VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN PHƯƠNG NHUNG
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ THEO
PHÁP LUẬT CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Hà Nội - 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN PHƯƠNG NHUNG
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ THEO
PHÁP LUẬT CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN NHƯ PHÁT
Hà Nội - 2019
MỤC LỤC
tranh ngày một gia tăng. Khi đó, tập trung kinh tếthường đượccác doanh nghiệp lựa
chọn là “kênh” đầu tưhiệu quả nhất trong việc tiết kiệm nguồn lực, thâm nhập thị
trường, giảm thiểu các rào cản gia nhập thị trường cũng như nhằm gia tăng nguồn
lực và sức mạnh thị trường của doanh nghiệp. Thông qua hiệu quả gia tăng của họ,
thị trường trở nên cạnh tranh hơn, người tiêu dùng được hưởng lợi từ hàng hóa chất
lượng cao hơn với giá công bằng hơn, góp phần phát triển nền kinh tế.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, tập trung kinh tế có thể dẫn đến hạn chế cạnh
tranh, làm giảm cạnh tranh trong một thị trường, thường là bằng cách tạo ra hoặc tăng
cường một vị trí thống lĩnh trên thị trường của một chủ thể nhất định.
Điều này có khả năng gây hại cho đối thủ cạnh tranh và/hoặc người tiêu dùng thông
qua việc định giá cao hơn, giảm sự lựa chọn hoặc làm giảm quá trình đổi mới sản
phẩm, dịch vụ. Biểu hiện điển hình nhất của tập trung kinh tế là làm thay đổi cấu
trúc thị trường theo hướng giảm số lượng của các đối thủ cạnh tranh trên thị trường
và vì thế, mức độ “hoàn hảo” trong cạnh tranh cũng bị giảm sút.[19] Vì vậy, các
hoạt động TTKT cần được điều chỉnh bởi khuôn khổ pháp lý về cạnh tranh và có sự
giám sát, kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước.
Luật Cạnh tranh 2004 là luật cạnh tranh đầu tiên của Việt Nam tạo lập hành
lang pháp lý khá đầy đủ cho hoạt động tập trung kinh tế của các doanh nghiệp cũng
như lần đầu tiên quy định về kiểm soát tập trung kinh tế và các hành vi tập trun kinh tế bị cấm
nhằm ngăn chặn các hành vi có khả năng gây hạn chế cạnh tranh trê thị trường.
Trong hơn một thập kỷ qua, với việc hội nhập kinh tế sâu rộng, tăng cường
thu hút đầu tư nước ngoài, làn sóng đầu tư thông qua hoạt động mua bán và sá nhậpdoanh
nghiệp đang ngày càng gia tăng ở Việt Nam, đòi hỏi các quy định về kiểm soát TTKT vừa chặt
chẽ, vừa linh hoạt để đảm bảo môi trường cạnh tranh công bằng, lành mạnh cho các doanh
nghiệp hoạt động trên thị trường. Tuy nhiên,
1
các quy định của pháp luật về tập trung kinh tế trong Luật Cạnh tranh 2004 đã bộc lộ nhiều bất
cập trong việc kiểm soát tập trung kinh tế. Trong bối cảnh đó, Luật Cạnh tranh 2018 vừa được
lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2019 đã thay đổi hoàn toàn cách tiếp cận về vấn đề
kiểm soát tập trung kinh tế. Theo đó, tập trung kinh tế không còn là một hành vi
thuộc nhóm hành vi hạn chế cạnh tranh mà được tách thành một chương độc lập
(Chương V của Luật Cạnh tranh 2018). Như vậy, theo quy định của Luật Cạnh tranh
2018, tập trung kinh tế là một chế định riêng. Vấn đề này chưa có công trình nào
nghiên cứu. Do đó, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu sự thay đổi của các quy định về
kiểm soát tập trung kinh tế của Luật Cạnh tranh 2004 và Luật Cạnh tranh 2018.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là đánh giá có hệ thống những vấn đề lý
luận và thực tiễn về kiểm soát tập trung kinh tế theo pháp luật Việt Nam. Qua đó rút ra
những kết luận về những kết quả tích cực cũng như phát hiện những hạn chế, bất cập
của pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế. Từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn
thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả kiểm soát tập trung kinh tế ở nước ta.
