TRANH LUẬN của NGƯỜI bào CHỮA tại PHIÊN tòa HÌNH sự sơ THẨM từ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH - Pdf 58

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TẠ HỒNG LÊ

TRANH LUẬN CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA
TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TẠ HỒNG LÊ

TRANH LUẬN CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA
TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành:Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. VÕ THỊ KIM OANH

HÀ NỘI, năm 2019


2.1. Quy định của pháp luật Tố tụng hình sự hiện hành về tranh luận của người
bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm................................................................ 33
2.2. Tình hình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn
2014 – 2018......................................................................................................... 41
2.3. Thực tiễn thực hiện tranh luận của người bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ
thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh......................................................................... 42
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
TRANH LUẬN CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ
THẨM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH........................................................ 67
3.1. Quan điểm nâng cao chất lượng tranh luận của người bào chữa tại phiên tòa
hình sự sơ thẩm tại thành Phố Hồ Chí Minh........................................................ 67
3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng tranh luận của người bào chữa tại phiên tòa
hình sự sơ thẩm tại thành Phố Hồ Chí Minh........................................................ 72


KẾT LUẬN............................................................................................................ 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS

Bộ luật Hình sự

CQĐT

Cơ quan điều tra

HĐXX

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
“Tranh luận là cái gốc của sự thật”, vấn đề này đã được các triết gia Hy Lạp
nhận thức từ thời cổ đại và cho đến bây giờ việc tranh luận tại phiên tòa vẫn luôn là
một bước không thể thiếu được của trình tự xét xử vụ án tại phiên tòa.Trong tiến
trình cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta,
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề quyền con người, quyền công dân
và đảm bảo quyền con người, quyền công dân, nhất là trong hoạt động xét xử vụ án
hình sự. Để đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong hoạt động xét xử vụ
án hình sự, trong các Nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước đã
quy định về nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, đảm bảo quyền tranh luận của
người bảo chữa tại phiên tòa.
Với khía cạnh tranh tụng, Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày
02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp thể hiện rõ là “nâng
cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên toà, đảm bảo việc tranh tụng
dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác”. Tiếp
đến cần nhắc đến Nghị quyết số 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020 của Bộ Chính trị ngày 02/6/2005 nêu lên rằng “nâng cao chất lượng tranh tụng
tại các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”. Cụ thể hóa
các Nghị quyết của Đảng, trong Bộ luật TTHS và các văn bản pháp luật có liên quan
đã quy định về vấn đề tranh tụng trong hoạt động xét xử. Một trong những điểm cụ
thể hoá đó là Điều 26 Bộ luật TTHS năm 2015 ghi nhận: “…Mọi chứng cứ xác định
có tội, chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự để xác định tội danh, quyết
định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lý vật chứng và những tình
tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh luận, làm rõ tại
phiên tòa...”.
Thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong hoạt động xét xử vụ án hình sự, pháp
luật đã có những quy định đảm bảo cho việc tham gia của người bảo chữa và đảm


trường Đại học Quốc gia Hà Nội là: “Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa
của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”. Tác giả đã khái quát, lý luận chung về

2


nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của các đối tượng trong quá trình điều tra truy
tố xét xử như người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
- Vũ Thế Lân (2014), Bảo đảm bình đẳng trong quan hệ tố tụng, Báo Nhân
dân, (215), tr.7. Bài viết đã nhận định Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: "Người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.
- Tác giả Dương Thanh Biểu với tác phẩm sách tham khảo “Tranh luận tại
phiên toà sơ thẩm” do NXB Tư pháp, Hà Nội ấn hành năm 2007. Công trình nghiên
cứu chuyên sâu đã đề cập những vấn đề lý luận, vận dụng kiến thức pháp luật về
các trình tự nội dung, kỹ năng liên quan đến việc tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm.
- Tác giả Lê Hữu Thể với đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Vấn đề tranh
tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam theo tinh thần cải cách tư pháp” do Nxb Tư
pháp Hà Nội phát hành năm 2008. Nội dung đề tài góp phần làm rõ hơn tinh thần,
nội dung tranh tụng được nêu trong Nghị quyết 08, 49 của Bộ Chính trị.
- Bài nghiên cứu của Hồ Nguyễn Quân năm 2013, “Một số giải pháp
nhằmnângcaochấtlượng tranh tụng tại phiên tòa”, tại trang
Bài viết này đã phân tích được
quy định của pháp luật về TTHS Việt Nam với một số vấn đề liên quan trong tranh
tụng tại phiên tòa.
- Liên quan đến giai đoạn điều tra có Luận văn Thạc sĩ năm 2009 của tác giả
Lê Hồng Sinh năm: “Vai trò người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh”. Luận văn góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận
và thực tiễn, bản chất, nội dung về vấn đề vai trò của người bào chữa trong giai
đoạn điều tra VAHS với số liệu thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Luận về chức năng bào chữa của Luật sư trong giai đoạn điều tra có nghiên

