Luận văn thạc sĩ giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ tỉnh ninh bình đến năm 2025 - Pdf 58

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHUNG
VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG
NGHỆ...............................................................................................................9
1.1. Các khái niệm chung về khoa học và công nghệ...............................9
1.2. Khái niệm quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ..................16
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động Khoa học và Công nghệ
. 20
1.4.Cơ sở lý luận trong quản lý nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ...20
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC HOẠT ĐỘNG
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH
GIAI ĐOẠN 2014-2018.................................................................................25
2.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và yêu cầu đối với quản lý
hoạt động khoa học và công nghệ tỉnh Ninh Bình..................................25
2.2. Công tác quản lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ giai
đoạn 2014-2018.......................................................................................27
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI TỈNH
NINH BÌNH...................................................................................................56
3.1. Bối cảnh sắp tới và những vấn đề đặt ra đối với quản lý nhà nước
hoạt động Khoa học và Công nghệ tỉnh Ninh Bình................................56
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động Khoa học và
Công nghệ tại tỉnhNinh Bình...................................................................58
KẾT LUẬN....................................................................................................68
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................71


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CN


KHKT&CN

Khoa học kỹ thuật và công nghệ

KHXH&NV

Khoa học xã hội và nhân văn

KT-XH

Kinh tế-xã hội

NC&PT

Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

NCKH

Nghiên cứu khoa học

NN&PTNT

Nông nghiệp và phát triển nông thôn

PTĐ

Phương tiện đo

SXKD


DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1. Tình hình triển khai các nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh giai đoạn
2014 -2018.......................................................................................................34
Biểu đồ 2.2. Tình hình thu hút đầu tư dự án đổi mới công nghệ trên địa bàn
tỉnh đến hết năm 2018.....................................................................................38
Biểu đồ 2.3. Tình hình triển khai hướng dẫn tổ chức, cá nhân xác lập bảo
vệ quyền sở hữu công nghiệp giai đoạn 2014 – 2018....................................44
Biểu đồ 2.4. Tổng hợp công tác kiểm định từ năm 2014-2018.......................49


MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài

Cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI, nhân loại tiến hành cuộc cách mạng khoa học
và công nghệ hiện đại với đặc trưng là sự xuất hiện và phát triển nhanh chóng công
nghệ cao. Đây là các công nghệ dựa vào những thành tựu khoa học mới, với hàm
lượng tri thức cao. Bốn công nghệ trụ cột, có tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến phát
triển kinh tế - xã hội là: Công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, công nghệ năng
lượng, công nghệ thông tin. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã làm
xuất hiện nhiều ngành mới, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, tạo ra
những bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ.
Cùng với quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh mới,
khi KH&CN và đổi mới sáng tạo trở thành đòn bẩy cho công cuộc tái cấu trúc kinh
tế, đổi mới mô hình tăng trưởng để phát triển đất nước nhanh và bền vững.
Trong thời gian qua, ở nước ta, công tác quản lý nhà nước về hoạt động
KH&CN đã có những đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng cường

giống lúa trong nước là bằng chứng rõ nhất về những thách thức của nền
KH&CN Việt Nam cho dù các giống lúa do các nhà khoa học Việt Nam tạo ra
không thua kém gì về chất lượng. Đây là một thách thức rất lớn của không chỉ
riêng ngành khoa học và công nghệ.
Hiện nay, các sản phẩm khoa học công nghệ Việt Nam, dù đã được cải
tiến và đổi mới nhiều, song phần lớn vẫn sử dụng những công nghệ cũ, lạc hậu.
Việc đổi mới công nghệ so với mặt bằng chung vẫn còn chậm. Trong điều kiện
nền kinh tế còn nhiều khó khăn, việc đầu tư vào nghiên cứu và đổi mới công
nghệ bị hạn chế khiến cho các sản phẩm khoa học và công nghệ vẫn bị tụt hậu so
với thế giới, làm giảm năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực này. Mặt khác việc đổi
mới công nghệ không chỉ đơn giản là thay máy cũ bằng máy mới mà còn phải
đổi mới cả một hệ thống quản lý cũng như nguồn nhân lực chất lượng cao đi kèm
mà những điều này vẫn còn thiếu và yếu. Chiến lược phát triển KH&CN Việt
Nam đến 2020 đã đặt ra yêu cầu tốc độ đổi mới công nghệ phải đạt 15-20% mỗi
năm, nghĩa là sau khoảng 5 năm các doanh nghiệp Việt Nam phải đổi mới được
một thế hệ công nghệ. Thực tế, đây là con số quá cao nhưng mặt khác cũng lại
được coi là quá thấp đối với khoa học và công nghệ Việt Nam.
Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Bình đến năm 2020, tầm
nhìn đến năm 2025 là đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ
trọng công nghiệp và dịch vụ, phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi
nhọn, giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) khoảng 8,5%/năm trên cơ sở
nâng cao chất lượng, tạo thương hiệu đối với sản phẩm du lịch và hàng công


