VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HỒNG PHONG
TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HỒNG PHONG
TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIAGIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số:838.01.04
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM MINH TUYÊN
HÀ NỘI, năm 2019
đường bộ của Tòa án tại thành phố Hồ Chí Minh........................................35
2.3. Thực tiễn quyết định hình phạt đối với tội vi phạm quy định về tham
gia giao thông đường bộ của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.....40
Chương 3:CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO ĐẢM ĐÚNG
TRONG ÁP DỤNGPHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI VI PHẠM QUY
ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TẠI THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH..............................................................................................50
3.1. Yêu cầu đảm bảo áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự về tội vi
phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hồ
Chí Minh......................................................................................................50
3.2. Các giải pháp đảm bảo áp dụng đúng quy định của pháp luật hình
sự
về xử lý tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ................53
KẾT LUẬN.................................................................................................... 62
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ATGT
An toàn giao thông
BLHS
Bộ Luật Hình sự
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Tình hình tai nạn GTĐB và va chạm giao thông trên địa bàn thành
phố Hồ Chí Minh từ năm 2014 đến năm 2018 ............................................... 33
Bảng 2.2. Số vụ và số bị cáo phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao
thông đường bộ từ 2014 – 2018 ...................................................................... 34
Bảng 2.3. Cơ cấu hình phạt Tòa án áp dụng khi xét xử sơ thẩm tội “vi phạm
quy định về tham gia giao thông đường bộ” trên địa bàn Thành phố giai đoạn
2014 - 2018...................................................................................................... 40
Bảng 2.4. Tỷ lệ bị cáo được Tòa án sơ thẩm cho hưởng án treo trên tổng số bị
cáo bị xử phạt tù không quá 3 năm trên địa bàn Thành phố giai đoạn từ năm
2014 đến năm 2018 ......................................................................................... 41
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình đổi mới và phát triển đất nước, thành phố Hồ Chí Minh đã
không ngừng phấn đấu đạt được nhiều thành tựu trong quá trình phát triển về
hạ tầng và phương tiện giao thông đáp ứng ngày càng cao nhu cầu và sự phát
triển xã hội. Thành phố Hồ Chí Minh đặt mục tiêu trở thành thành phố thông
minh, hiện đại, nghĩa tình, nhưng bên cạnh những mục tiêu đó, Thành phố
cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức, một trong số đó là
tình hình tội phạm nói chung và tội vi phạm quy định về tham gia giao thông
đường bộ nói riêng đang diễn biến phức tạp, tác động xấu đến tình hình an
ninh, trật tự và sự phát triển kinh tế xã hội của thành phố Hồ Chí Minh, đầu
trong hoạt động phòng và chống tội phạm này còn để xảy ra tình trạng thụ
động, thiếu cơ sở pháp lý và thiếu tính khoa học. Khi áp dụng pháp luật hình
sự, một số dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông
đường bộ vẫn chưa được làm rõ hoặc định tội danh xử lý trách nhiệm hình sự
chưa đúng quy định pháp luật với một số nguyên nhân khách quan và chủ
quan.
Nhằm giúp cho hoạt động phòng, chống tội vi phạm quy định về tham
gia giao thông đường bộ trên địa bàn Thành phố đạt hiệu quả, cần thiết các cơ
quan bảo vệ pháp luật, đặc biệt Công an,Tòa án, Viện kiểm sát phải có giải
pháp đúng đắn, phải có cơ sở khoa học, tính pháp lý về định tội danh và xác
định trách nhiệm hình sự đúng đối tượng vi phạm. Và phải có sự liên lạc, trao
đổi thông tin một cách đồng bộ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt
các cơ quan tham mưu, cơ quan có thẩm quyền trong lĩnh vực pháp luật. Tiếp
tục bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, quan trọng là phẩm
chất của đội ngũ cán bộ công chức trong các cơ quan pháp luật.
2
Để vấn đề trên mang tính khả thi, người có thẩm quyền phải trang bị
nền tảng pháp lý vững vàng và phải có giải pháp thiết thực cho đội ngũ cán bộ
cơ quan bảo vệ pháp luật của Thành phố trong hoạt động đấu tranh với tội vi
phạm quy định tham gia giao thông trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Vì
thế, tôi chọn đề tài: “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
theo quy định của pháp luật hình sự Việt Namtừ thực tiễn thành phố Hồ Chí
Minh” để nghiên cứu làm luận văn thạc sỹ với mong muốn làm rõ hơn những
bất cập quy định trong luật hiện hành, cũng như đóng góp một số ý kiến nhỏ
xung quanh việc nâng cao hiệu quả hoạt động đấu tranh phòng, chống tội vi
phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hồ
Chí Minh trong thời gian tới.
sự năm 2015 Lê Văn Luật (2011), Xác định lỗi khi định tội danh và quyết
định hình phạt đối với tội vi phạm quy định về điều khiển tham gia giao thông
đường bộ đường bộ một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tòa án nhân dân, tr.
