Đô thị cá cảng Nam Bộ...
Phạm Thanh Duy
ĐÔ THỊ CẢNG CÁ Ở NAM BỘ
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN
Phạm Thanh Duy(1)
(1) Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (VNU-HCM)
Ngày nhận bài 20/8/2018; Ngày gửi phản biện 25/8/2018; Chấp nhận đăng 30/11/2018
Email: [email protected]
Tóm tắt
Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm làm sáng tỏ một mô hình đô thị hóa đang diễn ra
mạnh mẽ ở Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng. Đây là mô hình đô thị hóa các cảng cá
đang hiện hữu trong khoảng 3 thập kỉ qua. Có thể liệt kê ra 9 tỉnh, thành ở Nam Bộ đều có
những đô thị loại này. Trong những năm qua, tại Việt Nam, đã nhiều nghiên cứu tập trung vào
đô thị hóa ở vùng ven của những đô thị lớn trong khi lại thiếu vắng những nghiên cứu về các đô
thị hóa từ vùng nông thôn. Nghiên cứu này không chỉ tập trung vào mảng đô thị hóa các vùng
nông thôn mà còn tập trung vào một loại hình đô thị “đơn nghề”. Đây mới chỉ là một nghiên
cứu khởi đầu cho mảng đề tài này để giúp gợi lên một vấn đề con đang bỏ ngỏ. Địa bàn nghiên
cứu của đề tài này là thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được xem là đại
diện cho một loại những đô thị cảng cá ở Nam Bộ đã đạt được những thành tựu rất lớn về kinh
tế. Kết quả của đề tài này chủ yếu bằng phương pháp nghiên cứu định tính qua thông qua các
cuộc trao đổi chính thức và phi chính thức với cấp quản lí cũng như người dân địa phương.
Nghiên cứu này sẽ cung cấp những hiểu biết nhất định về một loại hình đô thị phụ thuộc vào
một ngành nghề là khai thác biển và xu hướng phát triển mô hình này.
Từ khóa: cảng cá, đô thị hóa, ngư dân, Việt Nam
Abstract
FISHING PORT – TOWN IN SOUTHERN VIETNAM: SOME ESPECTS AND
DEVELOPMENT TRENDS
The aim of this research is to elucidate a model of urbanization in Vietnam in general and
Southern Vietnam in particular. This model has turned many fishing ports into urbanization areas
có ưu thế về mặt kinh tế nhưng cũng có rất nhiều các bất cập. Trong đó, nhiều bất cập có thể
giải quyết được về mặt hành chính song cũng có nhiều khía cạnh đòi hỏi phải được nghiên cứu
để đưa ra những giải pháp cụ thể hướng tới phát triển bền vững.
2. Tổng quan về đô thị ven biển trong lịch sử Việt Nam
Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong
lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc
chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng
lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của
thị xã; thị trấn (Quốc Hội, 2009). Đó là định nghĩa đô thị theo luật đô thị được Quốc Hội ban
hành. Trong bài viết này, khái niệm đô thị được sử dụng ở một hình thức khái quát nhất. Các đô
thị ven biển có thời gian phát triển khác nhau, có tính chất và vị trí khác nhau dẫn tới quy mô
và tốc độ phát triển cũng khác nhau. Các đô thị ven biển Việt Nam thường có 3 hoạt động
chính: 1) Trung tâm giao thương vận tải quốc tế và và là cầu nối giữa việc giao lưu trong nước
và quốc tế. 2) Trung tâm nghỉ dưỡng với những bãi biển, khách sạn và khu nghỉ dưỡng thu hút
khách du lịch. 3) Đô thị cảng cá, nơi tập trung các tàu thuyền đánh cá và là đầu mối phân phối
nguồn hải sản đánh bắt được cho các thị trường trong nước và quốc tế.
