Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự sơ thẩm trên địa bàn thành phố Hải Phòng - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRƢƠNG THỊ THANH NHÀN

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƢỢNG TRANH TỤNG CỦA KIỂM SÁT VIÊN
TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI. 2013

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta trong những năm
vừa qua đã đạt được những thành tựu to lớn. Việt Nam đã trở thành điểm đến
thu hút các nhà đầu tư bởi một nền chính trị ổn định, môi trường đầu tư an
toàn. Cùng với sự nỗ lực của toàn xã hội, các cơ quan tiến hành tố tụng đã có
nhiều cố gắng trong hoạt động tư pháp góp phần quan trọng vào việc giữ gìn
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Có được những thành tựu đó là cả một
sự phấn đấu, nỗ lực của toàn xã hội nhằm mục tiêu xây dựng xã hội "công
bằng, dân chủ, văn minh và tiến bộ xã hội", trong đó có sự đóng góp của
những nhà hoạch định chính sách, các nhà hoạt động thực tiễn trong các cơ
quan tư pháp. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự vẫn còn tình
trạng để xảy ra oan, sai gây ảnh hưởng đến các quyền tự do, dân chủ của
người dân. Do vậy, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương cải cách tư pháp
nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), hạn chế tình
trạng oan, sai đồng thời hiện thực hóa các quyền tự do dân chủ cho nhân dân.
Với chức năng thực hành quyền công tố (THQCT) và kiểm sát các
hoạt động tư pháp, trong những năm qua, ngành Kiểm sát nhân dân đã làm tốt
nhiệm vụ của mình trong công tác đấu tranh chống tội phạm và ngăn ngừa các
vi phạm pháp luật. Với việc ban hành Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
(VKSND) năm 2002 và Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003, vai
trò, vị trí của VKSND trong hoạt động tố tụng hình sự (TTHS) ngày càng
được nhấn mạnh. Để công cuộc cải cách tư pháp đạt kết quả, Đảng đã ban
hành nhiều nghị quyết làm cơ sở và định hướng lớn cho công cuộc cải cách
này. Trong lĩnh vực TTHS, Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ
Chính trị đã nêu rõ: "Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên

2



tại, dẫn đến chất lượng của hoạt động này chưa đáp ứng được những đòi hỏi
mà Đảng, Nhà nước và xã hội đã đặt ra.
Trước yêu cầu của thực tế, đảm bảo sự dân chủ, bình đẳng các quyền
con người trong hoạt động TTHS, tránh bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô
tội; đồng thời góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận của vấn đề tranh tụng, học
viên chọn đề tài: "Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng
của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự sơ thẩm trên địa bàn thành phố Hải
Phòng" làm luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nhằm hiện thực hóa chủ trương về cải cách tư pháp trong đó có vấn
đề tranh tụng tại phiên tòa, những năm qua đã có một số công trình nghiên
cứu khoa học đề cập đến vấn đề này. Đáng chú ý là các công trình sau:
- Lê Minh Thông (Chủ biên): Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và
hoạt động của Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001; Mai Thị Nam: Tranh tụng tại phiên tòa -
những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, 2001;
Lê Thị Tuyết Hoa: Quyền công tố ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Hà
Nội, 2002; Nguyễn Xuân Hà - Phạm Hoàng Diệu Linh: Hoàn thiện các quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 để đảm bảo phù hợp với việc tổ
chức hệ thống các cơ quan tư pháp theo tinh thần nghị quyết số 49-NQ/TW
của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Đề tài khoa
học cấp bộ; Hà Nội, 2009; Ngô Văn Đọn (Chủ biên): Nâng cao chất lượng
kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố với vấn đề thông khâu
và chuyên khâu trong các công tác kiểm sát hình sự, Đề tài khoa học cấp bộ,
Hà Nội, 2004; Hoàng Thế Anh: Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam, Luận
văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội, 2006; Nguyễn Mạnh Tiến: Bàn về một số quy