10-14.
- Lê Văn Meo (2013), Trần Thị H. Phạm tội quy định về điều khiển
tham gia giao thông đường bộ đường bộ, Tòa án nhân dân, tr.27-28.
- Mai Thế Cần (2010), Tội vi phạm quy định về điều khiển tham gia
giao thông đường bộ đường bộ theo pháp luật hình sự Việt Nam.
Có thể thấy rằng các công trình khoa học trên đa số tập trung chủ yếu
nghiên cứu về hoạt động đấu tranh đối với tội vi phạm quy định về tham gia
giao thông, chưa tập trung nêu lên thực trạng, phân tích hạn chế bất cập,
nguyên nhân để đưa ra giải pháp đấu tranh phòng, chống tội vi phạm quy định
về tham gia giao thông đường bộ có tính thực thi và hiệu quả.
4
Tôi chọn việc nghiên cứu tội vi phạm quy định về tham gia giao thông
đường bộ theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành
phố Hồ Chí Minh còn là vấn đề cần phải được quan tâm hơn, từ đó đặt ra vấn
đề nghiên cứu sâu hơn, làm rõ hơn những bất cập.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Bằng việc phân tích dựa trên vấn đề lý luận và pháp luật cũng như thực
trạng tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo pháp luật
hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh trong 5 năm (2014 2018) luận văn đề xuất các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự
về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và góp ý kiến điều
chỉnh một số bất cập trong luật hiện hành.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Phân tích khái niệm và các dấu hiệu pháp lý cũng như các quy định
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Dựa trên phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin và quan
trọng hơn đó là áp dụng thật hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh vào trong
phương pháp luận đó. Dựa vào quan điểm, chính sách của Đảng và pháp luật
của Nhà nước Việt Nam để nhìn nhận, đánh giá và giải quyết các vấn đề lý
luận chung về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, về định
tội danh và áp dụng trách nhiệm hình sự đối với tội vi phạm quy định về tham
gia giao thông đường bộ.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích,
so sánh, thống kê, điều tra xã hội học,lý luận gắn thực tiễn và các phương
pháp khác liên quan để nghiên cứu đề tài này.
6
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ bao gồm các
vấn đề chung vàcác vấn đề về định tội danh, trách nhiệm hình sự được áp
dụng. Dựa trên việc nghiên cứu lý luận các vấn đề liên quan, tác giả làm sáng
tỏ phần lý luận về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ cũng
như đề cập đến nội dung về tội vi phạm tham gia giao thông đường bộ nhằm
góp phần nâng cao hiệu quả và vai trò trong hoạt động phòng, chống xử lý tội
phạm của các cơ quan bảo vệ pháp luật.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham
khảo cho các cơ quan, cá nhân tiến hành tố tụng (Thẩm phán, Hội thẩm nhân
dân, Kiểm sát viên, Luật sư) các cơ quan bảo vệ pháp luật, cơ quan quản lý
nhà nước và các các cơ quan tại các địa phương khác sử dụng làm tài liệu
có hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ và người này
điều khiển hoặc sử dụng phương tiện tham gia giao thông đường bộ; hoặc
người này dẫn dắt súc vật hoặc người này thực hiện hành vi đi bộ trên đường
bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ,
tài sản của người khác.
Vậy hành vi của người điều khiển phương tiện đường bộ hoặc thực hiện
hành vi như đi bộ, chăn dắt súc vật nhưng vi phạm quy định về an toàn
GTĐB, sẽ là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu
trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi một cách vô ý, và người đó đã gây thiệt
hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây thiệt hại cho
tính mạng của người khác.
8
Theo quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, tội vi phạm quy
định về tham gia giao thông đường bộ có những đặc điểm riêng và đặc điểm
chung của tội phạm là:
Thứ nhất, đặc điểm mang tính nguy hiểm cho xã hội: Theo quy định
của BLHS thì tính nguy hiểm được hiểu là đã hoặc đe dọa gây ra hậu quả,
xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ. Đối với tội vi
phạm quy định về tham gia giao thông thì tính nguy hiểm được hiểu là đã
hoặc sẽ xâm hại đến an toàn công cộng, trật tự công cộng, gây thiệt hại đến
tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác.
