MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...........................................................................................................7
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM NGUYÊN TẮC
TRANH TỤNG TRONG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ.........................13
1.1. Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử các vụ án hình sự..........................13
1.2. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong
xét xử các vụ án hình sự..............................................................................15
1.3. Các vấn đề về bảo đảm của nguyên tắc tranh tụng trong xét xử các vụ
án hình sự.................................................................................................... 18
Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG
TRONG XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THỰC TIỄN THỰC HIỆN
TỈNH ĐĂK NÔNG.........................................................................................32
2.1 Thực trạng quy định của pháp luật tố tụng hình sự về bảo đảm nguyên
tắc tranh tụng trong xét xử các vụ án hình sự............................................. 32
2.2 Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về
nguyên tắc tranh tụng trong xét xử các vụ án hình sự tại Đăk Nông..........35
2.3 Đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự
về nguyên tắc tranh tụng trong xét xử các vụ án hình sự tại Đăk Nông.....37
2.4. Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại............................................. 45
Chương 3 HOÀN THIỆN CÁC BẢO ĐẢM CỦA NGUYÊN TẮC TRANH
TỤNG TRONG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ....................................... 47
3.1 Hoàn thiện các bảo đảm của nguyên tắc tranh tụng trong xét xử các vụ
án hình sự.................................................................................................... 47
3.2 Hai nhóm giải pháp nhằm nâng cao hoạt động tranh tụng tại tòa án....54
3.3. Các bảo đảm khác................................................................................ 63
KẾT LUẬN.....................................................................................................68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................ 70
1
NQ
Nghị quyết
QH
Quốc hội
TTHS
Tố tụng hình sự
TW
Trung ương
VKS
Viện Kiểm sát
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, tình hình vi phạm pháp luật, tội phạm và các
tranh chấp xảy ra có xu hướng tăng lên và có diễn biến phức tạp hơn trước.
Mặc dù vậy, với đội ngũ cán bộ có phẩm chất chính trị vững vàng, có tinh
thần trách nhiệm cao nên công tác tư pháp đã có được nhiều kết quả tích cực,
góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội, bảo vệ lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Bên cạnh những thành
cạnh đó, cũng cần phải bảo đảm được sự thuận tiện, sự tham gia, giám sát của
người dân. Nghị quyết tiếp tục khẳng định rằng: Chất lượng tranh tụng tại các
phiên toà xét xử phải được bảo đảm. Kết quả tranh tụng tại toà chính là căn cứ
quan trọng để tòa án đưa ra phán quyết, đây là khâu đột phá để nâng cao chất
lượng hoạt động tư pháp; mở rộng thẩm quyền xét xử của toà đối với tất cả
các loại khiếu kiện hành chính”[4].
Tuy vậy, với tình hình trong nước và quốc tế có sự biến động không
ngừng, Bộ chính trị lại tiếp tục ban hành Nghị quyết 49/NQ-TW vào ngày
02/6/2005. Nghị quyết nhằm chỉ ra phương hướng và nhiệm vụ đối với công
tác tư pháp trong tình hình mới. Theo đó, một trong những nhiệm vụ chính là
“Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các cơ quan, đơn vị thực
hiện công tác tư pháp cũng như các cá nhân thực hiện công tác này. Bên cạnh
đó, cũng cần tiếp tục chú trọng việc hoàn thiện bộ máy của các cơ quan tư
pháp, nhất là tòa án nhân dân”. Khâu đột phá của hoạt động tư pháp được
thực hiện thông qua đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử bảo đảm tính công
khai, dân chủ, nghiêm minh và chất lượng [5].
Việc phán quyết của Toà án trước hết phải tuân thủ theo quy định của
pháp luật. Sự thật vụ án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, bảo
đảm xét xử đúng đối tượng, đúng mức độ, loại hình vi phạm. Trong thực tế,
nguyên tắc tranh tụng trong Tố tụng hình sự đã được ghi nhận và được quy
định trong Hiến pháp, luật pháp, nhưng vẫn chưa hoàn toàn bảo đảm được
quyền lợi của bên nguyên đơn, bị đơn và những người tham gia tố tụng khác.
Để xảy ra tình trạng trên xuất phát bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Một
trong nhiều nguyên nhân đáng chú ý là trong Tố tụng hình sự, các chủ thể
tham gia tố tụng chưa nhận thức đầy đủ và chấp hành nghiêm các quy định
của pháp luật về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng.