Nhằm thực hiện những mục đích trên, luận văn phải thực hiện những nhiệm
vụ sau:
- Nghiên cứu những nội dung lý luận cơ bản về tập trung kinh tế, kiểm soát
tập trung kinh tế;
- Phân tích những nội dung pháp luật về tập trung kinh tế;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thi hành pháp luật về kiểm soát
tập trung kinh tế ở Việt Nam hiện nay.
- Xây dựng giải pháp hoàn thiện pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế, qua đó
nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát tập trung kinh tế trong thực tiễn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận về tập trung kinh
tế và pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế tại Việt Nam, trong đó:
Đề tài tập trung làm rõ các vấn đề pháp lý cơ bản của kiểm soát tập trung kinh tế
theo pháp luật ở Việt Nam như: khái niệm, bản chất của tập trung kinh tế, pháp luật
giá thực trạng nhằm kiểm chứng tính chính xác của thông tin được thu thập cũng
như nêu bật những điểm giống và khác nhau, những khó khăn và hạn chế của từng
vấn đề làm cơ sở cho việc đánh giá, tổng kết các kết quả nghiên cứu và đề xuất các
khuyến nghị của Luận văn.
4
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn hệ thống hóa một cách tương đối đầy đủ về các quy định của pháp
luật trong nước cũng như quốc tế về các nội dụng của pháp luật kiểm soát tập trung,
sự cần thiết và vai trò của kiểm soát tập trung kinh tế đối với nền kinh tế Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay và tương lai.
Luận văn góp phần bổ sung những phân tích về những điểm mới trong việc
thay đổi cơ chế kiểm soát giữa Luật Cạnh tranh 2004 và Luật Cạnh tranh 2018,
đồng thời so sánh với kinh nghiệm quốc tế để từ đó thấy rõ được những khó khăn,
bất cập và những khoảng trống cần hoàn thiện của pháp luật cạnh tranh Việt Nam
hiện nay về kiểm soát tập trung kinh tế.
Luận văn có giá trị tham khảo trong nghiên cứu, hoàn thiện chính sách pháp
luật về kiểm soát tập trung kinh tế của Việt Nam hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
có 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tập trung kinh tế và kiểm soát tập
trung kinh tế
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng quy định về kiểm
soát tập trung kinh tế tại Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả thực thi pháp luật kiểm soát hành vi tập trung kinh tế ở Việt Nam.
xét đánh giá các giao dịch có thể gây ảnh hưởng tiêu cực tới cạnh tranh và tập trung
vào việc giao dịch TTKT đó có thể khiến doanh nghiệp mua lại có khả năng thực
hiện các quyết định mang tính ảnh hưởng lên doanh nghiệp bị mua lại. Hệ thống
pháp luật khác nhau sẽ định nghĩa khác nhau về định nghĩa “tác động mang tính
quyết định (decisive influence)”, “ảnh hưởng đáng kể (significant influence)”, “ảnh
6
hưởng thực tế (material influence)” hoặc “tác động cạnh tranh đáng kể
(competitively significant influence)”. Tuy nhiên, cách tiếp cận này tạo nên tính
không chắc chắn và thiếu minh bạch hơn cách tiếp cận thứ nhất khi yếu tố này được
xác định bởi cơ quan cạnh tranh. Do đó, các nước sử dụng cách tiếp cận này thường
phải ban hành các văn bản hướng dẫn về cách thức xác định nhằm minh bạch hóa
quá trình xem xét các vụ việc TTKT.
Cách tiếp cận thứ ba đó là sử dụng kết hợp hai tiêu chí nếu trên trong quy
định của pháp luật cạnh tranh về kiểm soát tập trung kinh tế. Một số quốc gia sử
dụng kết hợp tiêu chí mục tiêu và tiêu chí kinh tế, ví dụ, mua lại 25% cổ phần hoặc
50% cổ phần của doanh nghiệp khác và có thể “kiểm soát” doanh nghiệp đó; có thể
đưa ra quyết định mang tính hạn chế cạnh tranh đáng kể lên doanh nghiệp khác,
và/hoặc phần lớn tài sản của doanh nghiệp khác, đều được cân nhắc trong quá trình
rà soát các vụ việc tập trung kinh tế. Từng yếu tố trên được xem xét một cách độc
lập nhằm xác định rằng giao dịch đó có phải là hình thức TTKT hay còn gọi là “mua
bán, sáp nhập” thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh.
