dân, nhất là trong hoạt động xét xử
vụ án hình sự. Để đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong hoạt động xét
xử vụ án hình sự, trong các Nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà
nước đã quy định về nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, đảm bảo quyền tranh luận
của người bảo chữa tại phiên tòa.
Với khía cạnh tranh tụng, Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày
02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp thể hiện rõ là “nâng
cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên toà, đảm bảo việc tranh tụng
dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác”. Tiếp
đến cần nhắc đến Nghị quyết số 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020 của Bộ Chính trị ngày 02/6/2005 nêu lên rằng “nâng cao chất lượng tranh
tụng tại các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”. Cụ
thể hóa các Nghị quyết của Đảng, trong Bộ luật TTHS và các văn bản pháp luật có
liên quan đã quy định về vấn đề tranh tụng trong hoạt động xét xử. Một trong những
điểm cụ thể hoá đó là Điều 26 Bộ luật TTHS năm 2015 ghi nhận: “…Mọi chứng cứ
xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự để xác định tội
danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lý vật chứng
và những tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh
luận, làm rõ tại phiên tòa...”.
Thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong hoạt động xét xử vụ án hình sự, pháp
luật đã có những quy định đảm bảo cho việc tham gia của người bảo chữa và đảm

1

của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”. Tác giả đã khái quát, lý luận chung về

2


nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của các đối tượng trong quá trình điều tra truy
tố xét xử như người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
- Vũ Thế Lân (2014), Bảo đảm bình đẳng trong quan hệ tố tụng, Báo Nhân
dân, (215), tr.7. Bài viết đã nhận định Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: "Người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.
- Tác giả Dương Thanh Biểu với tác phẩm sách tham khảo “Tranh luận tại
phiên toà sơ thẩm” do NXB Tư pháp, Hà Nội ấn hành năm 2007. Công trình nghiên
cứu chuyên sâu đã đề cập những vấn đề lý luận, vận dụng kiến thức pháp luật về
các trình tự nội dung, kỹ năng liên quan đến việc tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm.
- Tác giả Lê Hữu Thể với đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Vấn đề tranh
tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam theo tinh thần cải cách tư pháp” do Nxb Tư
pháp Hà Nội phát hành năm 2008. Nội dung đề tài góp phần làm rõ hơn tinh thần,
nội dung tranh tụng được nêu trong Nghị quyết 08, 49 của Bộ Chính trị.
- Bài nghiên cứu của Hồ Nguyễn Quân năm 2013, “Một số giải pháp
nhằm

nâng

cao

chất

lượng tranh tụng tại phiên tòa”, tại trang

Bài viết này đã phân tích được

lượng và hiệu quả thực hiện tranh luận của người bảo chữa tại phiên tòa hình
sự sơ thẩm từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Ðể thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu tài liệu, hệ thống hóa và thống nhất nhận thức lý luận về
tranh luận của người bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm.
- Khảo sát thực tế, nghiên cứu, phân tích làm rõ các quy định của
pháp luật về tranh luận của người bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm và
thực trạng tranh luận của người bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm tại
thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở thực tiễn đó xem xét các kết quả đã đạt
được về mặt hiệu quả, các vấn đề còn hạn chế chưa đạt được, bên cạnh đó
tìm kiếm làm rõ các nguyên nhân chính yếu dẫn đến những hạn chế ấy và có
hướng giải quyết.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả
thực hiện tranh luận của người bảo chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm tại
thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới.

4


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động tranh luận của người bảo
chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động tranh luận của
người bảo chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh.
- Về chủ thể: Người bào chữa.
- Về không gian: Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về thời gian: Từ năm 2014 đến năm 2018.

- Là tài liệu cho người bào chữa, những người tiến hành tố tụng hình
sự và những người tham gia tố tụng hình sự tham khảo, vận dụng trong thực
hiện hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh
nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tranh luận trong quá trình xét xử.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục; nội dung được kết cấu thành 03 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Lý luận về tranh luận của người bào chữa tại phiên tòa
hình sự sơ thẩm
Chương 2: Quy định của pháp luật Tố tụng hình sự về tranh luận của
người bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm và thực tiễn áp dụng tại thành
phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tranh
luận của người bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm tại thành phố Hồ Chí
Minh