Trong xu hướng xây dựng nền tư pháp hiện đại, đáp ứng nhu cầu hội
nhập quốc tế thì việc bảo vệ tối đa quyền con người và quyền công dân luôn
thêm những công trình nghiên cứu về việc thực hiện công tác tư pháp ở các
địa phương cụ thể. Thông qua đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Bảo đảm nguyên
tắc tranh tụng trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân từ thực tiễn tỉnh
Đăk Nông” để nghiên cứu nhằm góp phần hoàn thiện hơn về mặt lý luận cũng
như về tính thực tiễn của các quy định có liên quan đến công tác tư pháp trong
bối cảnh hiện nay.
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước khi chọn đề tài này, bản thân đã có thời gian làm công tác xét xử
và nghiên cứu qua nhiều bài viết, công trình nghiên cứu của các nhà nghiên
cứu pháp lý đã được công bố như các bài viết đăng trên Tạp chí khoa học
pháp lý, tạp chí Viện kiểm sát, tạp chí Tòa án nhân dân: “ Cải cách tư pháp và
các giải pháp phòng, chống oan, sai trong tố tụng hình sự” của tác giả TS.
Trịnh Tiến Việt năm 2012 [20]; “Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam – Những
vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Thái Phúc năm 2007 [8];
“Phương hướng hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả
Phạm Hồng Hải năm 2009 [7]; “Phương hướng hoàn thiện mô hình tố tụng
hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Đức Mai năm 2009; “Những nội dung
mới trong Bộ luật tố tụng hình sự” sách chuyên khảo của PGS.TS Nguyễn
Hòa Bình làm chủ biên [2].
Mặc dù các công trình nghiên cứu mà chúng tôi được tiếp cận đều
nghiên cứu dưới góc độ vĩ mô, nhưng thông qua đó, tạo nền tảng để chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài luận văn này. Thông qua các phương pháp so
sánh, phân tích, đánh giá những khiếm khuyết trong quá trình áp dụng thực
tiễn theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam chúng tôi thực hiện các nội
dung trong khuôn khổ đề tài “Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong hoạt động
xét xử của Tòa án nhân dân từ thực tiễn tỉnh Đăk Nông”. Từ việc nghiên cứu,
lý luận kết hợp với thực tiễn tại địa phương, chúng tôi đề xuất một số giải
pháp với mong muốn góp phần hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về các
bàn tỉnh Đăk Nông theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam.
Nghiên cứu được tiến hành từ khi Bộ luật tố tụng hình sự được ban
hành đến nay, cụ thể là trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến 2018.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu này, phương pháp luận được dựa trên những
cơ sở gồm: chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, nghị
quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam và Hiến pháp, pháp luật của nhà nước.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều phương
pháp nghiên cứu khác nhau gồm: phương pháp lịch sử - hệ thống, phương
pháp thống kê - phân tích, phương pháp tổng hợp - so sánh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận, luận văn được thực hiện với mong muốn góp phần bổ
sung lý luận về cải cách tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử; bổ sung
hoàn thiện lý luận về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong hoạt động xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự của Toà án nhân dân.
Về mặt thực tiễn, luận văn nhằm góp phần chỉ ra hạn chế trong các quy
định của pháp luật thông qua nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật tại địa
bàn nghiên cứu. Qua đó, tác giả đề xuất xây dựng những giải pháp nhằm góp
phần nâng cao tính hiệu quả của pháp luật khi áp dụng vào thực tiễn.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của
nghiên cứu được chia thành các phần cụ thể gồm:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng
trong xét xử trong các vụ án hình sự.
Chương 2. Thực trạng bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử của
Tòa án nhân dân từ thực tiễn tỉnh Đăk Nông.
xét xử có trách nhiệm xem xét mọi chứng cứ để xác định có tội hoặc vô tội,
tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Thông qua các chứng
cứ, tình tiết có liên quan, áp dụng Bộ luật hình sự để xác định tội danh, quyết
định mức hình phạt, mức bồi thường để khắc phục hậu quả cho người bị hại.
Có thể nói, thông qua Hiến pháp sửa đổi năm 2013, lần đầu tiên trong
lịch sử lập hiến, nguyên tắc tranh tụng được ghi nhận. Đây chính là tư tưởng
là nền tảng cho những những quy định của pháp luật và thực thi pháp luật.