* Khái niệm tập trung kinh tế trong pháp luật của một số quốc gia
- Luật mẫu về cạnh tranh (Model law on competition của Tổ chức Thương
mại và Phát triển Liên Hiệp quốc (UNCTAD), tại mục c khoản I Chương II quy
định “Sáp nhập và mua lại” là trường hợp hai hay nhiều doanh nghiệp thực hiện
hoạt động hợp pháp theo đó các doanh nghiệp hợp nhất quyền sở hữu đối với tài sản
đã từng thuộc quyền kiểm soát riêng của mỗi một doanh nghiệp. Những trường hợp
như nói trên bao gồm cả việc mua lại cổ phần, liên doanh có tính tập trung và các
hòa Pháp còn quy định thêm một hình thức khác tại Khoản 2: “Việc thành lập một
doanh nghiệp chung nhằm thực hiện một cách lâu dài tất cả các chức năng của một
chủ thể kinh tế độc lập là một hành vi TTKT theo quy định tại Điều này.”
- Mục 50 Luật Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng Úc quy định cấm các vụ
việc sáp nhập có tác động, hoặc có khả năng gây tác động làm giảm đáng kể cạnh
tranh trên thị trường trên lãnh thổ bang, thuộc địa hoặc lãnh thổ Úc. Theo quy định
tại Phụ lục 2, Mục 50 quy định áp dụng đối với các hình thức giao dịch sáp nhập và
mua lại. Theo đó, “sáp nhập” nghĩa là các cổ đông của hai doanh nghiệp trở thành
cổ đông của doanh nghiệp hình thành sau sáp nhập. “Mua lại” nghĩa là một doanh
nghiệp mua lại cổ phần, hoặc tài sản của một doanh nghiệp khác. [28, tr54].
8
- Chương IV Luật Chống độc quyền Nhật Bản không có điều khoản cụ thể
phân loại các hình thức TTKT mà đưa ra các điều khoản áp dụng đối với việc mua
lại cổ phiếu (Điều 10), sáp nhập (Điều 15), chia tách công ty (Điều 15.2), chuyển
nhượng cổ phần (Điều 15.3) và mua lại doanh nghiệp (Điều 16). Theo đó, Luật
Chống độc quyền sẽ cấm thực hiện hoạt động mua lại cổ phiếu, sáp nhập, chia tách
công ty, chuyển nhượng cổ phần và mua lại doanh nghiệp nếu doanh nghiệp có
những hành vi được liệt kê trong Luật. [54].
- Mục 54 (2) của Luật Cạnh tranh Singapore được thông qua năm 2004, có
hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2006 được xây dựng trên mô hình Luật Cạnh
tranh của Anh, tại mục 54 – 60 quy định hành vi TTKT là các hành vi: (i) Hai hoặc
nhiều doanh nghiệp, trước đây độc lập với nhau, tiến hành sáp nhập; (ii) Một hay
nhiều chủ thể hoặc doanh nghiệp khác được kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp toàn
bộ, hoặc một phần, của một hoặc nhiều doanh nghiệp khác; hoặc (iii) Một doanh
nghiệp mua lại các tài sản (bao gồm cả lợi thế thương mại), hoặc một phần đáng kể
các tài sản của một doanh nghiệp khác, kết quả là doanh nghiệp mua lại được đặt
trong vị thế thay thế hoặc thay thế một cách đáng kể hoạt động kinh doanh (hoặc
Thứ hai, hình thức TTKT rất đa dạng nhưng thường biểu hiện dưới các hình
thức phổ biến là sáp nhập, hợp nhất, mua lại và liên doanh giữa các doanh nghiệp
hoặc bằng một hình thức “kiểm soát” của một doanh nghiệp đối với một doanh
nghiệp khác. Chính vì lẽ đó, có nhiều khái niệm khác nhau để chỉ hiện tượng này
như “tập trung kinh tế” hay “sáp nhập và mua lại” (M&A) hay “sáp nhập” (merger).
Phân tích bản chất của các hiện tượng TTKT cho thấy TTKT không phải là
hành vi đơn phương của một doanh nghiệp mà diễn ra giữa các doanh nghiệp. Bằng
việc sáp nhập, hợp nhất, liên doanh, mua lại, các doanh nghiệp tham gia TTKT đã
chủ động tích tụ các nguồn lực kinh tế như vốn, lao động, kỹ thuật, năng lực quản
lý, tổ chức kinh doanh… mà chúng đang nắm giữ riêng lẻ để hình thành một khối
thống nhất hoặc phối hợp hình thành các nhóm doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế.