Trong lịch sử Việt Nam, có nhiều lí do để hình thành một đô thị. Đô thị trước hết phải là
một trung tâm hành chính như thủ đô, thủ phủ của một chính quyền địa phương. Đô thị cũng
hình thành từ các trung tâm tôn giáo là những địa điểm hành hương, thu hút nhiều tín đồ tôn
giáo đến thăm viếng. Đô thị là nơi nghỉ dưỡng, phục hồi sức khỏe. Tuy nhiên, khi đề cập đến
các đô thị ven biển, có 2 lí do chính để hình thành, đó là đô thị nghỉ mát gắn liền với thiên
nhiên phong cảnh và những bãi cát mịn, phẳng lì thích hợp cho việc tắm và sinh hoạt ngoài trời.
Lí do thứ hai nhưng quan trọng nhất cho việc hình thành các đô thị ven biển được nhiều nhà
nghiên cứu nhắc tới là đô thị được hình thành từ những khu vực được cho là có nhiều thuận lợi
để hình thành khu trung chuyển cho việc giao thương quốc tế. Lí giải cho việc đô thị ven biển
không phát triển thì Trần Quốc Vượng và sau này là Ngô Đức Thịnh đã nói đến đặc điểm của
người Việt là “xa rừng, nhạt biển” (Ngô Đức Thịnh, 2004). Vì thế, trong suốt thời gian dài của
lịch sử Việt Nam, rất ít đô thị ven biển được hình thành. Đáng chú ý nhất trong số các đô thị
thời kì này là Vân Đồn, thuộc tỉnh Quảng Ninh hiện nay. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đô thị
này được khoảng 7,8 trăm năm trước. Các nhà nghiên cứu cũng chứng minh tầm quan trọng
thế giới Ả Rập (Viện nghiên cứu văn hóa, 2017). Người Ả Rập là người rất giỏi việc đóng tàu,
điều này đã được nhiều nhà khoa học chứng minh. Hẳn chúng ta cũng biết, người Chăm ở khu
vực miền Trung đã theo Hồi giáo từ ngàn năm qua. Tôn giáo này du nhập vào cộng đồng người
Chăm còn bị phong tục tập quán, lối sống của tộc người bản địa làm thay đổi nó, khiến nó trở
thành một tôn giáo riêng biệt trong cộng đồng, rất khác với Hồi giáo (Islam) hiện nay mà người
Chăm ở khu vực Châu Đốc cùng một số nơi khác tiếp nhận sau này. Như vậy, hẳn phải có
những người từ khu vực Ả Rập đến đây để đem tôn giáo này vào dải đất miền Trung. Tài liệu
của Công Giáo cũng ghi nhận việc các nhà truyền giáo phương Tây đã vào Việt Nam bằng
đường biển. Nơi được coi là có lịch sử Công giáo xa xưa nhất, nửa đầu thế kỉ XVI là vùng Kẻ
Bạng, Thanh Hóa. Người Công giáo coi điểm đó là điểm đầu tiên người Việt “đón nhận tin
mừng”. Sau này, hàng loạt các nhà truyền giáo khác cũng sang Việt Nam và nhiều nước như
Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc và đặc biệt là Philippine truyền đạo. Như vậy việc
giao thương này chứng tỏ người xưa đã xây dựng các hải cảng để người và hàng hóa từ châu Á,
châu Âu đến Việt Nam.
Một đô thị lớn nhất có niên đại khoảng 300 được xây dựng ở Việt Nam mà hiện nay vẫn
còn gần như nguyên vẹn là Hội An. Hội An nằm cách biển Cửa Đại chừng hơn 5 cây số. Việc
xây dựng thương cảng sâu trong đất liền như vậy là phương thức hữu hiệu cho việc tránh gió
bão thời bấy giờ. Dấu ấn của đô thị này chứng mình rõ ràng nhất cho việc giao thương với các
thương gia Nhật Bản và Trung Quốc. Kiến trúc của đô thị này cũng thể hiện nét giao lưu văn
hóa của người Việt với 2 tộc người nói trên.