Trong Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, nguyên tắc tranh tụng được cụ thể
hoá ra sao? Phạm vi điều chỉnh như thế nào? Có những nội dung nào trong
nguyên tắc này?...là những vấn đề đã và đang được các nhà khoa học, nhà
nghiên cứu, nhà làm luật và các cơ quan hữu quan tìm hiểu xây dựng để ngày
càng hoàn thiện hơn.
Theo quy định pháp luật của nước ta hiện nay, nguyên tắc tranh tụng về
cơ bản bao gồm nội dung chủ yếu sau:
Trong hoạt động xét xử, trọng tâm là tranh tụng. Vai trò của Hội đồng
xét xử là phải bảo đảm và không hạn chế thời gian tranh tụng giữa Kiểm sát
viên với những người tham gia tố tụng khác.
Các bên tham gia tranh tụng có sự bình đẳng với nhau về đưa bằng
chứng, chứng cứ, các quan điểm, luận cứ và luận chứng của mình. Sự bình
đẳng còn được thể hiện trong đối đáp hay tranh luận, trong chứng minh hay
bác bỏ quan điểm giữa các bên tham gia tranh tụng với nhau. Quá trình diễn
ra tranh tụng phải gắn với tinh thần thượng tôn pháp luật, giữa các bên có sự
tôn trọng lẫn nhau, cũng như văn hoá ứng xử tại phiên tòa.
Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu chứng cứ, đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, phải căn cứ vào kết quả tranh tụng
tại phiên toà để đưa ra bản án và quyết định cuối cùng. Trách nhiệm bảo đảm
các điều kiện theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thuộc về Hội đồng xét
xử, để các bên có thể tham gia tranh tụng.
xử, tòa án có vai trò bảo đảm sự bình đẳng của các bên tham gia tranh tụng.
Người giữ vai trò Thẩm phán, Hội thẩm độc lập và thực hiện nhiệm vụ của
mình chỉ tuân theo các quy định pháp luật. Các phán quyết phải căn cứ vào
kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các bản án cần phải đúng với quy định, thuyết
phục và trong thời gian quy định của pháp luật. Một trong những hoạt động
đột phá của các cơ quan tư pháp theo yêu cầu của Đảng và Nhà nước là phải
nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, chất lượng tranh tụng
tại tất cả các phiên tòa xét xử theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày
02/6/2005 của Bộ chính trị và Nghị quyết số 37/NQ-QH13 ngày 23/11/2012.
Qua đó cho thấy khái niệm tranh tụng xuất hiện chính thức qua các
Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp. Khái niệm này cũng đã được đưa
vào trong quy định của Hiến pháp từ năm 2013. Ở đây hoạt động tranh luận
của KSV và những người tham gia tố tụng tại phiên toà xét xử vụ án hình sự
(gồm cả sơ thẩm và phúc thẩm) là tranh tụng. Trong đó, KSV và người tham
gia tố tụng dựa trên các quy định của pháp luật, qua các chứng cứ, với tư duy
logic hình thức để xây dựng nên các luận điểm, luận cứ và luận chứng nhằm
đưa vụ án về đúng với sự thật khách quan của nó.
Từ những phân tích, trình bày ở trên cho thấy, bản chất của khái niệm
“tranh tụng” được nhìn dưới hai góc độ pháp lý và nhận thức. Bản chất của
tranh tụng dưới góc độ pháp lý bao gồm:
Tranh tụng được thực hiện bởi sự tham gia của Kiểm sát viên và người
tham gia tố tụng khác, phải tuân theo các quy định của Bộ luật TTHS. Các
bên tham gia tranh tụng ở những vai trò khác nhau nhưng bình đẳng với nhau
trong việc thực hiện các hoạt động nhằm đưa vụ án kết thúc. Kiểm sát viên có
thể tranh tụng với luật sư, với người phạm tội, người bị hại và những người
tham gia tố tụng khác để làm sáng tỏ mục đích của người tham gia tranh tụng.
Trong quá trình diễn ra hoạt động tranh tụng tại phiên toà, chủ toạ
phiên toà có quyền có quyền yêu cầu các bên tiến hành tranh tụng hoặc chấm
trước hết trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị.
Kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các chứng cứ và ý kiến của KSV… được tòa
án lấy làm căn cứ để ra những bản án đúng pháp luật và có sức thuyết phục”.