4


5

cách tư pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả xét xử của Tòa án, góp phần đấu
tranh phòng, chống tội phạm, chống làm oan người vô tội và chống bỏ lọt tội
phạm cũng như bảo vệ pháp chế XHCN. Đây cũng là lý do mà học viên chọn
đề tài "Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm
sát viên tại phiên tòa hình sự sơ thẩm trên địa bàn thành phố Hải Phòng"
để làm luận văn thạc sĩ Luật học.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
Mục đích của luận văn là làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng vấn đề tranh
tụng của KSV tại phiên tòa HSST trên địa bàn thành phố Hải Phòng, phân
tích các bất cập, hạn chế. Qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng tranh tụng của KSV tại phiên tòa HSST bảo đảm một phiên tòa
hình sự công bằng, dân chủ, văn minh.
* Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ của luận văn đặt ra là:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận hoạt động tranh tụng của KSV tại phiên
tòa như: Khái niệm, đặc điểm, điều kiện, yêu cầu của tranh tụng tại phiên
tòa; cơ sở pháp lý quy định về tranh tụng của KSV tại phiên tòa; ý nghĩa của
tranh tụng tại phiên tòa (có so sánh với mô hình tranh tụng của một số nước
trên thế giới).
- Phân tích, đánh giá thực trạng tranh tụng của KSV tại phiên tòa trên
địa bàn thành phố Hải Phòng những năm gần đây, qua đó rút ra những mặt
tích cực; những tồn tại, hạn chế trong hoạt động tranh tụng tại phiên tòa ở
địa phương.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp
luật TTHS về tranh tụng của KSV tại phiên tòa hình sự nhằm tạo cơ sở pháp lý


về tranh tụng của KSV tại phiên tòa HSST trên địa bàn thành phố Hải Phòng,
chỉ ra các tồn tại, hạn chế và các nguyên nhân của những hạn chế đó.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng của
KSV tại phiên tòa HSST của VKSND thành phố Hải Phòng hiện nay.
- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc
nghiên cứu giảng dạy của các cơ sở nghiên cứu khoa học pháp lý; là tài liệu
tham khảo giúp cho VKSND các cấp để nâng cao chất lượng tranh tụng của
KSV trong phiên tòa hình sự đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tranh tụng của Kiểm sát viên tại
phiên tòa hình sự sơ thẩm.
Chương 2: Thực trạng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình
sự sơ thẩm trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm
sát viên tại tại phiên tòa hình sự sơ thẩm trên địa bàn thành phố Hải Phòng. 8

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH TỤNG
CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM

1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ NỘI DUNG CỦA VIỆC TRANH TỤNG
TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM HÌNH SỰ
1.1.1. Khái niệm
Sự ra đời và phát triển của việc tranh tụng trong quá trình giải quyết
các vụ án gắn liền với sự hình thành và phát triển của các tư tưởng dân chủ,

và "tố tụng". Tranh tụng là tranh luận trong tố tụng. Trong tố tụng bao giờ
cũng có sự tham gia của các bên có quyền và (hoặc) lợi ích trái ngược nhau là
bên buộc tội và bên gỡ tội. Bên buộc tội có trách nhiệm chứng minh bị cáo là
người có tội, còn bên gỡ tội cố gắng dùng mọi căn cứ để bác bỏ những lời
buộc tội do bên gỡ tội đưa ra.
Trước đây, với quan điểm cho rằng tranh tụng là nguyên tắc đặc trưng
của TTHS tư sản nên vấn đề này không được khoa học pháp lý nước ta quan
tâm nghiên cứu. Vì vậy, về mặt lý luận tranh tụng không được thừa nhận và
thuật ngữ "tranh tụng" không được dùng trong các văn bản pháp luật của nước
ta. Bắt đầu từ Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về
"Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới", vấn đề
tranh tụng lần đầu tiên đã được đề cập đến.
Yêu cầu của cải cách tư pháp đối với hoạt động TTHS thể hiện đậm nét
trong hai nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị. Nghị quyết số 08-NQ/TW
ngày 02/01/2002 đưa ra yêu cầu:
Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên
tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và
những người tham gia tố tụng khác… Việc phán quyết của Tòa án
phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở

10

xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên,
của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn… để
ra những bản án quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục
trong thời hạn do luật định. Các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo
điều kiện để Luật sư tham gia vào quá trình tố tụng, tham gia hỏi
cung bị can, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân chủ tại phiên
tòa [13, tr. 1].
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2006 của Bộ Chính trị về chiến