122
Tạp chí Khoa học Đại học Thủ Dầu Một
Số 4(39)-2018
Sau 1858 khi người Pháp nổ súng đầu tiên vào bản đảo Sơn Trà, Đà Nẵng ngày nay đã
đánh dấu cho một giai đoạn Việt Nam chịu sự cai trị của các cường quốc thực dân. Để phục vụ
cho việc khai thác và cai trị, người Pháp đã làm nhiều việc tại Việt Nam, trong đó phải kể đến
chủ yếu theo quy hoạch làm trạm trung chuyển hàng hóa, chủ yếu là đường thủy (cả đường biển
và đường sông).
Song song với việc xây dựng đô thị cảng biển, người Pháp cũng quy hoạch và xây dựng
các đô thị phục vụ cho việc giải trí, nghỉ mát. Hàng loạt các đô thị ở vùng biển được hình thành.
Trong đó, đáng chú ý nhất là đô thị Vũng Tàu (Cap Saint Jaque), Nha Trang, Quy Nhơn,… bên
cạnh những đô thị nghỉ mát vùng núi như Đà Lạt, Sa Pa, Bạch Mã, Bà Nà,… Từ năm 1954 đến
đầu những năm 1990, các đô thị ven biển gần như đã được xác lập về mặt địa lí, nhưng gần như
không có sự phát triển nào bởi Việt Nam chìm trong chiến tranh và sau đó là cấm vận, bế quan
tỏa cảng. Giai đoạn sau, các đô thị chủ yếu phát triển thêm về quy mô và chiều sâu cũng như
tập trung thêm dân số làm cho mật độ ngày càng cao. Cùng thời gian này, ngành đánh bắt, khai
thác biển phát triển mở ra cơ hội cho việc phát triển các đô thị cảng cá.
123
Đô thị cá cảng Nam Bộ...
Phạm Thanh Duy
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Xu hướng hình thành đô thị cảng cá ở Nam Bộ
Trong khoảng 2 thập niên vừa qua, có sự phát triển bùng nổ về loại đô thị cảng cá ở Nam
Bộ. Có thể liệt kê một số khu vực cảng cá ở Nam Bộ đang trở thành những tụ điểm thu hút dân
cư và có kiểu sống theo mô hình đô thị mà chúng ta gọi là các thị tứ, thị trấn hay thị xã:
- Cảng cá Phước Tỉnh (huyện Long Điền), cảng cá Lộc An (huyện Đất Đỏ), tỉnh Bà Rịa –
Vũng Tàu
- Khu vực cảng cá Long Hòa, Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh
- Cảng cá Vàm Láng, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang
- Cảng cá Bình Thắng, huyện Bình Đại và An Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre
- Cảng cá Định An, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh
- Cảng cá Trần Đề, Thị trấn Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng
124
Tạp chí Khoa học Đại học Thủ Dầu Một
Số 4(39)-2018
vào năm 2000. Mặc dù là do 2 đơn vị khác nhau nhưng các hoạt động kinh tế của thị trấn Sông
Đốc hiện nay đều gắn liền với biển. Những người thuộc thị trấn Sông Đốc cũ có hoạt động kinh
tế chủ yếu là khai thác biển, làm những dịch vụ về biển và buôn bán. Cư dân thuộc khu vực
nông trường Sông Đốc có lợi thế sở hữu nhiều đất nông nghiệp nên hoạt động kinh tế của họ
cũng thuộc lĩnh vực này. Tuy nhiên, những năm gần đây, do chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ nông
nghiệp trồng lúa sang nuôi thủy hải sản rất thành công nên kinh tế của họ thay đổi đáng kể. Đối
với những hộ gia đình có nhiều đất đai, việc nuôi thủy hải sản trong những năm qua thành công
nên cuộc sống rất dư giả. Như vậy, xét trong tổng thể của thị trấn Sông Đốc hiện nay thì hoạt
động kinh tế vẫn là bám biển và dựa vào biển là chủ yếu. Như vậy, có thể nói toàn bộ sự tăng
trưởng hay suy giảm kinh tế có sự ánh hưởng rất lớn từ ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn. Những quyết sách từ ngành này cũng có thể làm thay đổi đối với địa phương. Điều này
cũng đúng cho các đô thị cảng cá khác ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Hầu hết nghề cá Việt Nam hiện nay còn hoạt động bằng hình thức thủ công. Mặc dù đã
có máy móc can thiệp vào việc khai thác, đánh bắt song sức người vẫn là nguồn lực chính trong
việc đánh bắt cá. Vì thế, những vùng cảng cá là nơi thu hút lực lượng lao động ở khắp các nơi
trên cả nước. Tùy theo quy mô và loại hình đánh bắt mà cần bao nhiêu lao động làm việc trên
tàu. Nếu ở những khu vực bãi ngang, không có các cửa sông thuận lợi cho tàu bè cập bến, hình
thức khai thác chủ yếu là gần bở và đi trong ngày hoặc 2,3 ngày là về. Loại hình đánh bắt này
phương tiện nhỏ và nhẹ, số lượng lao động trên mỗi thuyền khoảng 3-5 người. Điển hình cho
các loại hình khai thác này có thể thấy ở vùng biển Long Hải và Phước Hải, Bà Rịa – Vũng Tàu.