6


Chương 1
LÝ LUẬN VỀ TRANH LUẬN CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA TẠI PHIÊN TÒA
HÌNH SỰ SƠ THẨM
1.1. Khái niệm về tranh luận của người bào chữa tại phiên tòa hình sự
sơ thẩm
Trong tố tụng hình sự, nhiệm vụ của toàn bộ quá trình tố tụng là đảm bảo
phát hiện kịp thời và xử lý minh bạch công bằng mọi hành vi phạm tội, tiêu chí là
không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội; Từ đó góp phần bảo vệ công
lý, bảo vệ quyền con người cũng như quyền công dân. Mặt khác nhìn nhận xa hơn
là bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân; Hoặc giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu

tòa. Tùy vào từng vụ án cụ thể, người bào chữa sẽ lựa chọn nội dung, kỹ
năng và phương pháp tranh luận thích hợp. Việc người bào chữa thực hiện
tốt hoạt động tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm có ý nghĩa quan trọng
trong việc góp phàm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, đồng thời bảo
vệ tốt nhất quyền con người của người bị buộc tội.
Tranh luận của người bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm có ý
nghĩa quan trọng trong việc giải quyết đúng đắn, khách quan, toàn diện vụ
án, đồng thời góp phần bảo vệ quyền con người của người bị buộc tội, tuy
nhiên trong pháp luật tố tụng hình sự chưa đưa ra khái niệm về hoạt động
này. Theo từ điển Tiếng Việt tranh luận là bàn cãi để tìm ra lẽ phải [45,
tr.943]. Như vậy theo khái niệm trên thì tranh luận có thể xuất hiện trong
việc lĩnh vực của đời sống xã hội, nội dung của tranh luận là bàn cãi, mục đíc
của hoạt động này là tìm ra lẽ phải. Đây là khái niệm chung về tranh luận
nên chưa mang tính cụ thể và chưa đầy đủ về hoạt động tranh luận của người
bào chữa trong phiên tòa hình sự sơ thẩm.
Dưới góc độ pháp luật, theo thuật ngữ pháp lý thì tranh luận tại phiên
tòa là một thủ tục thực hiện sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên
đương sự, đồng thời làm sáng tỏ sự thật của vụ án, giúp cho việc xem xét và
quyết định về vụ án được đúng đắn [12, tr.425-453]. Như vậy, dưới góc độ
pháp lý tranh luận tại phiên tòa được tiếp cận là một thủ tục tố tụng. Việc xét
xử tại phiên tòa trải qua nhiều thủ tục khác nhau trong đó có thủ tục tranh

8


luận giữa các bên, bản chất của việc tranh luận giữa các bên là làm sáng tỏ sự thật
của vụ án, mục đích của hoạt động này giúp cho Tòa án có thể đưa ra được phán
quyết cuối cùng được đúng đắn.
Qua phân tích trên, có thể nhận khái niệm về tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm
của người bào chữa là một vấn đề chưa được đề cập trong các từ điển phổ thông và

cho việc tranhh luận làm sáng tỏ sự việc trong vụ án. Có quyền đề nghị
HĐXX làm rõ các tình tiết còn bị bỏ sót hoặc không rõ ràng, trong cuộc
tranh luận theo trình tự nhất định nếu có xuất hiện các tình tiết hoặc chứng
cứ mới liên quan ảnh hưởng đến vụ án thì HĐXX sẽ quay lại phần hỏi để
làm rõ hơn các tìn tiết ấy mục đích không ngoài việc có được góc nhìn đa
diện hơn vụ án.
Trong sự tranh luận của các bên tại Toà, HĐXX luôn điều khiển về
mặt thủ tục để việc tranh luận đúng hướng, đúng quy định về mặt hình thức
và nội dung. Đồng thời lắng nghe và phân tích cùng nhìn nhận với vai trò
như một trọng tài, tức là không nghiêng về bên nào với sự dẹp bỏ ý chí chủ
quan khi chưa nắm bắt hết được các vấn đề một cách toàn diện. Sự phán
quyết có đúng hoặc sai bản chất phụ thuộc trong phần này rất nhiều vì hai
bên sẽ bóc tách từng vấn đề một cách khoa học logic và hình thành nên cái
nhìn khách quan hơn cho HĐXX. Từ đó mới có cơ sở bảo đảm việc nhận
định và phán quyết cuối cùng đúng người đúng tội.
1.2. Đặc điểm của tranh luận của người bào chữa tại phiên tòa
hình sự sơ thẩm
Qua khái niệm đã được trình bày ở trên, có thể rút ra những đặc điểm
của tranh luận của người bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm như sau:
Thứ nhất, tranh luận của người bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ
thẩm là hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật TTHS. Bộ luật TTHS
quy định trình tự thủ tục để khởi tố, điều tra, truy tố xét xử, thi hành án hình
sự và thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Tố tụng hình
sự là tổng thể các hoạt động tố tụng do cơ quan, người có thẩm quyền, người
tham gia tố tụng thực hiện theo quy định của Bộ luật TTHS để giải quyết
đúng đắn vụ án hình sự. Trong giai đoạn xét xử, Bộ luật TTHS năm 2015