định của Tòa án với vai trò trung gian trọng tài [52, tr. 808].
Trong các giai đoạn TTHS, thực hiện nguyên tắc tranh tụng ở giai
đoạn xét xử sơ thẩm được coi là giai đoạn trung tâm.
1.1.2. Đặc điểm tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Một là, tranh tụng tại phiên tòa có sự bình đẳng giữa KSV thực hành
quyền công tố với bị cáo, Luật sư và những người tham gia tố tụng khác.
Sự bình đẳng ở đây là bình đẳng trên cơ sở quyền và nghĩa vụ theo
quy định của pháp luật tố tụng. Hay nói cách khác, sự bình đẳng giữa các bên
tranh tụng không hẳn là sự bình đẳng thực tế về địa vị pháp lý cũng như
không có nghĩa là các bên có quyền và nghĩa vụ như nhau do bên buộc tội và
bên gỡ tội thực hiện hai chức năng khác nhau trong TTHS, nhất là tại phiên
tòa. Do đó, quyền bình đẳng ở đây được hiểu là bình đẳng về phương diện tố
tụng khi cả hai đều có tư cách tố tụng, đều được pháp luật quy định cho những
quyền và nghĩa vụ nhất định để thực hiện hiệu quả chức năng của mình.
Trong tố tụng tranh tụng Công tố viên và Luật sư hoàn toàn bình đẳng
với nhau, họ được pháp luật trao những quyền tương ứng với chức năng để có
thể điều tra độc lập và thu thập chứng cứ phục vụ cho công việc của mình.
Công tố viên dưới danh nghĩa người đại diện cho quyền lợi của nhà nước đưa
ra các quan điểm, các lập luận, các chứng cứ để buộc tội bị cáo. Còn bên bị
buộc tội là bị cáo và luật sư cũng dùng mọi lý lẽ, dùng mọi phương tiện được
pháp luật cho phép để phản bác lại. Hai bên sẽ trực tiếp liên tục chất vấn và
trả lời chất vấn nhau công khai tại phiên tòa để làm rõ những vấn đề. Khác

12

với tố tụng xét hỏi, tố tụng tranh tụng đặc biệt coi trọng các nguyên tắc bằng
miệng, công khai, tất cả các tình tiết, chứng cứ mà Tòa án áp dụng để ra bản
án đều phải được các bên tranh tụng tại phiên tòa. Với khoa học công nghệ
phát triển như hiện nay các thủ tục tố tụng tại phiên tòa đều phải được ghi âm
hoặc ghi hình, việc xét xử công khai trực tiếp có thể được tiến hành qua điện

của bị cáo còn có nhiều mâu thuẫn hay bị cáo chối tội.
Trong tố tụng xét hỏi, mọi hành vi của những người tiến hành tố tụng
và những người tham gia tố tụng đều chịu sự điều khiển của chủ tọa phiên
tòa, các bên muốn đặt câu hỏi cho bên kia hoặc những người tham gia tố tụng
khác đều phải thông qua chủ tọa phiên tòa. Trong khi đó, tại phiên tòa theo tố
tụng tranh tụng mỗi bên có quyền đặt câu hỏi trực tiếp cho bên kia cũng như
cho những người tham gia tố tụng khác. Trong nhiều trường hợp họ có quyền
ngắt lời bên kia, phản đối lại các ý kiến mà bên kia vừa đưa ra.
Bốn là, kết quả tranh tụng là căn cứ để HĐXX ra phán quyết.
Phán quyết của HĐXX căn cứ vào kết luận điều tra qua hồ sơ vụ án,
căn cứ vào cáo trạng truy tố và quan trọng hơn nữa là căn cứ vào kết quả
tranh tụng tại phiên tòa cho dù kết quả này có thể khác so với toàn bộ hoặc
một số tình tiết cụ thể trong kết luận điều tra, bản cáo trạng.
1.1.3. Nội dung tranh tụng tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm
Thứ nhất, tranh tụng làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án dưới
sự chủ trì của chủ tọa phiên tòa, các bên hỏi và trả lời câu hỏi để làm sáng tỏ
sự thật khách quan của vụ án.
Tại phiên tòa để làm sáng tỏ sự thật vụ án thì tranh tụng là quá trình
quan trọng, nó bao gồm việc chất vấn liên tục, tranh luận giữa một bên đại
diện cho nhà nước THQCT (bên buộc tội), còn bên kia là bên bào chữa (bị
cáo và Luật sư bào chữa). Công tố viên nhân danh Nhà nước sẽ đưa ra những
chứng cứ, những lập luận để bảo vệ lời buộc tội (cáo trạng), và đến lượt bị
cáo và người bào chữa thể hiện ngay thái độ của họ đối với lời buộc tội đó.