Mô hình này thường là mô hình kinh tế hộ, thu hút lực lượng lao động trong gia đình.
Những tàu đánh cá đánh ở ngoài khơi đòi hỏi phải có tàu lớn và số lượng người tham gia
nhiều hơn. Loại hình đánh bắt thường là ghe cào đôi hoặc đơn, đánh cá đèn, câu mực,…Những
gồm các dao động theo quy luật và các thay đổi cực đoan của khí hậu. Tình trạng dễ bị tổn
thương là hàm số của tính chất, cường độ và mức độ (phạm vi) của các biến đổi và dao động
khí hậu, mức độ nhạy cảm và khả năng thích ứng của hệ thống (IPCC, 2001). Tình trạng này ở
thế kỷ 21 là thế kỷ của châu Á theo các nhà nghiên cứu có vẻ tương tự như thế kỷ 20 là của Mỹ.
Về vấn đề đô thị hóa, châu Á trong thế kỷ hiện nay đang phải đối mặt với sự gia tăng dân số đô
thị và những vấn đề liên quan đến di dân nông thôn - nông thôn, tình trạng quá tải, sự gia tăng
của nhà ổ chuột, thiếu nhà ở, thất nghiệp ngày càng gia tăng và thiếu việc làm và sự lựa chọn
giữa năng suất lao động sản xuất việc làm thâm dụng, nghẹt thở ô nhiễm do cả ngành công
nghiệp và khói xe cơ giới, phá hỏng đô thị và các hệ thống giáo dục/ chăm sóc sức khoẻ và trên
tất cả là vấn đề đói nghèo (Ashok K.Dutt và ctv., 2003).
Đối với các đô thị cảng cá Việt Nam, vấn đề quan trọng nhất là ngư trường. Nhưng chỉ
cần vào google gõ chữ “ngư trường cạn kiệt‟, gần nửa triệu mục sẽ hiện ra trong vòng nửa giây.
Lướt qua những trang này, có thể thấy vấn đề ngư trường cạn kiện không chỉ xảy ra ở riêng khu
nào mà trên địa bàn cả nước. Báo chí cũng chỉ đích danh thủ phạm của việc tàn phá môi trường
là do khai thác quá mức, tận diệt thông qua các ngư cụ mang tính hủy diệt môi trường. Đối với
vùng ngư trường quen thuộc của ngư dân Sông Đốc, một tài công đã tiết lộ “Bây giờ đáy biển
phẳng lì như nền nhà này”. Vừa nói ông vừa chỉ tay xuống nền nhà nhà ông để minh chứng cho
sự thật ông phản ánh. Không một loài rong tảo cỏ biển có thể tồn tại khi mà mỗi năm hàng trăm
lượt cào lấn lướt qua vùng biển. Những chỗ rong, cỏ biển và những loài thủy sinh khác còn có
chỗ cư trú được là những hốc đã dưới biển hay xung quanh xác của những con tàu đắm. Vị trí
của những “chướng ngại vật” dưới lòng biển đã được các tài công ghi nhận khá đầy đủ trong
cuốn sổ tay và trong máy định vị trên tàu. Vì thế mà rất hiếm khi các tài công thả lưới cào vào
những chướng ngại vật này.