10



11


công bằng với Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác. Việc
đảm bảo hoạt động tranh luận của người bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ
thẩm cũng chính là sự cụ thể hóa của nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa
của người bị buộc tội, nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc tranh tụng
trong xét xử được đảm bảo, nguyên tắc xác định sự thật của vụ án... Đồng
thời thể hiện bản chất nhân đạo và daan chủ của Đảng và Nhà nước ta.
Thứ ba, đặc điểm về nội dung, phạm vi tranh luận của người bào
chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm.
Nội dung tranh luận tại phiên toà bao gồm nội dung chính về các vấn
đề vụ án bao gồm (1) làm rõ sự việc diễn ra bao gồm các chủ thể, tình tiết,
không gian, thời gian liên quan vụ án bằng các chứng cứ, cách thu thập xử lý
đánh giá chứng cứ, sự logic trong lập luận; (2) về việc áp dụng pháp luật
trong vệc định tội danh và đưa ra bản cáo trạng; (3) về thực hiện quy trình tố
tụng trước đó.
Theo trình tự tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên đưa ra quan điểm
như bản cáo trạng buộc tội bị cáo trên các cơ sở hồ sơ mà cơ quan điều tra
cung cấp trước đó. Lúc này về nguyên tắc đã bắt đầu xuất hiện chức năng
bào chữa. Bằng sự điều hành của Chủ toạ, việc xét hỏi để làm rõ các tình tiết
và bắt đầu theo như quy định tại Điều 85 Bộ luật TTHS năm 2015 xoay
quanh các vấn đề: Xác định về hành vi sự kiện như có hành vi phạm tội hay
không, ai là người thực hiện và tham gia, động cơ mục đích phạm tội, tính
chất mức độ…Việc xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ, nghe ý kiến của các
nhà chuyên môn và ý kiến của các cơ quan, tổ chức có liên quan trình bày
cũng được các bên sử dụng để chứng minh cho luận điểm của mình. Thông
qua việc điều tra công khai, trực tiếp của các chủ thể bên buộc tội, bên gỡ tội
và HĐXX tại phiên tòa; các tình tiết về vụ án được làm sáng tỏ. Lúc này, nội
dung tranh luận mới chỉ xoay quanh các vấn đề chứng minh tính hợp pháp và

cần được xác định là như thế nào là hiệu quả.
Như đã biết, bản chất của tranh luận tại toà là sự phản biện, có đôi khi phủ
nhận lẫn nhau về việc chứng minh sự việc, đối tượng và áp dụng pháp luật giữa hai
bên công tố và bào chữa không ngoài mục đích là mỗi bên đều chứng minh quan
điểm của mình dựa trên chứng cứ và pháp luật. Một mặt khác sự tranh luận này đối

13


với người bào chữa chỉ nằm trong phạm vi giới hạn của sự buộc tội. Bởi sự
buộc tội của bên công tố là mấu chốt nảy sinh ra sự tranh luận. Vì thế giới
hạn của sự buộc tội thể hiện ở phạm vi không lớn hơn về quy mô tính chất
mà Kiểm sát viên cáo buộc như về như tội danh, về hành vi, về đối tượng, về
đánh giá mức mức độ về hình phạt đề nghị áp dụng… Thông thường sự tranh
luận lại của người bào chữa sẽ không vượt qua phạm vi về dung lượng hoặc
số lượng tính chất các cáo buộc và có xu hướng mong muốn thu hẹp lại hơn
so với các cáo trạng mà bên công tố đưa ra.
Ngoài ra, phạm vi về mặt trình tự thủ tục thì sự tranh luận giữa các
bên được bắt đầu sau khi Chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa, tức là bắt
đầu từ thủ tục bắt đầu phiên tòa đến xét hỏi, tranh luận, nghị án và kết thúc
khi HĐXX tuyên án.
Thứ tư, trong quá trình tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
HĐXX có trách nhiệm điều khiển cho người bào chữa tranh luận với Viện
kiểm sát và người tham gia tố tụng khác một cách công khai, bình đẳng, thực
chất.
Tranh luận tại phiên toà theo trình tự thủ tục một cách công bằng văn
minh và trật tự đúng quy định. Với vai trò điều hành phiên toà, HĐXX đóng
vai trò như một trọng tài, không can thiệp vào bản chất của việc tranh luận,
chỉ giữ vai trò tạo điều kiện thuận lợi để các bên tranh luận đúng pháp luật,
đúng vấn đề và khuyến khích sự tranh luận để từ đó có sự nhìn nhận vấn đề