nghiệp chủ lực; tập trung nguồn lực sớm hoàn thành mục tiêu xây dựng nông
thôn mới của giai đoạn và ổn định đồng thời 3 vấn đề nông nghiệp, nông dân và
nông thôn. Để hoạt động KHCN phát triển thì cần có sự phát triển toàn diện về
kinh tế, văn hóa xã hội; Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực
KH&CN; Nâng cao ý thức, trách nhiệm, tinh thần, thái độ phục vụ của công
chức, viên chức, nhằm phục vụ người dân, tổ chức, doanh nghiệp tốt hơn. Giữ

- Đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học và công nghệ của tỉnh còn thiếu các chuyên
gia giỏi, chuyên gia đầu ngành có khả năng tập hợp và giải quyết những vấn đề trọng
tâm mang tính chiến lược của địa phương.
- Các Hội đồng tư vấn chuyên ngành về KH&CN chưa thực hiện khách quan, còn
thiên về động viên, khuyến khích hoặc nể nang, nên hiệu quả thực hiện các khâu còn
chưa cao, chưa thể hiện rõ được vai trò của khoa học với thực tiễn yêu cầu
- Trong quá trình kiểm tra tiến độ thực hiện nhiệm vụ KHCN còn có hiện tượng nể
nang, chưa kiên quyết nên dẫn đến một số trường hợp phải gia hạn kéo dài thời gian
thực hiện hợp đồng.
Để phân tích rõ các hạn chế trên, qua đó đề xuất các giải pháp nâng cao công
tác quản lý nhà nước về hoạt động KH&CN cấp tỉnh có sử dụng ngân sách nhà nước
tại tỉnh Ninh Bình, rất cần thiết thực hiện đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản
lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ Tỉnh Ninh Bình đến năm 2025”.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ
KH&CN đã được các nhà khoa học nghiên cứu, ở các nhiệm vụ khác nhau và đã có
các công trình nghiên cứu ở cấp độ quốc gia:
-“Đổi mới cơ chế, chính sách phát triển KH&CN địa phương thời gian qua và
những định hướng cho thời gian tới”- TS. Hồ Ngọc Luật, Tạp chí chính sách và quản
lý KH&CN, số 1, Hà Nội, 2012…
-"Nghiên cứu một số giải pháp thúc đẩy chuyển giao công nghệ ở địa phương"
- TS. Hoàng Xuân Long, 2006.
-"Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ" -TS. Lê Đăng Doanh (NXB
Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội, 2003);
- “Tác động của cơ chế, chính sách công đến việc khuyến khích doanh nghiệp đầu tư
vào khoa học và công nghệ” – Nguyễn Việt Hoà, 2007;
- Nguyễn Hữu Xuyên, Nguyễn Đình Bình (2014), Đẩy mạnh hoạt động đổi mới công
nghệ trong các doanh nghiệp ngành công nghiệp hỗ trợ điện tử Việt Nam, Tạp chí
Kinh tế và Phát triển; Số 209 (2), tháng 11/2014.

quá trình nghiên cứu đổi mới công tác quản lý các hoạt động KH&CN nói chung và
nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh sử dụng ngân sách nhà nước tại tỉnh Ninh Bình.