thực trạng tranh luận của người bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm tại
thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở thực tiễn đó xem xét các kết quả đã đạt
được về mặt hiệu quả, các vấn đề còn hạn chế chưa đạt được, bên cạnh đó
tìm kiếm làm rõ các nguyên nhân chính yếu dẫn đến những hạn chế ấy và có
hướng giải quyết.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả
thực hiện tranh luận của người bảo chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm tại
thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới.

4


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động tranh luận của người bảo
chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động tranh luận của
người bảo chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh.
- Về chủ thể: Người bào chữa.
- Về không gian: Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về thời gian: Từ năm 2014 đến năm 2018.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các chủ trương, đường lối, chính sách của
Đảng, Nhà nước về cải cách tư pháp; cơ sở lý luận của khoa học luật Hình sự và Tố
tụng hình sự Việt Nam.
5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Trong quá trình nghiên cứu đề tài trên, tác giả đã sử dụng tổng thể và phối

hình sự sơ thẩm
Chương 2: Quy định của pháp luật Tố tụng hình sự về tranh luận của
người bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm và thực tiễn áp dụng tại thành
phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tranh
luận của người bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm tại thành phố Hồ Chí
Minh

6


Chương 1
LÝ LUẬN VỀ TRANH LUẬN CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA TẠI PHIÊN TÒA
HÌNH SỰ SƠ THẨM
1.1. Khái niệm về tranh luận của người bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ
thẩm
Trong tố tụng hình sự, nhiệm vụ của toàn bộ quá trình tố tụng là đảm bảo
phát hiện kịp thời và xử lý minh bạch công bằng mọi hành vi phạm tội, tiêu chí là
không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội; Từ đó góp phần bảo vệ công
lý, bảo vệ quyền con người cũng như quyền công dân. Mặt khác nhìn nhận xa hơn
là bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân; Hoặc giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu
tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Quá trình tố tụng hình sự trải qua nhiều giai
đoạn khác nhau, bắt đầu từ khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận,
giải quyết nguồn tin về tội phạm đến khi vụ án được giải quyết xong. Việc xét xử vụ
án hình sự trong tố tụng hình sự Việt Nam, phải đảm bảo hai cấp: xét xử sơ thẩm và
xét xử phúc thẩm. Trong giai đoạn xét xử sở thẩm, Tòa án tiến hành xét xử công
khai trước sự tham gia đầy đủ của các bên và những người tham dự phiên tòa.
Thông qua hoạt động xét xử, Tòa án giải quyết các vấn đề thuộc về bản chất của vụ
án, bao gồm: việc xác định có tội phạm hay không, nếu có tội phạm thì tội gì và

nhiên trong pháp luật tố tụng hình sự chưa đưa ra khái niệm về hoạt động
này. Theo từ điển Tiếng Việt tranh luận là bàn cãi để tìm ra lẽ phải [45,
tr.943]. Như vậy theo khái niệm trên thì tranh luận có thể xuất hiện trong việc
lĩnh vực của đời sống xã hội, nội dung của tranh luận là bàn cãi, mục đíc của
hoạt động này là tìm ra lẽ phải. Đây là khái niệm chung về tranh luận nên
chưa mang tính cụ thể và chưa đầy đủ về hoạt động tranh luận của người bào
chữa trong phiên tòa hình sự sơ thẩm.
Dưới góc độ pháp luật, theo thuật ngữ pháp lý thì tranh luận tại phiên
tòa là một thủ tục thực hiện sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên
đương sự, đồng thời làm sáng tỏ sự thật của vụ án, giúp cho việc xem xét và
quyết định về vụ án được đúng đắn [12, tr.425-453]. Như vậy, dưới góc độ
pháp lý tranh luận tại phiên tòa được tiếp cận là một thủ tục tố tụng. Việc xét
xử tại phiên tòa trải qua nhiều thủ tục khác nhau trong đó có thủ tục tranh