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020” cũng đã đề ra yêu cầu: “Nâng cao chất
lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, chất lượng tranh tụng tại tất cả
phiên tòa xét xử. Đây được xem Bộ chính trị xem là hoạt động đột phá của
các cơ quan tư pháp.
Với các Nghị quyết nêu trên cho thấy quan điểm của Đảng coi tranh
tụng là khâu đột phá trong hoạt động xét xử của Tòa án các cấp, nâng cao chất
lượng tranh tụng sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác xét xử, tránh oan
sai và bảo vệ các quyền cơ bản của người bị buộc tội. Yêu cầu bảo đảm
nguyên tắc tranh tụng trong hoạt động tố tụng hình sự thể hiện qua các Nghị
quyết của Đảng là cơ sở để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng và
hoàn thiện các quy định pháp luật về tố tụng hình sự.
Thực hiện các quan điểm chỉ đạo của Đảng, vấn đề bảo đảm nguyên tắc
tranh tụng trong hoạt động tố tụng hình sự đã từng bước thể chế hóa đưa vào
quy định của Hiến pháp và các văn bản pháp luật về tố tụng hình sự, được hệ
thống Tòa án áp dụng vào thực tiễn công tác xét xử từ nhiều năm qua.
Về mặt pháp lý, mặc dù thuật ngữ “tranh tụng” chưa được đề cập chính
thức trong các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể, mới chỉ quy định tại
Chương XXI của Bộ luật TTHS là tranh luận tại phiên tòa, song từ thực tế
hoạt động xét xử các vụ án hình sự có thể hiểu: tranh tụng trong tố tụng hình
sự là tranh luận giữa các bên (bên buộc tội và bên gỡ tội) dựa trên những tài
liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án, làm cơ sở cho
việc ra phán quyết của Tòa án.
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có nhiều quy định bảo đảm tranh
tụng tại phiên tòa như Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người
chứng cứ và người có liên quan được Hội đồng xét xử xác định đầy đủ theo
đúng quy định. Quá trình điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi
sau theo thứ tự hợp lý thuộc về thẩm quyền của Chủ tọa phiên tòa (Khoản 1
Điều 307).
Tại phiên tòa, để có cơ sở thực hiện tranh luận dân chủ, Bộ luật TTHS
năm 2015 đã bổ sung quy định về vai trò và trách nhiệm cũng như các công
việc của Kiểm sát viên phải thực hiện. Các công việc đó phải dựa trên cơ sở
pháp luật, để nhằm giải quyết vụ án có hiệu quả, chính xác nhất.
Đề nghị kết tội, xử lý người phạm tội theo toàn bộ hay một phần nội
dung cáo trạng hoặc đề nghị các mức hình phạt khác nhau, trách nhiệm bồi
thường thiệt hại, xử lý vật chứng.
Kiến nghị cách phòng ngừa tội phạm, hành vi vi phạm pháp luật (Điều
321) và nhấn mạnh trách nhiệm của Kiểm sát viên là phải đưa ra chứng cứ,
lập luận để tranh tụng trong suốt quá trình, trong từng ý kiến của những người
tranh tụng và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa. Khoản 4 Điều 322
quy định rằng trường hợp ý kiến của những người tham gia phiên tòa không
được chấp nhận thì Hội đồng xét xử phải nêu rõ lý do và những lý giải đó
được lưu giữ trong bản án.
Trước đây, mô hình tố tụng hình sự ở nước ta theo quy định của Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2003 chủ yếu là mô hình thiên về xét hỏi. Tranh tụng chỉ
được thể hiện trong quá trình xét xử tại Tòa án giữa Viện kiểm sát và những
người tham gia tố tụng nên kết quả, chất lượng tranh tụng chưa cao. Trong
một số vụ án, việc giải quyết phụ thuộc chủ yếu vào tài liệu, chứng cứ thu
thập được trong quá trình điều tra, dẫn đến việc giải quyết chưa chính xác,
thiếu khách quan, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của những người tham
gia tố tụng, nhiều vụ án, vụ việc đã được giải quyết sau đó đã bị kết luận oan
sai, để lại bài học kinh nghiệm sâu sắc cho ngành Tư pháp.
Trên cơ sở tinh thần cải cách tư pháp mạnh mẽ và cụ thể hóa quan điểm
trong các quy định khác của Bộ luật nhằm tăng cường hiệu quả, chất lượng
tranh tụng trong toàn bộ tiến trình tố tụng vụ án hình sự, bảo đảm quyền con
người, chống oan sai, nhanh chóng xác định sự thật khách quan của vụ án.