Tại một số ngư trường ở phía Nam, cạn kiệt tài nguyên đang ảnh hưởng nghiêm trọng
đến nghề nghiệp đánh bắt của cư dân. Ở Lagi, Bình Thuận, nơi mà trước đây nghề cá rất phát
triển, nay bắt đầu đìu hiu. Nhiều ngư dân hiện nay đang trong tình trạng ôm tàu cá theo kiểu „bỏ
thì thương, vương thì tội”. Nhiều hộ gia đình không ra khơi đánh bắt cá do thua lỗ kéo dài, hết
vốn. Ở khu vực Tây Nam Bộ, nơi mà ngư trường chủ yếu là biển Tây mặc dù chưa quá bi đát
nhưng nhiều ngư dân phải luôn đổi mới phương thức đánh bắt. Những loại hình khai thác
truyền thống nhường chỗ cho cách thức khai thác mới. Cụ thể ở Sông Đốc, nơi chuyên về câu
báo chí biết đến. Ở các nước trong khu vực, người dân đã có những mối “chạy” để sự việc bắt
giữ không đến được với cơ quan chức năng. Việc khai thác trái phép này dẫn tới hệ quả lớn là
Việt Nam đang bị hạn chế xuất hàng thủy hải sản vào châu Âu.
3.4. Rủi ro trong đời sống xã hội
Chúng tôi chưa có số liệu thống kê về tình trạng đổ vỡ gia đình đối với người dân ở Sông
Đốc, nơi chúng tôi tập trung nghiên cứu trong thời gian qua cũng như những khu vực cảng cá
khác. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu điền dã tại địa phương, diễn ngôn về gia đình và sự
đổ vỡ gia đình cũng là một đề tài mà rất nhiều người quan tâm. Ở bất cứ xóm chài nào, người ta
cũng bắt gặp những câu chuyện được coi là trái thuần phong mỹ tục của người Việt về tình
trạng chung thủy của vợ chồng. Điều đáng chú ý ở địa phương là nghề ngư phủ có tính chọn lọc
tuyệt đối về giới tính và tương đối về tuổi tác. Những người đi biển hoàn toàn là những người
đàn ông trong độ tuổi sung sức nhất. Gia đình các ngư phủ luôn luôn thiếu vắng một người
chồng, người cha ở nhà. Vì thế, việc giáo dục con cái cũng như chăm lo đời sống gia đình đang
đặt ra một thách thức khá lớn.
Những rủi ro kể trên của người dân ở khu vực cửa biển có thể còn nhiều hơn nếu có
những nghiên cứu sâu hơn. Tuy nhiên, những điều này không thể đủ sức để kéo người ta xa rời
biển cả. Biển cả rủi ro nhưng cũng mang lại cho người dân những nguồn lợi lớn. Có thể kết
luận không quá hồ đồ rằng Sông Đốc hay những vùng cảng cá có đời sống kinh tế phát triển
hơn những vùng xung quanh. Mặc dù ngư trường hiện nay có nhiều biến động, nhưng người
dân ngày càng chủ động hơn đối với việc đánh bắt. Họ đóng những con tàu có kích thước lớn
hơn, phương tiện kĩ thuật tiên tiến hơn dẫn tới điều kiện an toàn hơn xưa rất nhiều. Nhưng
không vì thế mà rủi ro được giảm thiểu. Người dân ở các cảng cá vẫn coi họ đang làm nghề hạ
bạc, nghề được cho là thấp kém và có nhiều nguy hiểm.