Dấu hiệu này giúp khoa học pháp lý phân biệt TTKT với việc tích tụ tư bản trong
kinh tế học. Theo từ điển tiếng Việt, tích tụ tư bản là tăng thêm tư bản dựa vào tích
lũy giá trị thặng dư, biến một phần giá trị thặng dư thành tư bản. Có thể thấy rằng,
tích tụ tư bản là quá trình phát triển nội sinh của một doanh nghiệp theo thời gian
bằng kết quả kinh doanh. Theo đó, bằng việc sử dụng giá trị thặng dư trong kinh
doanh (lợi nhuận) để tái đầu tư tăng vốn, doanh nghiệp đã dần dần nâng cao được
10
năng lực kinh doanh. Tuy nhiên, quá trình doanh nghiệp có thể tích tụ tư bản để có
được vị trí đáng kể trên thị trường đòi hỏi thời gian khá dài. Trong khi đó, TTKT
cũng có dấu hiệu của sự tích tụ nhưng không từ kết quả kinh doanh mà từ hành vi
“thâu tóm” hoặc “kết hợp” của các doanh nghiệp (tích tụ ngoại sinh).
Thứ ba, TTKT đã hoặc có khả năng hình thành nên doanh nghiệp có năng
lực cạnh tranh tổng hợp hoặc liên kết thành nhóm doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế, từ
đó làm thay đổi cấu trúc thị trường và tương quan cạnh tranh hiện có trên thị trường
[20]. Các hình thức sáp nhập, hợp nhất sẽ làm cấu trúc thị trường thay đổi theo
hướng giảm đi số lượng doanh nghiệp đang hoạt động bằng cách dồn tất cả năng lực
vào một doanh nghiệp duy nhất (doanh nghiệp được sáp nhập hoặc doanh nghiệp
trung kinh tế
1.2.1 Mục tiêu của kiểm soát TTKT
Ở mỗi quốc gia, chính sách kiểm soát tập trung kinh tế là một bộ phận trong
tổng thể các chính sách của Chính phủ, bao gồm chính sách công, chính sách kinh
tế và chính sách cạnh tranh.
Là một bộ phận của chính sách cạnh tranh nói chung, chính sách kiểm soát
TTKT được cụ thể hóa là một trong ba lĩnh vực điều chỉnh của Luật Cạnh tranh, bao
gồm: thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh/độc quyền và kiểm
soát TTKT. Các quy định về kiểm soát TTKT có tác động tiền kiểm, nhằm ngăn
chặn các vụ việc TTKT có khả năng làm phương hại tới cạnh tranh.
Việc đưa các quy định về TTKT vào Luật Cạnh tranh là do:
- Thứ nhất, TTKT ngay lập tức loại bỏ áp lực cạnh tranh giữa các bên tham
gia vào vụ việc và làm giảm số lượng các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Khi tác
động loại bỏ cạnh tranh của vụ việc TTKT đủ lớn, thị trường sẽ mất dần định hướng
hiệu quả kinh tế; đồng thời trong một số trường hợp, doanh nghiệp thành lập sau vụ
việc TTKT không cần thực hiện các hành vi có thể vi phạm các quy định mang tính
hậu kiểm của Luật Cạnh tranh mà vẫn có thể loại bỏ được các đối thủ cạnh tranh và
thu lợi từ thị trường.
- Thứ hai, không phải vi phạm nào cũng có thể bị phát hiện và xử lý. Do đó,
việc áp dụng các biện pháp tiền kiểm có thể giúp giảm bớt áp lực cho cơ quan thực
thi Luật. Ngoài ra, ngay cả khi có thể thực hiện các biện pháp khắc phục ở khâu hậu
kiểm đối với các vụ việc TTKT bị phát hiện có tác động xấu tới cạnh tranh, thì các
biện pháp này cũng rất tốn kém.