14

Sau khi xem xét chứng cứ do bên buộc tội đưa ra, HĐXX xem xét đến chứng
cứ do bên bào chữa đưa ra và những lý lẽ để bào chữa.
Tranh tụng là quá trình mà mỗi bên đều dùng những lý lẽ, chứng cứ để
chứng minh cho luận điểm của mình nên có thể coi những lý lẽ đó hoàn toàn

đảm bảo việc tranh tụng tại phiên tòa diễn ra khách quan, có hiệu quả.
Thứ hai, áp dụng những quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.
Để phục vụ cho quá trình tranh tụng tại phiên tòa, hai bên buộc tội và
bào chữa đều đã chuẩn bị cho mình những tài liệu chứng cứ cần thiết để bảo
vệ lý lẽ của mình. Trong quá trình đó cả hai bên đều phải vận dụng những quy
định của pháp luật không chỉ về luật hình thức mà còn cả luật nội dung. Đó là
quá trình dựa vào chứng cứ đã được thu thập, căn cứ vào các điều khoản được
quy định trong luật và các văn bản khác để đối chiếu so sánh tìm ra những
tình tiết buộc tội và gỡ tội và như thế bên bào chữa thì tận dụng tối đa những
chi tiết dù là nhỏ nhất để phản bác lại sự buộc tội của bên kia, còn bên buộc
tội sẽ cố gắng truy tố với những chứng cứ chặt chẽ nhất nhằm không bỏ lọt tội
phạm. Vì vậy, họ cũng không bỏ qua những chi tiết dù là nhỏ nhất. Tới khi ra
phiên tòa, cả hai bên đều trình bày sao cho có sức thuyết phục nhất là trước
HĐXX và những người tham dự phiên tòa. Vì vậy, cả hai bên sẽ cố gắng đề
cập đến mọi tình tiết có lợi nhất của vụ án một cách trực tiếp, liên tục. Các
bên có quyền phản đối, bác bỏ quan điểm của bên đặt câu hỏi, đưa ra những
chứng cứ để chứng minh cho luận điểm của mình phản bác lại bên kia.
Trong quá trình đó các bên toàn quyền tranh luận về những vấn đề để
làm sáng tỏ vụ án, việc tranh luận không bị hạn chế nếu như không đi ra ngoài
nội dung vụ án. Có quyền vận dụng những quy định của pháp luật để đề nghị
chủ tọa phiên tòa có những quyết định tại phiên tòa thuận lợi cho việc tranh
tụng và chứng minh sự thật của vụ án. Đây là cuộc đấu giữa hai bên buộc tội
và bào chữa nên nó có sự đối kháng rõ rệt và phần thắng sẽ thuộc về bên nào
có những chứng cứ thuyết phục, lý lẽ sắc bén hơn để HĐXX và người tham
dự phiên tòa chấp nhận.

16

Thứ ba, tranh tụng nhằm đảm bảo việc đưa ra xem xét các chứng cứ,
tài liệu minh chứng cho luận điểm của mỗi bên.

ai bị tước đoạt cuộc sống, tự do, tài sản mà không qua một tiến trình xét xử
công bằng" một khái niệm mà bản thân nó về căn bản đã mang hàm ý của hệ
tố tụng tranh tụng.
Để thực thi công lý, các Tòa án ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ phải tuân
thủ những nguyên tắc nhất định được quy định chặt chẽ trong các hiến pháp,
trong truyền thống pháp luật. Các nguyên tắc này bao gồm một số nội dung
như sau:
+ Các Tòa án phải tuân thủ pháp luật và chỉ đưa ra quyết định dựa trên
các yếu tố pháp lý thích hợp.
+ Các Tòa án phải công bằng và đối xử bình đẳng với mọi người.
+ Mặc dù được độc lập khi đưa ra quyết định và điều hành xét xử,
song các Tòa án phải tự chịu trách nhiệm về những quyết định, hoạt động và
việc sử dụng, huy động các nguồn lực công.
+ Các Tòa án phải dành cho tất cả mọi người quyền tham gia phiên
tòa và tiến hành công việc của mình một cách công khai.
+ Các Tòa án phải hoạt động một cách có hiệu quả và nhanh chóng.
Theo hệ thống tranh tụng của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, phiên tòa xét
xử là nơi mang tính xung đột được biểu hiện cao nhất, bởi vì Luật sư không
phải là cơ quan hay nhân viên Nhà nước. Luật sư biện hộ ở Hợp chủng quốc
Hoa Kỳ có nghĩa vụ theo sát cuộc điều tra vụ án. Tất cả các nguồn thông tin
thích hợp đều phải được khai thác, khám phá, đặc biệt là các thông tin về
khách hàng. Thay vì tiếp nhận những quyết định của chính quyền để lưu giữ
bảo quản hoặc phá hủy chứng cứ, Luật sư biện hộ có nhiệm vụ phát hiện ra
các thông tin mà cảnh sát hoặc công tố viên đang nắm giữ.
Tại Hoa Kỳ, trong tất cả các vụ án hình sự mà bị cáo bị buộc tội có thể
phải chịu mức hình phạt từ 6 tháng tù trở lên thì người đó có quyền yêu cầu