8


luận giữa các bên, bản chất của việc tranh luận giữa các bên là làm sáng tỏ sự thật
của vụ án, mục đích của hoạt động này giúp cho Tòa án có thể đưa ra được phán
quyết cuối cùng được đúng đắn.
Qua phân tích trên, có thể nhận khái niệm về tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm
của người bào chữa là một vấn đề chưa được đề cập trong các từ điển phổ thông và
từ điển pháp lý, trong khoa học pháp lý khái niệm này cũng chưa được quan tâm
nghiên cứu đầy đủ. Để xây dựng khái niệm về tranh luận của người bào chữa tại
phiên tòa xét xử sơ thẩm thì cần xác định những đặc điểm đặc trưng của đối tượng
này. Dựa trên các đặc điểm về chủ thể của tranh luận, nội dung tranh luận, chủ thể
có trách nhiệm đảm bảo hoạt động tranh luận, mục đích của hoạt động này có thể
đưa ra khái niệm về tranh luận của người bào chữa tại phiên tòa HSST như sau:
Tranh luận của người bào chữa tại phiên tòa HSST là hoạt động tố tụng theo
quy định của Bộ luật TTHS được người bào chữa thực hiện tại phiên tòa HSST trên

và nội dung. Đồng thời lắng nghe và phân tích cùng nhìn nhận với vai trò
như một trọng tài, tức là không nghiêng về bên nào với sự dẹp bỏ ý chí chủ
quan khi chưa nắm bắt hết được các vấn đề một cách toàn diện. Sự phán
quyết có đúng hoặc sai bản chất phụ thuộc trong phần này rất nhiều vì hai
bên sẽ bóc tách từng vấn đề một cách khoa học logic và hình thành nên cái
nhìn khách quan hơn cho HĐXX. Từ đó mới có cơ sở bảo đảm việc nhận
định và phán quyết cuối cùng đúng người đúng tội.
1.2. Đặc điểm của tranh luận của người bào chữa tại phiên tòa
hình sự sơ thẩm
Qua khái niệm đã được trình bày ở trên, có thể rút ra những đặc điểm
của tranh luận của người bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm như sau:
Thứ nhất, tranh luận của người bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ
thẩm là hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật TTHS. Bộ luật TTHS
quy định trình tự thủ tục để khởi tố, điều tra, truy tố xét xử, thi hành án hình
sự và thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Tố tụng hình
sự là tổng thể các hoạt động tố tụng do cơ quan, người có thẩm quyền, người
tham gia tố tụng thực hiện theo quy định của Bộ luật TTHS để giải quyết
đúng đắn vụ án hình sự. Trong giai đoạn xét xử, Bộ luật TTHS năm 2015

10


quy định trình tự, thủ tục tiến hành phiên tòa xét xử sơ thẩm, trong đó quy định thủ
tục tranh tụng. Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm theo luật định
sẽ bao gồm hai thủ tục chính yếu quan trọng: Một là thủ tục xét hỏi, hai là thủ tục
tranh luận. Việc tranh luận của người bào chữa nói riêng và những người tiến hành
tố tụng, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa nói chung được thực hiện theo
trình tự, cách thức mà Bộ luật TTHS đã quy định. Tại phiên tòa hình sự sơ thẩm để
thực hiện việc tranh luận với bên buộc tại và những người tham gia tố tụng khác
người bào chữa phải sử dụng chứng cứ, lý lẽ, lập luận nhằm đối đáp, phản đối và