12
Như vậy, chính sách kiểm soát TTKT là nhằm mục đích ngăn ngừa việc thay đổi
cấu trúc thị trường có thể dẫn đến việc làm tổn hại tới động lực cạnh tranh trên thị
trường, từ đó làm suy giảm hiệu quả kinh tế và xâm hại tới lợi ích của người tiêu dùng.
mạnh mẽ. Theo trường phái này, cạnh tranh là cuộc chạy đua để xác định những
doanh nghiệp hoạt động hiệu quả nhất, Nhà nước có vai trò đảm bảo trật tự chung
và chỉ nên can thiệp vào cạnh tranh một cách hạn chế. Để đảm bảo lợi ích của người
tiêu dùng, các cơ quan kiểm soát độc quyền (trong đó có kiểm soát TTKT) nên xem
xét ảnh hưởng của hành vi độc quyền dưới hai tiêu chí cơ bản: (i) đối với sự phân
bổ có hiệu quả của mọi nguồn lực kinh tế; và (ii) đối với hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp – xét về chi phí giao dịch hoặc quy mô sản xuất.
Ngoài ra, còn có các trường phái khác, ví dụ như trường phái Harvard mở
rộng mục đích của cạnh tranh. Theo đó, cạnh tranh không chỉ phục vụ lợi ích của
người tiêu dùng mà còn có nhiều chức năng khác như phân phối, xác định nhu cầu,
khuyến khích phát triển công nghệ và phi tập trung hoá quyền lực kinh tế. Bởi vậy,
các trường phái này yêu cầu Nhà nước can thiệp mạnh mẽ và linh hoạt hơn, ví dụ
gia tăng giám sát thoả thuận hạn chế cạnh tranh, kiểm soát sáp nhập và thôn tính,
thực hiện chính sách chia nhỏ doanh nghiệp có vị trí độc quyền.
Xác định luận cứ cho việc kiểm soát TTKT một phần nhằm mục đích đặt ra
giới hạn điều tiết của Nhà nước đối với các hiện tượng TTKT. Trong các giai đoạn
của thị trường, TTKT luôn xuất hiện từ những cơ sở lý luận cơ bản sau:
Một là, do sức ép của cạnh tranh trong đời sống kinh doanh. Có hai mức độ
TTKT có thể xảy ra là: (1) các nhà kinh doanh tìm mọi cách với thời gian ngắn nhất
để có được vị trí cạnh tranh tối ưu trên thị trường; và (2) các doanh nghiệp đang yếu
thế cần tập hợp thành liên minh hoặc đơn vị lớn hơn nhằm tìm kiếm cơ hội tồn tại
trước đối thủ lớn đang chèn ép họ. Cả hai trường hợp nói trên đều dẫn đến kết quả
là các doanh nghiệp đang từ đối đầu trở thành những đơn vị liên kết và không còn
cạnh tranh với nhau nữa. Bởi vậy, TTKT bắt nguồn ở cạnh tranh nhưng kết quả của
nó lại là tiêu diệt cạnh tranh.
Hai là, do sức ép của các cuộc khủng hoảng kinh tế. Lịch sử đã chứng minh
rằng, mỗi khi thị trường xảy ra khủng hoảng thì một trong những giải pháp hiệu quả
mà các doanh nghiệp thường sử dụng là tập trung lại để nương tựa vào nhau nhằm
tìm kiếm cơ hội tồn tại.
toàn diện khi đánh giá các yếu tố giúp đưa ra quyết định một vụ việc TTKT có khả
năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể hay không.
15
Xuất phát từ bản chất kinh tế của TTKT vừa có tác động tích cực vừa có tác
động hạn chế cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh nhiều quốc gia xây dựng cơ chế kiểm
soát TTKT thông qua hai cơ chế đó là: (i) cấm các trường hợp TTKT có tác động
hạn chế cạnh tranh trên thị trường; và (ii) kiểm soát các trường hợp có khả năng gây
tác động hạn chế cạnh tranh trên thị trường.
1.3.1 Quy định về hình thức kiểm soát TTKT
Để nhận dạng bản chất của hành vi tập trung kinh tế, ngoài việc phân tích
khái niệm, các lý thuyết kinh tế và các luận thuyết của pháp luật cạnh tranh cũng đòi
hỏi phải nhận dạng những hình thức biểu hiện của chúng. Trong kinh tế học, tồn tại
nhiều tiêu chí để xem xét về hình thức của tập trung kinh tế.
Dựa vào mức độ liên kết từ hành vi TTKT người ta chia thành hai loại là
TTKT chặt chẽ (hoặc còn gọi là tổ hợp) và tập trung không chặt chẽ (gọi là liên
minh lý tài).[5, tr31].