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý nhà nước về hoạt động KH&CN
cấp tỉnh trong đó tập trung vào các hoạt động có sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn
sự nghiệp khoa học và công nghệ tỉnh Ninh Bình phục vụ cho phát triển khoa học và
công nghệ nói riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung đến năm 2025.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động KH&CN, cơ sở lý luận quản lý nhà nước
hoạt động KH&CN, cơ sở lý luận hiệu quả hoạt động KH&CN, phân tích các bài học
kinh nghiệm về quản lý hoạt động KH&CN.
- Đánh giá được thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về hoạt động khoa học và công
nghệ Tỉnh Ninh Bình, phân tích những bất cập trong cơ chế quản lý nhiệm vụ
KH&CN cấp tỉnh; Sở hữu trí tuệ; Hoạt động đổi mới nghệ; Hoạt động tiêu chuẩn đo
lường chất lượng ...
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước hoạt động KH&CN cấp
tỉnh và cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đến năm 2025.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu: Các chủ trương, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật
về hoạt động KH&CN.
4.2. Phạm vi và thời gian nghiên cứu
- Công tác quản lý nhà nước hoạt động KH&CN của tỉnh Ninh Bình như: hoạt động
quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ; tiêu chuẩn đo lường chất lượng; sở hữu trí
tuệ; sáng kiến cải tiến kỹ thuật; an toàn bức xạ và hạt nhân...
- Thời gian nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá hoạt động quản lý nhà

thức về quản lý nhà nước hoạt động KH&CN tại tỉnh Ninh Bình.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề xuất các giải pháp đổi mới công tác quản lý nhà nước hoạt động KH&CN
của tỉnh Ninh Bình góp phần phát huy và nâng cao hiệu quả đóng góp các hoạt động
KH&CN vào thực tiễn, góp phần phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh:
- Đối với nhà quản lý lĩnh vực KH&CN: đề tài là tài liệu tham khảo để các nhà quản lý
nghiên cứu áp dụng cụ thể hoá các chính sách về quản lý hoạt động KH&CN góp
phần phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh.
- Đối với người lao động: đề tài liệu tham khảo về cơ chế chính sách áp dụng thực hiện
hoạt động khoa học và công nghệ.
7. Kết cấu của luận văn

Phần Mở đầu.
Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn chung về quản lý nhà nước hoạt
động Khoa học và Công nghệ.


Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước hoạt động Khoa học và Công
nghệ cấp tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2014-2018.
Chương 3: Giải pháp đổi mới quản lý nhà nước hoạt động Khoa học và Công
nghệ tỉnh Ninh Bình đến năm 2025.
Phần Kết luận.
Danh mục tài liệu tham khảo.


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHUNG
VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Trình bày những vấn đề lý luận cơ bản và các quy định của nhà nước về quản
lý hoạt động khoa học và công nghệ. Có nhiều lý luận liên quan tới quản lý hoạt động

thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp
dịch vụ.
Theo Luật chuyển giao công nghệ của Việt Nam (2017), công nghệ là giải pháp,
quy trình, bí quyết có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn
lực thành sản phẩm. Các thành phần công nghệ gồm các yếu tố: Kỹ thuật (Technoware),
Con người (Humanware), Thông tin (Inforware) và Tổ chức (Organware).
Theo Luật Chuyển giao công nghệ: “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí
quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn
lực thành sản phẩm” (Điều 3.2, Luật CGCN). Khái niệm công nghệ của Luật CGCN,
cũng trùng với khái niệm công nghệ, nêu tại Điều 3.2, Luật KH&CN năm 2013.
Công nghệ bao gồm phần cứng (công cụ, phương tiện…) và phần mềm (kỹ năng, bí
quyết, kinh nghiệm…).
1.1.2. Hoạt động khoa học và công nghệ
Hoạt động KH&CN, theo UNESCO, là tất cả các hoạt động có tính hệ thống
liên quan chặt chẽ với sự phát hiện, phát triển, truyền bá và áp dụng kiến thức khoa
học và kỹ thuật trong tất cả các lĩnh vực của KH&CN [UNESCO, 28]. Trong hệ
thống thống kê của UNESCO, hoạt động KH&CN bao gồm:
- Hoạt động nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm (viết tắt là hoạt động
R&D):
+ Nghiên cứu khoa học gồm: Nghiên cứu ứng dụng; Nghiên cứu cơ bản.
+ Triển khai thực nghiệm gồm: Tạo ra vật mẫu, tạo dựng công nghệ mới
(pilot) và sản xuất thử; Chuyển giao công nghệ; Phát triển công nghệ (theo chiều
rộng và theo chiều sâu).
- Hoạt động giáo dục và đào tạo KH&CN.
- Hoạt động dịch vụ KH&CN.
Luật Khoa học và Công nghệ (2013) quy định hoạt động KH&CN bao gồm
nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công
nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt
động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ.
Như vậy, Luật KH&CN 2013 chưa coi hoạt động giáo dục và đào tạo KH&CN