thời thể hiện bản chất nhân đạo và daan chủ của Đảng và Nhà nước ta.
Thứ ba, đặc điểm về nội dung, phạm vi tranh luận của người bào
chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm.
Nội dung tranh luận tại phiên toà bao gồm nội dung chính về các vấn
đề vụ án bao gồm (1) làm rõ sự việc diễn ra bao gồm các chủ thể, tình tiết,
không gian, thời gian liên quan vụ án bằng các chứng cứ, cách thu thập xử lý
đánh giá chứng cứ, sự logic trong lập luận; (2) về việc áp dụng pháp luật
trong vệc định tội danh và đưa ra bản cáo trạng; (3) về thực hiện quy trình tố
tụng trước đó.
Theo trình tự tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên đưa ra quan điểm
như bản cáo trạng buộc tội bị cáo trên các cơ sở hồ sơ mà cơ quan điều tra
cung cấp trước đó. Lúc này về nguyên tắc đã bắt đầu xuất hiện chức năng
bào chữa. Bằng sự điều hành của Chủ toạ, việc xét hỏi để làm rõ các tình tiết
và bắt đầu theo như quy định tại Điều 85 Bộ luật TTHS năm 2015 xoay
quanh các vấn đề: Xác định về hành vi sự kiện như có hành vi phạm tội hay
không, ai là người thực hiện và tham gia, động cơ mục đích phạm tội, tính
chất mức độ…Việc xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ, nghe ý kiến của các
nhà chuyên môn và ý kiến của các cơ quan, tổ chức có liên quan trình bày
cũng được các bên sử dụng để chứng minh cho luận điểm của mình. Thông
qua việc điều tra công khai, trực tiếp của các chủ thể bên buộc tội, bên gỡ tội
và HĐXX tại phiên tòa; các tình tiết về vụ án được làm sáng tỏ. Lúc này, nội
dung tranh luận mới chỉ xoay quanh các vấn đề chứng minh tính hợp pháp và
giá trị chứng minh của các chứng cứ về các tình tiết của vụ án (thu thập,
kiểm tra, đánh giá) chứng cứ ở các giai đoạn tố tụng trước đó và tại tòa giữa

12


bên buộc tội với bên gỡ tội mà chưa bộc lộ rõ quan điểm của bên buộc tội và bên
bào chữa - là hai bên của cuộc tranh luận về việc áp dụng pháp luật trong giải quyết


với người bào chữa chỉ nằm trong phạm vi giới hạn của sự buộc tội. Bởi sự
buộc tội của bên công tố là mấu chốt nảy sinh ra sự tranh luận. Vì thế giới
hạn của sự buộc tội thể hiện ở phạm vi không lớn hơn về quy mô tính chất
mà Kiểm sát viên cáo buộc như về như tội danh, về hành vi, về đối tượng, về
đánh giá mức mức độ về hình phạt đề nghị áp dụng… Thông thường sự tranh
luận lại của người bào chữa sẽ không vượt qua phạm vi về dung lượng hoặc
số lượng tính chất các cáo buộc và có xu hướng mong muốn thu hẹp lại hơn
so với các cáo trạng mà bên công tố đưa ra.
Ngoài ra, phạm vi về mặt trình tự thủ tục thì sự tranh luận giữa các
bên được bắt đầu sau khi Chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa, tức là bắt
đầu từ thủ tục bắt đầu phiên tòa đến xét hỏi, tranh luận, nghị án và kết thúc
khi HĐXX tuyên án.
Thứ tư, trong quá trình tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
HĐXX có trách nhiệm điều khiển cho người bào chữa tranh luận với Viện
kiểm sát và người tham gia tố tụng khác một cách công khai, bình đẳng, thực
chất.
Tranh luận tại phiên toà theo trình tự thủ tục một cách công bằng văn
minh và trật tự đúng quy định. Với vai trò điều hành phiên toà, HĐXX đóng
vai trò như một trọng tài, không can thiệp vào bản chất của việc tranh luận,
chỉ giữ vai trò tạo điều kiện thuận lợi để các bên tranh luận đúng pháp luật,
đúng vấn đề và khuyến khích sự tranh luận để từ đó có sự nhìn nhận vấn đề
rõ ràng hơn phục vụ cho việc ra phán quyết của mình. Ngoài ra trong quá
trình tranh luận, HĐXX cần phải điều chỉnh các quy trình theo trình tự tố
tụng nếu việc tranh luận đi lạc chủ đề trọng tâm hoặc quá đà, căng thẳng về
mặt hình thức. Hoặc cần thiết phải quay lại phần hỏi để chứng minh nếu có
vấn đề chưa đươc làm rõ hoặc xuất hiện tình tiết mới. Có thể nói vai trò của
HĐXX trong tranh luận chỉ là người điều hành cuộc tranh luận về mặt hình
thức và thủ tục để bảo đảm sự cân bằng trong việc phát huy quyền và nghĩa
vụ của các bên trong tranh luận, không bên nào có sự áp đặt chủ quan về

cao hơn trong công tác tố tụng hình sự. Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và
Nghị quyết số 49/NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị hướng về bảo đảm và
nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, xem đây là bước tiến bộ mang tính