Nội dung của nguyên tắc tranh tụng được thể hiện qua một số vấn đề sau:
Một là, nguyên tắc đã khẳng định quá trình tranh tụng được diễn ra
trong suốt quá trình tố tụng vụ án hình sự, được bắt đầu ngay từ giai đoạn
khởi tố, tức là bắt đầu từ khi xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm và
xuyên suốt đến giai đoạn xét xử, bảo đảm cho các bên tham gia tố tụng có đầy
đủ thời gian, điều kiện cần thiết để thu thập, củng cố chứng cứ, hồ sơ, tài liệu
và các tình tiết của vụ án trước khi bước vào cuộc tranh tụng tại phiên tòa xét
xử.
Hai là, về chủ thể tranh tụng, bao gồm hai bên là bên buộc tội (Điều tra
viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng) và bên gỡ
tội (người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bào chữa và người tham gia
tố tụng khác).
Ba là, về mối quan hệ, vị trí giữa các chủ thể thực hiện hoạt động tranh
tụng là bình đẳng. Đây là sự cụ thể hóa nguyên tắc Hiến định mọi người đều
bình đẳng trước pháp luật (Điều 16 Hiến pháp năm 2013), là tiền đề quan
trọng để các chủ thể thực hiện hoạt động tranh tụng bảo vệ quan điểm, quyền
lợi của mình khi tham gia tố tụng. Trong việc đưa ra, đánh giá chứng cứ trước
hết phải thực sự bình đẳng thì mới bảo đảm được chất lượng và hiệu quả cho
quá trình tranh tụng tại tòa án.
Đồng thời, để bảo đảm sự bình đẳng, nguyên tắc này cũng quy định rõ
trách nhiệm của Tòa án trong hoạt động tranh tụng. Tòa án phải đứng ở vị trí
trung gian, độc lập, khách quan, bảo đảm cho hai bên buộc tội và gỡ tội thực
hiện quyền hạn, chức năng của mình. Bảo đảm cho người có vai trò công tố
viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện
đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh luận dân chủ trước Tòa án là trách
nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng
sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.
Ở một số nước phát triển, tranh tụng và nguyên tắc tranh tụng đã có và
được thừa nhận từ rất lâu. Tuy nhiên, cho đến trước năm 2013 thì vấn đề này
chưa được tiến hành nghiên cứu sâu, trong các văn bản pháp lý chính thức của
Nhà nước cũng chưa được thừa nhận. Sự thừa nhận mang tính sơ khai đầu
tiên về tranh tụng ở Việt Nam trong các văn bản chính thức của Đảng đó
chính là Nghị quyết 08/2002/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 01/01/2002 về
một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, xác
định“…việc phán quyết của tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng
tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của
kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo …để ra những bản án, quyết định đúng
pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định” . Yêu cầu
nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp và chất lượng tranh
tụng lại tiếp tục được thể hiện trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày
02/6/2005 của Bộ Chính trị.
Tranh tụng được coi là khâu đột phá trong hoạt động xét xử, chất lượng
xét xử được nâng cao thông qua hiệu quả của tranh tụng. Thông qua đó, giảm
thiểu tình trạng oan sai đối với người bị buộc tội và bảo vệ các quyền con
người cơ bản của họ. Nguyên tắc tranh tụng được thừa nhận chính thức thông
qua bản Hiến pháp mới của Việt Nam vào năm 2013. Có thể xem định hướng
chỉ đạo cho việc tiếp tục quy định nguyên tắc tranh tụng trong bộ luật TTHS
đã được quy định tại khoản 5 Điều 103 của Hiến pháp.
Nguyên tắc tranh tụng được thể hiện tại Điều 26, Bộ luật TTHS 2015
như sau: Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm
sát viên, người bị buộc tội, người bào chữa và những người tham gia tố tụng
khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ,
đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án.
Tuy nhiên, nếu xem tranh luận tại phiên tòa là tranh tụng thì nó đã phủ nhận
các quy định về quyền được tranh tụng giữa các bên tham gia tranh tụng trước
và cả sau phiên tòa.
Còn nếu coi tranh tụng bắt đầu cùng với tố tụng hình sự thì sự phù hợp
cua quan điểm này cũng chưa đạt được. Bởi lẽ, tranh tụng chỉ xuất hiện khi có
sự đối lập về quan điểm giữa một bên là buộc tội và một bên là bị buộc tội.