Hình thức tập trung chặt chẽ hay còn gọi là hình thức tờ- rớt (trust) là việc
các doanh nghiệp tham gia TTKT chấm dứt tồn tại để hình thành nên một doanh
nghiệp thống nhất. Như vậy, việc thống nhất đã hoàn thành cả ở phương diện pháp
lý lẫn quản trị doanh nghiệp. Hình thức TTKT này thường được thực hiện bằng biện
pháp sáp nhập, hợp nhất các doanh nghiệp.
Hình thức tập trung không chặt chẽ là việc các doanh nghiệp tham gia vẫn là
những chủ thể độc lập dưới góc độ pháp luật, song chúng chịu sự chi phối bởi các
doanh nghiệp khác. Bằng các hành vi mua lại hoặc liên doanh, các doanh nghiệp đã
thiết lập được mối quan hệ với nhau để tạo thành một liên minh hoặc một nhóm doanh
nghiệp theo mô hình tập đoàn. Trong đó, bằng quyền của chủ sở hữu, các doanh nghiệp
có thể chi phối các doanh nghiệp khác mà nó có phần vốn góp hoặc cổ phần.
Hình thức này bao gồm các vụ việc TTKT giữa các doanh nghiệp ở cấp độ
khác nhau trong cùng một chuỗi sản xuất, cung ứng sản phẩm. Nói cách khác, các
vụ việc này phát sinh khi các doanh nghiệp đang hoặc sẽ có mối quan hệ mua - bán
sản phẩm thực hiện tập trung kinh tế.
Không giống như các vụ việc TTKT theo chiều ngang, các vụ TTKT theo
chiều dọc không làm giảm số lượng đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan, tuy
nhiên, cũng có thể gây ra những quan ngại đáng kể đối với cạnh tranh trên thị
trường. Quan ngại nghiêm trọng nhất liên quan tới cạnh tranh là khi vụ việc TTKT
gây ra tác động đóng cửa thị trường, ví dụ, trường hợp một doanh nghiệp sản xuất
tiến hành TTKT với các nhà cung cấp nguyên liệu đầu vào thiết yếu và từ chối cung
17
cấp nguyên liệu thiết yếu đó cho các đối thủ cạnh tranh khác. Mục tiêu của sự hợp
nhất này thường nhằm giảm chi phí giao dịch (transaction cost economies) hoặc
thực hiện những mục tiêu chiến lược thị trường (đảm bảo nguồn cung ứng hoặc
nguồn tiêu thụ, ngăn cản đối thủ cạnh tranh mở rộng thị trường hoặc dựng rào cản
gia nhập thị trường).
Hình thức TTKT theo chiều dọc có thể dẫn đến những tác động tiêu cực ảnh
hưởng đến cạnh tranh, cụ thể: (1) Khi một doanh nghiệp có vị thế rất mạnh ở một
khâu nào đó (theo nghĩa thị trường một sản phẩm) trong chu trình kinh doanh thì họ
có thể tận dụng quyền lực này để gây sức ép đối với khâu có liên quan trước và sau
đó (thị trường những người cung ứng hoặc những người tiêu thụ). Thông qua đó,
doanh nghiệp này có thể gây khó khăn cho những người cạnh tranh không cùng liên
kết với họ; (2) Về cơ bản, sự TTKT theo chiều dọc của các doanh nghiệp sẽ gây khó
khăn cho những người mới gia nhập thị trường bởi khả năng nâng cao năng lực
hoặc hỗ trợ tài chính và bí quyết kỹ thuật giữa các khu vực thị trường.
(iii) Tập trung kinh tế theo dạng hỗn hợp
Hình thức này bao gồm các vụ việc TTKT khi các bên tham gia hoạt động
sản xuất kinh doanh trong các lĩnh vực khác nhau. Điển hình là khi các công ty
doanh nghiệp, tuy nhiên tiếp cận từ “mặt trái” của cạnh tranh, pháp luật đưa ra quy
định cấm tập trung kinh tế trong một số trường hợp nhất định nếu việc tập trung
kinh tế có tác động hoặc khả năng tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể
trên thị trường.