18

được phép xử bằng bồi thẩm đoàn. Do đó, xét xử không có bồi thẩm đoàn chỉ

chứng cứ cũng như việc tiến hành tranh tụng tại phiên tòa, truy tố tội phạm.
Đối trọng với công tố viên là Luật sư biện hộ. Các Luật sư Anh có xu hướng
tiếp cận phiên tòa tranh tụng như nơi để quyết định các sự việc trên cơ sở đấu
tranh chứng cứ. Bồi thẩm đoàn sẽ buộc bị cáo phải chịu hình phạt nếu họ tin
rằng cáo trạng của công tố viên là đúng đắn.
- Cộng hòa Pháp
Trong hệ thống TTHS của Cộng hòa Pháp có một số nét khác biệt cơ
bản so với Vương quốc Anh. Vào thời kỳ đầu, hình thức tố tụng dựa trên cơ
sở tranh tụng của Anh - Mỹ đã được áp dụng với cơ chế xét xử có bồi thẩm
đoàn. Chế định này đã được sửa đổi vào năm 1808 bằng Luật hướng dẫn xét
xử hình sự dưới triều đại Napoleon, theo đó giữ lại một số yếu tố tranh tụng
trong giai đoạn xét xử nhưng lại đặt giai đoạn thẩm tra trong giai đoạn điều
tra trước khi xét xử. Sự sửa đổi luật năm 1808 đã duy trì những căn cứ đối
với mô hình tố tụng được xem là pha trộn và được coi là kiểu TTHS lai tạp
đại diện cho những cơ sở tiến bộ nhất của mô hình tranh tụng với mô hình
thẩm vấn.
Ngày nay, cơ chế "giả định vô tội" được coi là trung tâm của TTHS
Cộng hòa Pháp đối với tất cả các vụ án nghiêm trọng. Tuy nhiên, nguyên tắc
chứng minh "vượt ra ngoài những lý do nghi ngờ hợp lý" và sử dụng nguyên
tắc loại trừ chứng cứ rất điển hình cho mô hình tranh tụng vẫn chưa được coi
trọng. Cộng hòa Pháp đã đưa vào hệ thống tố tụng của mình một số nội dung
tranh tụng sau đây:
Một là, Luật sư có quyền tham gia ngay từ giai đoạn đầu tiên của quá
trình tranh tụng, tức là ngay khi bắt đầu điều tra vụ án và khi bắt giam người
bị tình nghi. Hơn nữa, khác với truyền thống luật lục địa, nơi mà người ta
thường trông chờ vào sự hợp tác của người bị tình nghi thì hiện nay, luật tố
tụng của Cộng hòa Pháp thừa nhận quyền được giữ im lặng của họ.