Thứ hai: Về hành vi, đây là những hành vi không tuân thủ các quy định
về tham gia giao thông đường bộ bằng cách không thực hiện hoặc không thực
hiện đúng các quy định về an toàn khi tham gia giao thông.
Thứ ba: Về ý chí chủ quan, được thể hiện dưới dạng lỗi vô ý thưởng
được thực hiện thông qua hình thức vô ý vì tự tin và vô ý do cẩu thả.
Thứ tư: Đặc điểm về chủ thể, là bất kỳ ai từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng
được tính nguy hiểm của hành vi, chỉ ra được khách thể bị xâm hại và chủ thể
vi phạm…
Tóm lại, dưới góc độ khoa học luật hình sự, khái niệm tội vi phạm quy
định về tham gia giao thông đường bộ cần thể hiện được đầy đủ cả ba bình
diện tương ứng với năm đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản của khái niệm tội phạm
(chung) đã nêu trên. Do đó, tác giả luận văn đã tổng hợp và đưa ra khái niệm
tội phạm này theo định nghĩa như sau: Tội vi phạm quy định về tham gia giao
thông đường bộ tức là hành vi của người tham gia giao thông đường bộ (tác
giả đồng thuận với nghĩa của từ “tham gia” trong BLHS năm 2015) có năng
lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự mà vi phạm quy
định về an toàn giao thông đường bộ, do lỗi vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng
10
cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây thiệt hại cho tính mạng người
khác.
Do đó, tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB phải được hiểu là hành
vi của người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình
sự đã tham gia GTĐB nhưng đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng,
không đầy đủ các quy định trong pháp luật GTĐB cụ thể là vi phạm Luật giao
thông đường bộ năm Việt Nam.
Theo Luật Giao thông đường bộ Việt Nam thì: Người điều khiển
phương tiện tham gia giao thông gồm: Người điều khiển xe thô sơ, Người
điều khiển xe máy chuyên dùng, Người điều khiển xe cơ giới, tham gia giao
thông đường bộ.
Còn người đi bộ do hành vi không chấp hành các quy định, đã có hành
động đi ra lòng đường hoặc chạy qua đường một cách tự ý tùy tiện gây hậu
quả nghiêm trọng hoặc người vi phạm dẫn dắt súc vật đi không đúng quy định
hoặc mang theo các đồ vật cồng kềnh dẫn đến cản trở các phương tiện giao
đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu hành vi đó không được ngăn chặn kịp
thời.
* Mặt khách quan của tội phạm
Được hiểu là mặt bên ngoài của tội phạm, sẽ là những biểu hiện của tội
phạm được diễn ra trong thế giới khách quan, như là: hậu quả nguy hiểm cho
xã hội do hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra và mối quan hệ nhân quả giữa
hậu quả và hành vi. Bên cạnh đó còn có những dấu hiệu khác, không bắt buộc
gắn liền với hành vi phạm tội như phương tiện, công cụ, phương pháp, địa
điểm, thủ đoạn hoặc hoàn cảnh phạm tội.
Hành vi vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ cụ thể
là:
- Không bằng lái xe hoặc không có giấy phép lái xe theo quy định.
12
- Say do dùng các chất kích thích mạnh khác hoặc trong khi say rượu.
- Cố ý không cứu giúp người bị nạn hoặc gây tai nạn rồi bỏ chạy nhằm
trốn tránh trách nhiệm.
- Đi bộ dẫn dắt súc vật đi tùy tiện không theo đúng quy định hoặc đi bộ
không đúng quy định làn đường.
- Không chấp hành hiệu lệnh của người hướng dẫn giao thông hoặc
người đang làm nhiệm vụ điều khiển giao thông.
- Hệ thống báo hiệu đường bộ bật lên nhưng người vi phạm đã không
chấp hành đúng tín hiệu.
- Không quan sát; không làm chủ tốc độ; không đi đúng làn đường;
chuyển hướng xe, vượt xe, lùi xe, dừng, đỗ xe trên đường bộ không đúng quy
định…
- Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
Dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội vi phạm quy định về tham gia
GTĐB chính là hậu quả. Như gây thiệt hại đến tính mạng tức là làm người
tô ba bánh và các loại xe tương tự.
Tham gia giao thông đường bộ thô sơ đường bộ (sau đây gọi là xe thô
sơ) gồm xe lăn dùng cho người khuyết tật, xe đạp (kể cả xe đạp máy), xe súc
vật kéo và các loại xe tương tự, xe xích lô.
Xe máy chuyên dùng gồm xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp, xe an ninh,
quốc phòng, đặc chủng.
Phương tiện tham gia GTĐB gồm tham gia GTĐB và xe máy chuyên
dùng.