KH&CN);
+ Nghiên cứu ứng dụng là hoạt động nghiên cứu khoa học vận dụng kết quả
nghiên cứu khoa học nhằm tạo ra công nghệ mới, đổi mới công nghệ phục vụ lợi ích
của con người và xã hội (Khoản 6 Điều 3 Luật KH&CN).
Khái niệm hoạt động nghiên cứu khoa học trên đây về cơ bản giống như khái
niệm của UNESCO và OECD về nghiên cứu khoa học, cụ thể: NCKH có thể xác
định là tập hợp toàn bộ các hoạt động có hệ thống và sáng tạo nhằm phát triển kho
tàng kiến thức khoa học và nhằm áp dụng chúng vào thực tiễn. NCKH bao gồm hai
hoạt động kế tiếp nhau: nghiên cứu cơ bản (basic research, pure research,
fundamental research) và nghiên cứu ứng dụng (applied research). Trong đó, nghiên


cứu cơ bản nhằm tìm ra những tri thức khoa học làm nền tảng cho các nghiên cứu cơ
bản hay nghiên cứu ứng dụng khác, nghiên cứu cơ bản có thể xác định là bất kỳ công
tác thực nghiệm hoặc lý thuyết nào được tiến hành nhằm đạt được những kiến thức
mới về các hiện tượng, thực tế quan sát được mà chưa có một nghiên cứu ứng dụng
hoặc vận dụng đặc biệt nào. Nghiên cứu ứng dụng nhằm tìm ra các tri thức khoa học
để giải quyết các vấn đề đặt ra từ nhu cầu thực tế, nghiên cứu ứng dụng được xác
định như là một nghiên cứu đầu tiên được tiến hành nhằm đạt được những kiến thức
mới nhưng chủ yếu có một mục đích hoặc một mục tiêu thực tiễn đặc thù. Giá trị
khoa học của nghiên cứu ứng dụng nằm ở chỗ nghiên cứu đó có thể viết ra thành
những phương pháp chung hoặc bài học cho mọi người cùng dùng, công bố dưới
dạng các ấn phẩm.
1.1.3.2. Phát triển công nghệ
Phát triển công nghệ là hoạt động sử dụng kết quả nghiên cứu cơ bản, nghiên
cứu ứng dụng, thông qua việc triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm để hoàn
thiện công nghệ hiện có, tạo ra công nghệ mới (Khoản 7 Điều 3 Luật KH&CN).
Triển khai thực nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ để tạo ra sản phẩm công nghệ mới ở dạng mẫu (Khoản 8
Điều 3 Luật KH&CN).