15


đột phá thay đổi tư duy cũ trong việc tiến hành tố tụng. Vì thế việc cụ thể hoá
chính sách này trong luật định và thực tiễn là thể hiện sự cầu thị, trong xu
hướng chung của thế giới nhằm bảo đảm quyền con người ở mức cao nhất có
thể. Nó cũng thể hiện tính dân chủ tự do của công dân theo đúng như Hiến
Pháp 2013 quy định. Nó phản ánh tinh thần lấy dân chủ, con người làm trung
tâm của sự phát triển bằng việc tạo ra các cơ chế tự do và bảo đảm các
phương tiện thực hiện đặc biệt là công cụ pháp lý mà ở đó các bên đều bình
đẳng về mặt pháp lý trong tố tụng. “Tranh tụng có nhiều yếu tố phù hợp với
sự phát triển dân chủ, vì vậy tiếp nhận các yếu tố này là hướng phát triển
đúng đắn trong cải cách tư pháp ở nước ta” [17]. Ngoài ra việc cải cách về
mặt tố tụng hình sự trong đó có ghi nhận chính thức nguyên tắc tranh tụng,
tranh luận tại Toà án sự thể hiện tính đề cao pháp luật của nhà nước Pháp
quyền Xã hội chủ nghĩa, đề cao được tính nhân văn, nhân đạo trong pháp luật
hình sự.
Với việc tranh luận tại phiên toà diễn ra công khai, có thể giúp cho
những người tham dự phiên toà hiểu rõ hơn về pháp luật, nâng cao ý thức
pháp luật, điều quan trọng hơn là mọi người trong xã hội luôn thấy được rằng
có sự công tâm minh bạch trong xét xử, quá trình diễn ra công khai minh
bạch tạo ra các hiệu ứng tương tự sự giáo dục pháp luật đến mọi người trong
xã hội, giúp họ tự ý thức về quyền của mình trong tố tụng để góp phần thúc
đẩy sự đúng đắn hơn đối với các cơ quan tố tụng.
Thông qua phiên tòa diễn ra công khai dân chủ, các bên tham gia tố
tụng sẽ được thực hiện các quyền trong tố tụng của mình với các điều kiện

Nhà nước pháp quyền đặt nền tảng pháp luật vào việc quản trị quốc gia,
nhắm đến bảo vệ quyền con người và các quyền này được thể chế hoá vào luật pháp
một cách sâu rộng trong các lĩnh vực ngành nghề, Tố tụng hình sự cũng là một trong
những sự cần thiết của sự cụ thể hoá đó, do vậy nguyên tắc tranh tụng mà cụ thể là
tranh luận tại phiên toà sơ thẩm có vai trò góp phần thúc đẩy bảo vệ và tôn trọng
quyền con người.
Việc tranh luận tại phiên toà sơ thẩm góp phần thúc đẩy các bên tham gia tích
cực làm tốt hơn trong vai trò của mình dưới phương diện pháp luật, góp phần chung
vào hiệu quả của xét xử. Nó đòi hỏi các bên không thể tránh né trách nhiệm và các
luận cứ mà các bên đang bảo vệ cho qun điểm của mình dựa trên pháp luật.

17


1.4. Cơ sở của việc quy định tranh luận của người bào chữa tại phiên tòa
hình sự sơ thẩm.

Việc quy định tranh luận của người bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ
thẩm xuất phát từ các cơ sở sau đây:
- Xuất phát từ yêu cầu xác định sự thật khách quan của vụ án. Pháp
luật là yếu tố thuộc về kiến trúc thượng tầng, phản ảnh đặc điểm của các
quan hệ xã hội. Pháp luật là sự phản ánh của hiện thực khách quan, thông qua
lăng kính chủ quan của các nhà nhà làm luật và trên cơ sở khoa học các nhà
làm luật xây dựng pháp luật và sau đó pháp luật được áp dụng vào thực tiễn
và dùng thực tiễn để kiểm nghiệm. Vì vậy, một chế định pháp luật tố tụng
hình sự được quy định đều có những cơ sở khoa học, là cái tiên quyết để nhà
làm luật cân nhắc có nên quy định vào luật hay không. Mục đích hướng tới
của toàn bộ quá trình tố tụng hình sự là xác định sự thật của vụ án, trên cơ sở
xác định sự thật vụ án, Tòa án ra bản án, quyết định để giải quyết vụ án góp
phần đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ quyền và lợi ích của cá nhân,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status