Người tham gia giao thông gồm người điều khiển, dẫn dắt súc vật;
người đi bộ trên đường bộ; người điều khiển, người sử dụng phương tiện
tham gia GTĐB.
Người điều khiển phương tiện gồm người điều khiển xe máy chuyên
14
dùng, xe cơ giới, xe thô sơ.
Người lái xe là người điều khiển xe cơ giới.
Theo quy định tại Điều 39 Luật GTĐB đã phân loại đường bộ như sau:
Mạng lưới đường bộ được chia thành sáu hệ thống bao gồm: đường tỉnh,
đường xã, quốc lộ, đường huyện, đường chuyên dùng và đường đô thị [38,
Điều 39].
Từ đó, để xác định hành vi vi phạm quy định về tham gia GTĐB của
người tham gia GTĐB đã đến mức truy cứu TNHS hay chưa cần phải căn cứ
vào các quy định của Luật GTĐB và các văn bản hướng dẫn thi hành. Hành vi
vi phạm sẽ được xem xét ở yếu tố người tham gia GTĐB là phải nhận thức
được sự an toàn về mặt kỹ thuật theo quy định, nếu người vi phạm để xảy ra
vi phạm mà xác định đó là nguyên nhân gây ra thiệt hại cho tính mạng hoặc
gây thiệt hại nghiêm trọng cho tài sản của người khác hoặc sức khỏe người
khác, và thỏa mãn đủ các dấu hiệu CTTP trong BLHS, thì theo quy định tại
Điều 260 BLHS năm 2015 phải chịu TNHS.
Bên cạnh hành vi khách quan, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, bộ
luật còn quy định một số dấu hiệu khách quan khác chính là dấu hiệu bắt buộc
của CTTP như: địa điểm (nơi vi phạm là công trình GTĐB); Phương tiện giao
thông. Có thể thấy rằng khi xác định các dấu hiệu khách quan này là rất quan
trọng, vì sẽ phân biệt được tội phạm này với các tội vi phạm khác liên quan
đến an toàn giao thông.
Mặt khác, còn có những dấu hiệu khách quan khác như: Đường bộ,
hành lang an toàn đường bộ, công trình đường bộ, phần đường xe chạy, làn
đường, đường phố, dải phân cách, khổ giới hạn của đường bộ, đường cao
tốc… Các yếu tố này cũng rất quan trọng khi xác định hành vi vi phạm các
quy định về tham gia giao thông đường bộ theo pháp luật hình sự Việt Nam.
* Chủ thể của tội phạm
16
Tại Điều 12 BLHS năm 2015 thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi
không phải chịu TNHS về tội phạm này. Người có đủ năng lực trách nhiệm
hình sự là người có đủ khả năng nhận thức được tính chất, mức độ nguy hiểm
cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện, có khả năng điều khiển hành vi
theo hướng có lợi hay không có lợi cho xã hội, hoặc có khả năng xử sự khác
không gây nguy hiểm cho xã hội.
Mà theo quy định tại khoản 4, 5 Điều 260 BLHS là tội phạm ít nghiêm
trọng; quy định tại khoản 1 Điều 260 BLHS là tội phạm nghiêm trọng; quy
định tại khoản 2, 3 Điều 260 BLHS là tội phạm rất nghiêm trọng.
Từ đó, chủ thể của tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB quy định
tại các khoản 1, khoản 2, khoản 3, khoản 4 và khoản 5 Điều 260 BLHS 2015
là người từ đủ 16 tuổi trở lên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Chủ thể của
tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB không phải là chủ thể đặc biệt,
nhưng phải là người tham gia GTĐB mới là chủ thể của tội vi phạm này. Tóm
lại chủ thể của tội phạm này phải có đủ các điều kiện: Có năng lực hình sự, đủ
hậu quả xảy ra, ví dụ như: người điều khiển xe mô tô đi đúng phần đường
nhưng lại chạy quá tốc độ không làm chủ được tay lái đụng vào 1 mô tô khác
đi đúng tốc độ nhưng lại đi sai làn đường của mình, tức đi ngược chiều, tai
nạn làm cả 2 đều bị thương tích trên 61%, toàn bộ xe cộ bị hư hỏng nặng, đây
là trường hợp mà hỗn hợp cả 2 lỗi của 2 người điều khiển xe mô tô đều có lỗi
của mình.
Và tại Toà cũng nhận định rằng trường hợp khi quyết định hình phạt đối
với người phạm tội thì người bị hại cũng có lỗi và coi trường hợp người bị hại
cũng có lỗi (cả hai bên đều có lỗi).
18