Hiện nay, người dân địa phương gọi những ngư phủ trẻ là những Việt kiều biển để ám chỉ
ngư phủ sẵn sàng tiêu hết tiền họ kiếm được vào các dịch vụ ăn chơi sau mỗi chuyến đi biển.
Có thể nói, một số ngư phủ trẻ đang rơi vào tâm lí sống vội khi nghề nghiệp của họ là rủi ro, bất
trắc. Những ngày làm việc ở ngoài khơi, những ngư phủ phải sống bó buộc trên chiếc tàu nhỏ
hẹp, thiếu thốn đủ thứ. Khi trở về đất liền, họ muốn bù lại quãng thời gian trên biển bằng cách
sống gấp và tiêu xài những gì mình có được sau chuyến đi tại các quán xá. Tại các vùng cảng
127
Dưới góc độ xã hội, đô thị cảng cá tập trung một số ngành nghề nhất định, không có tính
đa dạng. Vì thế, sự thăng trầm của nghề này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự hưng thịnh của đô thị
này. Hơn nữa, vấn đề lớn nhất ở các đô thị này nơi tiếp nhận các luồng di dân ở khắp các nơi
trong cả nước. Do vậy, đô thị cảng cá là vùng tứ chiến, ít có những kết nối về mặt văn hóa.
Việc thúc đẩy các loại hình văn hóa phù hợp với ngư nghiệp sẽ là mối dây kết nối mọi người
với nhau. Đa số những vùng cảng cá đều là vùng trũng về giáo dục. Việc con em ngư dân bỏ
nghề để đi biển cũng đang là vấn đề hết sức nan giải. Nhiều bậc phụ huynh do công việc bận
rộn không chú trọng đến việc giáo dục con cái. Vì thế, trẻ em bỏ học sớm thường xảy ra. Mặt
khác, những vùng cảng cá, mặc dù là khu vực kinh tế sầm uất trong vài năm trở lại đây song
thường là những vùng sâu, vùng xa trong việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng.
Từ những điều trên đây, có thể rút ra một kết luận: Khi xây dựng các đô thị cảng cá, cần
phải đầu tư có trọng điểm. Đảm báo có những đô thị mang tính chất vùng chứ không cần thiết
phải xây dựng đô thị theo từng địa phương ở cấp huyện hay cấp tỉnh. Việc xây dựng các đô thị
cảng cá không phải là việc làm của riêng ngành thủy sản hay Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn mà phải là một việc liên ngành, trong đó không thể thiếu vai trò của ngành xây dựng,
kiến trúc. Đô thị cảng cá gắn liền với việc vận chuyển thủy hải sản nên thường là nơi hội tụ của
nhiều loại hình vận chuyển và giao thông. Việc biến các cảng cá thành các đô thị thông qua
128
Tạp chí Khoa học Đại học Thủ Dầu Một
Số 4(39)-2018
việc tụ cư và phát triển kinh tế là chưa đủ. Xét về mặt địa lí, đô thị cảng cá thuận lợi cho tàu bè
đánh cá và là nơi tập trung đầu mối giao thông và phát triển cả giao thông đượng bộ, đường
hàng không và cả đường sắt nếu cần. Mỗi tỉnh đều xây dựng đô thị cảng cá là quá dàn trải,
không tập trung được nguồn lực mạnh. Cần xây dựng các đô thị cảng cá cấp vùng và mạng lưới
giao thông kết nối với các cảng cá thì phù hợp hơn là việc để tự phát các cảng cá thành đô thị.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
30/2009/QH12, ngày 17/6/2009.
[18]. Ruddle, K. (1998). Traditional Community-Based Coastal Marine Fisheries Management in
Viet Nam. Ocean & Coastal Management 40, 1–22.
[19]. Viện nghiên cứu Văn hóa (10/2017). Kỷ yếu Hội thảo Văn hóa biển Trung bộ trong xã hội
đương đại.
[20]. Visser, L. E. (2004). Challenging Coasts: Transdisciplinary Excursions into Integrated Coastal
Zone Development, Amsterdam: Amsterdam Univ. Press.
129