- Mục II. Chương VI Luật mẫu về cạnh tranh của UNCTAD quy định: “Các
vụ sáp nhập, mua lại, liên doanh hay các hình thức mua lại khác, kể cả việc kiêm
nhiệm chức vụ, có tính liên kết ngang, liên kết dọc hay liên kết tập đoàn sẽ bị cấm
khi: (i) Giao dịch định tiến hành làm tăng đáng kể khả năng thâu tóm quyền lực thị
trường (như việc trao khả năng cho một công ty hay nhóm các công ty cùng hành
động để duy trì mức giá có lợi trên mức cạnh tranh trong một thời gian nhất định)
và (ii) Thị phần trong nước của bất kỳ loại hàng hoá, dịch vụ nào sau sáp nhập sẽ
làm hình thành một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hay làm giảm đáng kể cạnh
tranh trên thị trường vì chỉ có một nhóm doanh nghiệp thâu tóm.”[59, tr.11].
- Mục 7, Đạo Luật chống độc quyền Clayton (Clayton Antitrust Act) ban
hành năm 1914, 15 U.S.C §18, là đạo luật chống độc quyền liên bang cơ bản về
kiểm soát sáp nhập và mua lại tại Hoa Kỳ. Mục 7 của Luật nghiêm cấm bất kỳ giao
19
dịch mua lại cổ phần hoặc tài sản trong các giao dịch ảnh hưởng đến thị trường và
“có khả năng dẫn tới hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể, hoặc có xu hướng tạo ra
độc quyền trên thị trường”.
- Mục 50 Luật Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng Úc quy định cấm các
vụ việc sáp nhập có tác động, hoặc có khả năng gây tác động làm giảm đáng kể
cạnh tranh trên thị trường trên lãnh thổ bang, thuộc địa hoặc lãnh thổ Úc [28, tr.2].
Pháp luật của rất nhiều quốc gia khác như Pháp, Singapore, Trung Quốc…
đều quy định cấm các hành vi mua bán, sáp nhập dẫn tới hoặc có khả năng dẫn tới
tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường.
1.3.3 Quy định về thông báo tập trung kinh tế
Để đánh giá TTKT có thuộc trường hợp bị cấm hay không, một trong những
tham gia trên thị trường liên quan.
Cách tiếp cận thứ ba đó là kết hợp cả hai tiêu chí trên khi cơ quan cạnh tranh
xác định ngưỡng cần thông báo hoặc ngưỡng an toàn, ngưỡng kiểm soát tập trung
kinh tế.
Theo kinh nghiệm của một số quốc gia đã tiến hành thay đổi ngưỡng thông
báo TTKT, ngưỡng TTKT sử dụng các tiêu chí khách quan như doanh thu hoặc giá
trị tài sản của các bên tham gia TTKT không mang lại nhiều hiệu quả trong việc dự
báo tác động cạnh tranh của giao dịch TTKT.[8]
Đa phần các quốc gia đều sử dụng ngưỡng thông báo TTKT dựa trên tiêu chí
doanh thu trên thị trường nội địa. Trong khi đó, một số khác lại sử dụng ngưỡng
thông báo kép, bao gồm cả hai chỉ tiêu là doanh thu trên thị trường nội địa và doanh
thu trên thị trường toàn cầu. Với những quốc gia sử dụng ngưỡng thông báo kép
này, tổng doanh thu toàn cầu của các bên tham gia TTKT thường được xác định ở
mức tương đối cao nhằm tránh việc phải nhận quá nhiều hồ sơ thông báo. Kết quả
là, các giao dịch chỉ mang tính chất quốc gia, dù có khả năng gây hạn chế cạnh
tranh trên bình diện nội địa, lại bị bỏ sót do không đáp ứng được tiêu chí về doanh
thu trên phạm vi toàn cầu. Trong những trường hợp như vậy, một hệ thống ngưỡng
thông báo TTKT sử dụng cả tiêu chí về doanh thu kết hợp và doanh thu của từng
doanh nghiệp tham gia vào giao dịch TTKT trên thị trường nội địa có thể giúp nắm
bắt tốt hơn các giao dịch có khả năng gây hạn chế cạnh tranh. Mặc dù cách tiếp cận
này sẽ không giúp đạt được mục đích hạn chế số lượng thông báo TTKT mà cơ
21
quan cạnh tranh phải tiếp nhận nhưng lại giúp làm tăng tỷ lệ các vụ việc có vấn đề
được thông báo lên cơ quan cạnh tranh.
Một số quốc gia đã cân nhắc tới việc áp dụng ngưỡng thông báo theo tiêu chí
thị phần nhằm phản ánh chính xác hơn khả năng gây hạn chế cạnh tranh của vụ việc
TTKT. Tuy nhiên, sau quá trình xem xét, các quốc gia này đã loại bỏ phương án này