có thể trở thành cần thiết nhằm áp dụng các nguyên lý công nghệ nhập cho phù hợp với
điều kiện cụ thể của Việt Nam, hoặc để xác định những phương thức hay phương pháp
mới nhằm khai thác được các tính năng của công nghệ một cách cao nhất và hiệu quả .
Các hoạt động này, theo phương pháp luận thống kê quốc tế, các nước đang phát triển
nên tính vào là các hoạt động triển khai thực nghiệm (Experimental Development), tức
là tính vào các hoạt động R&D [14, tr.44].
Như vậy, so sánh với định nghĩa của UNESCO về “triển khai thực nghiệm”,
khái niệm “Phát triển công nghệ” theo Luật KH&CN 2013, thì khái niệm “Phát triển
công nghệ” theo Luật KH&CN 2013 chỉ bao gồm “hoạt động... để tạo ra sản phẩm,
công nghệ mới ở dạng mẫu” và “hoạt động... nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản
phẩm mới” mà chưa có “hoạt động tạo quy trình sản xuất phù hợp với sản phẩm mẫu,
công nghệ mẫu (prototpye)” cũng như “hoạt động sản xuất thử loạt đầu để xác nhận
độ tin cậy của quy trình công nghệ được tạo dựng trong giai đoạn pilot”. Bên cạnh
đó, khái niệm “Phát triển công nghệ” theo Luật KH&CN 2013 cũng chưa đề cập đến
các hoạt động “Thích nghi công nghệ, cải tiến công nghệ” (Trong hoạt động chuyển
giao công nghệ và phát triển công nghệ) như trong khuyến nghị của UNESCO được
trình bày ở trên.
Những khác biệt về mặt khái niệm trên đây dẫn đến các chính sách hỗ trợ
NC&PT từ ngân sách nhà nước chỉ dừng lại ở công đoạn “triển khai thực nghiệm” và
“sản xuất thử nghiệm” theo Luật KH&CN Việt nam 2013. Do vậy, trong thực tế đời
sống, sản xuất và kinh doanh của Việt Nam, nhiều kết quả nghiên cứu (được hỗ trợ từ


ngân sách nhà nước) chỉ dừng lại lại ở “để tạo ra sản phẩm, công nghệ mới ở dạng mẫu”
hoặc “để hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới” mà chưa được tiếp tục hỗ trợ (từ
ngân sách nhà nước) để “tạo quy trình sản xuất phù hợp với sản phẩm mẫu, công nghệ
mẫu (prototpye)” cũng như “hoạt động sản xuất thử loạt đầu để xác nhận độ tin cậy của
quy trình công nghệ được tạo dựng trong giai đoạn pilot”, chưa nói đến việc dùng ngân
sách nhà nước hỗ trở các hoạt động “Thích nghi công nghệ, cải tiến công nghệ”. Và
những hoạt động kiểu “triển khai thực nghiệm” này lại là những hoạt động rất quan

tư vấn, bí quyết công nghệ; đổi mới sắp xếp lại bộ máy quản lý cho phù hợp với yêu
cầu của công nghệ mới.
Tiêu chí để đánh giá hiệu quả đổi mới công nghệ dựa vào 4 yếu tố tổng quát
đó là (Technology, Human, Information, Organization).
Chính sách thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ được hiểu là tổng thể
các quan điểm, các nguyên tắc, các chuẩn mực, các mục tiêu, các giải pháp và các
công cụ mà Nhà nước sử dụng để thúc đẩy các doanh nghiệp đổi mới công nghệ
nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần phát triển
đất nước.
Các chính sách cụ thể: hoàn thiện quy chế quản lý khoa học công nghệ phù hợp
với hiện trạng phát triển của đơn vị, cải tiến các thủ tục quản lý theo hướng thúc đẩy ứng
dụng các giải pháp khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh, thì cần thúc đẩy hấp
thụ vốn nghiên cứu tập trung, có chính sách ưu đãi vốn vay cho các dự án, các đơn vị
thành viên tiếp cận nhanh với công nghệ mới; Chính sách thuế; Chính sách hỗ trợ trực
tiếp; Chính sách đào tạo; bên cạnh đó có các chính sách phát triển thị trường công nghệ,
hỗ trợ thành lập bộ phận nghiên cứu và triển khai trong doanh nghiệp được thể hiện trong
Quyết định số 214/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án phát
triển thị trường công nghệ; Quyết định số 2075/QĐ-TTg về phê duyệt chương trình phát
triển thị trường khoa học và công nghệ đến năm 2020.
1.1.4. Hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ
Hoạt động Dịch vụ khoa học và công nghệ (DVKH&CN) có thể được định
nghĩa là tập hợp các hoạt động liên quan phục vụ nghiên cứu khoa học và phát triển
công nghệ và góp phần vào việc tạo ra, truyền bá và áp dụng các kiến thức KH&CN.
Hoạt động này bao gồm: hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công
nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, an
toàn bức xạ, hạt nhân và năng lượng nguyên tử; dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo,
bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực
kinh tế - xã hội.
- Các dịch vụ KH&CN của thư viện, lưu trữ, trung tâm thông tin và tư liệu, các đơn vị
tra cứu, trung tâm hội nghị khoa học, ngân hàng dữ liệu và các cơ quan xử lý thông