20


21

lưu ý theo quy định của luật. Chánh tòa có thể bày tỏ quan điểm của mình về
mọi câu hỏi trừ vấn đề có tội hay không có tội (một biểu hiện rõ nét yếu tố
tranh tụng). Các bồi thẩm thì không bị ràng buộc bởi những quy định nghiêm
ngặt như vậy, và chánh tòa có toàn quyền tự quyết để tiến hành tất cả những
bước cần thiết nhằm khám phá sự thật, bao gồm cả việc cho gọi những nhân
chứng không có trong danh sách nhân chứng mà các bên tham gia tố tụng đưa
ra đến trước tòa để thẩm vấn.
1.1.5. Một số nhận xét
Nguyên tắc tranh tụng thể hiện tính chất dân chủ, công khai, minh
bạch trong quá trình tố tụng, đặc biệt là trong phiên tòa xét xử sơ thẩm. Tranh
tụng tạo điều kiện tối đa cho các bên tham gia tố tụng sử dụng các phương
pháp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình. Vai trò của nguyên tắc
tranh tụng được thể hiện thông qua ba quy tắc cơ bản định hình cho mọi thủ
tục thực hiện tranh tụng. Đó là quy tắc về thủ tục (Rule of procedure), giai
đoạn xét xử (tại Tòa án) là quy tắc về chứng cứ (Rule of Evidence) và cuối
cùng là quy tắc điều chỉnh đạo đức luật sư (Rule of ethics). Từ việc nghiên
cứu một số mô hình tố tụng của một số quốc gia trên thế giới có thể thấy rằng,
dù ở mô hình tố tụng nào cũng ghi nhận tranh tụng là một nguyên tắc của
TTHS, nhưng ở mức độ khác nhau về nội dung và phạm vi áp dụng. Mô hình
tố tụng tranh tụng có nhiều hạn chế, bất cập như xa rời thực tế, "việc con
người bị phán xét như thế nào dường như quan trọng hơn việc xem họ đã làm
gì trên thực tế", bên nào có nhiều tiền để thuê luật sư thì sẽ có nhiều khả năng
giành thắng lợi hơn; thủ tục tố tụng rất phức tạp, mọi vấn đề lẽ ra phải được
thực hiện trong cả một quá trình điều tra lại chỉ được trình bày trong phiên xét
xử và khi phiên tòa xét xử diễn ra thì chưa có gì thực sự được khẳng định
chắc chắn cả; chi phí mở phiên tòa cao, thời gian xét xử thường kéo dài, thành
viên bồi thẩm đoàn có thể bị ảnh hưởng quá mức bởi thông tin đại chúng liên
quan đến vụ việc và khó có thể ước định ngay thiệt hại cũng như phân tích

trước hết phải có các mục đích là đại diện Nhà nước nhằm buộc tội bị cáo,
bảo vệ quan điểm truy tố của VKS. Thông qua hoạt động tranh tụng nhằm

23

thuyết phục HĐXX ra các quyết định theo ý kiến đề nghị của mình mà không
theo ý kiến đề nghị có tính chất đối lập của Luật sư bào chữa đồng thời KSV
phải có trách nhiệm bảo vệ công lý, cùng HĐXX làm mọi tình tiết của vụ án,
áp dụng đúng pháp luật để giải quyết vụ án một cách khách quan, công bằng,
nghiêm minh, không bỏ lọt tội phạm không làm oan người vô tội.
Về phạm vi tranh tụng của KSV tại phiên tòa có nhiều quan điểm khác
nhau về thời điểm mở đầu và thời điểm kết thúc. Theo tác giả, phạm vi tranh
tụng của KSV phiên tòa xét xử HSST bắt đầu từ khi khai mạc phiên tòa và kết
thúc khi HĐXX tuyên án.
Như vậy, từ mục đích, phạm vi hoạt động tranh tụng của KSV có thể
đưa ra khái niệm hoạt động tranh tụng của KSV phiên tòa xét xử HSST là:
Toàn bộ hoạt động của KSV từ khi bắt đầu phiên tòa cho đến khi HĐXX
tuyên án nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan, làm rõ tất cả các tình tiết của
vụ án, bảo vệ quan điểm của Viện kiểm sát (VKS), thuyết phục HĐXX ra các
quyết định theo ý kiến đề nghị của mình để ra một bản án công bằng, đúng
pháp luật.
1.2.2. Đặc điểm hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên
tòa xét xử hình sự sơ thẩm
Thứ nhất, KSV là một chủ thể đặc biệt trong quá trình tranh tụng.
Kiểm sát viên tranh luận với tư cách nhân danh công quyền, đưa ra sự
cáo buộc công khai đối với bị cáo về hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là
tội phạm. Trong khi đó, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân
sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện
hợp pháp và người bảo vệ quyền lợi của đương sự là người tham gia tranh
luận với tư cách là cá nhân, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status