của vụ án để ra phán quyết đúng đắn.
1.3. Ý nghĩa của tranh luận của người bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ
thẩm
1.3.1. Ý nghĩa chính trị- xã hội
Tranh luận tại phiên tòa hình sự nói chung và phiên tòa HSST nói riêng có
thể nói là một sự cụ thể hoá đúng đắn quan điểm và định hướng của Đảng và Nhà
nước trong việc cải cách tư pháp mà Bộ chính trị đã đề ra từ những năm trước đây.
Chủ trương đặt trọng tâm là Toà án và là trung tâm trong việc xét xử để đạt hiệu quả
cao hơn trong công tác tố tụng hình sự. Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002
và Nghị quyết số 49/NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị hướng về bảo đảm
và nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, xem đây là bước tiến bộ mang tính

15


đột phá thay đổi tư duy cũ trong việc tiến hành tố tụng. Vì thế việc cụ thể hoá
chính sách này trong luật định và thực tiễn là thể hiện sự cầu thị, trong xu
hướng chung của thế giới nhằm bảo đảm quyền con người ở mức cao nhất có
thể. Nó cũng thể hiện tính dân chủ tự do của công dân theo đúng như Hiến
Pháp 2013 quy định. Nó phản ánh tinh thần lấy dân chủ, con người làm trung
tâm của sự phát triển bằng việc tạo ra các cơ chế tự do và bảo đảm các
phương tiện thực hiện đặc biệt là công cụ pháp lý mà ở đó các bên đều bình
đẳng về mặt pháp lý trong tố tụng. “Tranh tụng có nhiều yếu tố phù hợp với
sự phát triển dân chủ, vì vậy tiếp nhận các yếu tố này là hướng phát triển
đúng đắn trong cải cách tư pháp ở nước ta” [17]. Ngoài ra việc cải cách về
mặt tố tụng hình sự trong đó có ghi nhận chính thức nguyên tắc tranh tụng,
tranh luận tại Toà án sự thể hiện tính đề cao pháp luật của nhà nước Pháp
quyền Xã hội chủ nghĩa, đề cao được tính nhân văn, nhân đạo trong pháp
luật hình sự.
Với việc tranh luận tại phiên toà diễn ra công khai, có thể giúp cho

sự thật khách quan và cái nhìn toàn diện điều mà TTHS luôn mong muốn hướng tới
trong xét xử.
Tranh luận tại phiên toà HSST giúp hạn chế tối đa thiếu sót, oan sai trong xét
xử, giúp toà có sự đánh giá, kết luận chính xác hơn trong bản án của mình.
Tranh luận tại phiên toà là một thủ tục cần và đủ để thực hiện mô hình tố
tụng mà Việt nam đang áp dụng xuất phát từ mô hình thẩm vấn và kết hợp với mô
hình tranh tụng, sự kết hợp có hiệu quả này phải có mặt tất yếu của thủ tục tranh
luận tại phiên toà như một cấu thành quan trọng.
Nhà nước pháp quyền đặt nền tảng pháp luật vào việc quản trị quốc gia,
nhắm đến bảo vệ quyền con người và các quyền này được thể chế hoá vào luật pháp
một cách sâu rộng trong các lĩnh vực ngành nghề, Tố tụng hình sự cũng là một
trong những sự cần thiết của sự cụ thể hoá đó, do vậy nguyên tắc tranh tụng mà cụ
thể là tranh luận tại phiên toà sơ thẩm có vai trò góp phần thúc đẩy bảo vệ và tôn
trọng quyền con người.
Việc tranh luận tại phiên toà sơ thẩm góp phần thúc đẩy các bên tham gia
tích cực làm tốt hơn trong vai trò của mình dưới phương diện pháp luật, góp phần
chung vào hiệu quả của xét xử. Nó đòi hỏi các bên không thể tránh né trách nhiệm
và các luận cứ mà các bên đang bảo vệ cho qun điểm của mình dựa trên pháp luật.

17


1.4. Cơ sở của việc quy định tranh luận của người bào chữa tại phiên tòa
hình sự sơ thẩm.

Việc quy định tranh luận của người bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ
thẩm xuất phát từ các cơ sở sau đây:
- Xuất phát từ yêu cầu xác định sự thật khách quan của vụ án. Pháp
luật là yếu tố thuộc về kiến trúc thượng tầng, phản ảnh đặc điểm của các
quan hệ xã hội. Pháp luật là sự phản ánh của hiện thực khách quan, thông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status