động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật của Nhà nước đối với các
quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển mối quan
hệ xã hội và trật tự pháp luật, nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà
nước, do các cơ quan trong hệ thống hành chính từ trung ương đến cơ sở.
Quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ là dạng quản lý mà chủ thể quản
lý chính là nhà nước. Trong lĩnh vực KH&CN quản lý nhà nước sử dụng quyền lực
bộ máy hành chính Nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người và các
quan hệ xã hội.


Nhìn chung, quản lý Nhà nước về KH&CN là hoạt động rất rộng, rất phức tạp
và thường bao gồm những nội dung như: hoạch định chiến lược phát triển KH&CN,
kế hoạch và qui hoạch dài hạn, xây dựng chính sách, thể chế cho hoạt động KH&CN,
ban hành các văn bản quy phạm pháp luật KH&CN, sắp xếp tổ chức mạng lưới các
cơ quan khoa học, thực hiện các chương trình nghiên cứu khoa học, quản lý và áp
dụng rộng rãi các thành quả thu được, chuyển giao công nghệ, cùng những hoạt động
về quản lý kinh phí, quản lý nguồn nhân lực KH&CN, quản lý vật tư phục vụ nghiên
cứu khoa học, thông tin KH&CN, hợp tác quốc tế về KH&CN, thanh tra KH&CN và
nhiều nội dung khác nữa.
Tại Việt Nam, Luật Khoa học và công nghệ (2013) cũng quy định những nội dung
của quản lý Nhà nước về KH&CN. Các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước gồm:
- Chính phủ là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất;
- Cơ quan hành chính Nhà nước trực thuộc Chính phủ - các bộ, các cơ quan khác của
Chính phủ;
Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng
quản lý Nhà nước về KH&CN như: các dịch vụ công; phát triển tiềm lực KH&CN;
hoạt động KH&CN; sở hữu trí tuệ năng lượng nguyên tử, an toàn bức xạ và hạt nhân;
tiêu chuẩn đo lường chất lượng.
- Ở địa phương cơ quan hành chính Nhà nước gồm: ủy ban nhân dân các cấp, các sở,
phòng, ban của ủy ban nhân dân.

kể trên được tài trợ, hỗ trợ và thực hiện một phần bởi các tổ chức và cá nhân trong
xã hội, phần tài trợ, hỗ trợ chính còn lại là bắt nguồn từ ngân sách nhà nước. Các cơ
quan có chức năng quản lý nhà nước về KH&CN, một mặt phải làm sao để khuyến
khích, thúc đẩy các tổ chức, các nhân trong xã hội ngày càng đầu tư cho các hoạt
động này, mặt khác phải tổ chức thực hiện đầu tư từ ngân sách nhà nước cho các hoạt
động này một cách hiệu quả: mang lại kết quả cao nhất, huy động thêm sự hỗ trợ, tài
trợ của xã hội góp sức cùng ngân sách nhà nước, bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của
xã hội liên quan đến hoạt động KH&CN... Luận văn này tập trung nghiên cứu những
giải pháp đổi mới liên quan đến nhóm các hoạt động KH&CN cấp tỉnh có sử dụng
ngân sách nhà nước tại tỉnh Ninh Bình.
Nhiệm vụ KH&CN
Nhiệm vụ KH&CN là những vấn đề KH&CN được giải quyết đáp ứng yêu
cầu thực tiễn, phát triển KH&CN, bảo đảm an ninh, quốc phòng, phát triển kinh tế xã hội. Nhiệm vụ KH&CN có thể được thể hiện dưới hình thức Đề tài KH&CN, Đề
án KH&CN, Dự án khoa học, Dự án sản xuất thử nghiệm, Chương trình KH&CN
(Chương trình phát triển KH&CN, Chương trình phục vụ mục tiêu phát triển KTXH,
như: Chương trình Nông nghiệp & PTNT, Chương trình Công nghiệp, Chương trình
KHXH và Nhân văn, Chương trình điều tra cơ bản và Bảo vệ môi trường, ứng phó biến
đổi khí hậu và phát triển bền vững, Chương trình Công nghệ cao,...)