Theo Điều 26 BLTTHS năm 2015, tranh tụng được xác định cả trong giai
đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Quá trình tranh tụng có sự tham gia của
người làm công tác điều tra, kiểm sát, người bị buộc tội, người bào chữa và
những người khác. Đây là điểm mới, bổ sung những điểm còn thiếu trong
Hiến pháp 2013 khi chỉ quy định “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được
bảo đảm”.
Thứ hai, về chủ thể tham gia tranh tụng, bên buộc tội khi tranh tụng
gồm cơ quan điều tra trực tiếp là Điều tra viên và Viện kiểm sát, trong đó trực
tiếp nhất là Kiểm sát viên. Và bên bào chữa khi tranh tụng gồm bị can, bị cáo
và người bào chữa.
Như vậy, quá trình tranh tụng được bảo đảm khi tố tụng hình sự được
phân chia thành ba phần gồm: buộc tội, bào chữa và xét xử. Trong quá trình
tranh tụng, Tòa án có nhiệm vụ là “trọng tài” xem xét quá trình tranh tụng của
các bên. Tuy nhiên, theo quy định của bộ luật TTHS hiện hành, tòa án lại
quyền khởi tố vụ án khi xét thấy có việc bỏ lọt tội phạm lại không bảo đảm
nguyên tắc này trong tố tụng hình sự.
Điều 26 BLTTHS năm 2015 còn cho thấy, đã có quy định rất rõ các bên
tiến hành tranh tụng trong tố tụng hình sự đó là các bên tham gia tranh tụng,
tố tụng đều có quyền bình đẳng trong việc làm rõ sự thật khách quan của vụ
án”. Qua đó, trong quan hệ tranh tụng tại vụ án hình sự, vị trí, vai trò của các
bên tham gia đã được xác định cụ thể.
Thứ ba, về nội dung của hoạt động tranh tụng, nó bao gồm những nội
phiên tòa xét xử các vụ án hình sự… Tòa án nhân dân tối cao chỉ đạo các Tòa
án tiếp tục đẩy mạnh hoạt động tranh tụng tại phiên tòa”. Nghị quyết số
63/2013/QH13 ngày 27/11/2013 của Quốc hội tiếp tục yêu cầu nâng cao chất
lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa thông qua việc xét hỏi, luận
tội và phản hồi ý kiến của những người tham gia tố tụng.
Khái niệm tranh tụng xuất hiện đầu tiên từ các Nghị quyết của Đảng và
tiếp tục được cụ thể hóa trong điều khoản của Hiến pháp 2013. Tranh tụng
thực chất là quá trình tranh luận của những người tham gia trong hoạt động tố
tụng tại phiên toà xét xử vụ án hình sự. Tranh tụng được các bên tham gia
thực hiện dựa trên các tài liệu, chứng cứ; các quy định của pháp luật; trên cơ
sở tư duy logic hình thức để đưa ra các luận điểm, luận cứ và luận chứng
nhằm làm rõ sự thật của vụ án.
Dưới góc độ pháp lý, tranh tụng có bản chất như sau:
Trong tố tụng hình sự, tranh tụng là một hoạt động bắt buộc, phải tuân
theo Hiến pháp và pháp luật.
Kiểm sát viên và người tham gia tố tụng khác là các bên tham gia tranh
tụng. Các chủ thể này bình đẳng với nhau trong tất cả mọi lĩnh vực như:
quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, yêu cầu, quan điểm về giải quyết vụ án, vị trí
chỗ ngồi trong phòng xét xử. Sự thật khách quan được tìm ra dựa vào sự tranh
luận giữa người của viện kiểm sát với với bị cáo, người bị hại và những người
tham gia tố tụng khác.
Hoạt động tranh tụng tại phiên tòa diễn ra dưới sự điều khiển của Thẩm
phán chủ toạ phiên toà. Thẩm phán Chủ tọa phiên toà có quyền yêu cầu các
bên phát biểu quan điểm và đối đáp đáp với nhau, điều chỉnh nội dung các
vấn đề các bên đối đáp cho phù hợp với các quy định của pháp luật nhằm làm
rõ sự thật khách quan và các vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án.
Đối tượng của hoạt động tranh tụng là các quan điểm, chứng cứ và lập
luận của các bên là Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác ra