- Đề tài KH&CN là những nhiệm vụ KH&CN có nội dung bao gồm đề tài nghiên cứu
ứng dụng, đề tài nghiên cứu cơ bản, đề tài triển khai thực nghiệm, hoặc kết hợp
nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm; hoạt động khám
phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và
tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn.
- Đề án khoa học là nhiệm vụ KH&CN nhằm xác định cơ sở lý luận và thực tiễn phục
vụ việc xây dựng cơ chế, chính sách, pháp luật.
- Dự án sản xuất thử là nhiệm vụ KH&CN ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và
triển khai thực nghiệm để thử nghiệm các giải pháp, phương pháp, mô hình quản lý kinh
tế - xã hội hoặc sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm

tổ chức của cơ quan chuyên môn về Khoa học và Công nghệ thuộc UBND cấp tỉnh,
cấp huyện. Nhưng do số lượng biên chế ít nên việc phân bổ công chức, viên chức làm
việc tại các phòng, đơn vị trực thuộc còn hạn chế, hiện nay Sở có phòng có từ 01 đến
02 người nên việc triển khai thực hiện nhiệm vụ là rất khó khăn.
Tiềm lực KHCN: giai đoạn 2014 – 2018 do điều kiện ngân sách còn hạn chế
nên việc tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ chưa thực hiện được nhiều,
trong giai đoạn này tỉnh mới bố trí kinh phí cho việc mua một số trang thiết bị phục
vụ cho công tác đo lường, thử nghiệm, ứng dụng khoa học, công nghệ và kinh phí
cho việc sửa chữa trụ sở làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ.
Hệ thống tổ chức và nguồn nhân lực KH&CN: quá ít nên ảnh hưởng đến việc
triển khai kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ từ
tỉnh đến huyện.
Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng KH&CN phục vụ phát triển KTXH của tỉnh
gồm: Chương trình Nông nghiệp & PTNT; Chương trình Công nghiệp; Chương trình
KHXH và Nhân văn; Chương trình điều tra cơ bản và Bảo vệ môi trường, ứng phó
biến đổi khí hậu và phát triển bền vững; Chương trình Công nghệ cao...Hiện nay
Ninh Bình tập trung nhiều vào Chương trình Nông nghiệp & PTNT.
1.4. Cơ sở lý luận trong quản lý nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ
Quản lý nhiệm vụ KH&CN từ xác định tên, mục tiêu nhiệm vụ, nội dung, trong
triển khai xác định các mục tiêu nhiệm vụ tuyển chọn người thực hiện hoặc giao trực tiếp
các nhiệm vụ KH&CN; cơ chế, chế độ đảm bảo tài chính thực hiện nhiệm vụ; đánh giá,
kiểm tra tiến độ thực hiện; đánh giá nghiệm thu và sau nghiệm thu các nhiệm vụ
KH&CN.
Trong quá trình quản lý nhiệm vụ KH&CN các nguyên tắc thực hiện trong
thực tiễn quản lý hoạt động KH&CN theo các quy định của Luật KH&CN; Bộ
KH&CN và từng địa phương. Cụ thể là:
- Trong cơ chế thị trường và khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân phát huy khả năng
sáng tạo trong nghiên cứu khoa học trên cơ sở cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa
những người tham gia thực hiện nhiệm vụ KH&CN.
- Để góp phần phát triển KT-XH và phải đảm bảo an ninh quốc phòng của địa phương

KH&CN.
1.4.3. Ký hợp đồng, quản lý trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ
Hội đồng xác định và tuyển chọn được tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ
KH&CN, cơ quan chủ quản về KH&CN tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status