VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ MINH NGỌC
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH
NINH BÌNH ĐẾN NĂM 2025
LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
HÀ NỘI, 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ MINH NGỌC
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH
NINH BÌNH ĐẾN NĂM 2025
Ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 8 34 04 12
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HỒ NGỌC LUẬT
HÀ NỘI, 2019
quản lý hoạt động khoa học và công nghệ tỉnh Ninh Bình............................ 25
2.2. Công tác quản lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ
giai đoạn 2014-2018........................................................................................................... 27
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ TẠI TỈNH
NINH BÌNH...................................................................................................................................... 56
3.1. Bối cảnh sắp tới và những vấn đề đặt ra đối với quản lý nhà
nước hoạt động Khoa học và Công nghệ tỉnh Ninh Bình...............................56
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động Khoa học và
Công nghệ tại tỉnh Ninh Bình........................................................................................ 58
KẾT LUẬN....................................................................................................................................... 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................................... 71
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CN
Công nghiệp
CNH-HĐH
Công nghiêp hóa, hiện đại hóa
CNTT
Công nghệ thông tin
Kinh tế-xã hội
NC&PT
Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
NCKH
Nghiên cứu khoa học
NN&PTNT
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
PTĐ
Phương tiện đo
SXKD
Sản xuất kinh doanh
SHTT
Sở hữu trí tuệ
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
Bảng 2.6. Mức độ nhận hỗ trợ đổi mới công nghệ theo chính sách của tỉnh
NB. .......................................................................................................... 41
Bảng 2.7. Tình hình triển khai hướng dẫn tổ chức, cá nhân xác lập bảo vệ
quyền sở hữu công nghiệp giai đoạn 2014 – 2018 ................................ 43
Bảng 2.8. Vai trò của công tác tiêu chuẩn đo lường chất lượng tại các đơn
vị, tổ chức ................................................................................................ 46
Bảng 2.9. Công tác quản lý phương tiện đo tại các đơn vị, tổ chức ............... 47
Bảng 2.10. Thực trạng phương tiện đo tại các đơn vị, tổ chức ....................... 48
Bảng 2.11. Tổng hợp công tác kiểm định từ năm 2014-2018 ........................ 48
Bảng 2.12. Tổng hợp công tác quản lý chất lượng từ năm 2014-2018 .......... 50
Bảng 2.13. Thu thập và cấp giấy chứng nhận thông tin nhiệm vụ KHCN..... 52
Bảng 2.14. Cấp, gia hạn giấy phép sử dụng thiết bị X-quang; cấp chứng chỉ
nhân viên bức xạ ..................................................................................... 54
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Tình hình triển khai các nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh giai đoạn
2014 -2018....................................................................................................... 34
Biểu đồ 2.2. Tình hình thu hút đầu tư dự án đổi mới công nghệ trên địa bàn
tỉnh đến hết năm 2018 ..................................................................................... 38
Biểu đồ 2.3. Tình hình triển khai hướng dẫn tổ chức, cá nhân xác lập bảo
vệ quyền sở hữu công nghiệp giai đoạn 2014 – 2018 .................................... 44
Biểu đồ 2.4. Tổng hợp công tác kiểm định từ năm 2014-2018 ...................... 49
MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài
1
Những hạn chế, yếu kém nói trên có nguyên nhân là do toàn cầu hóa khiến
cho các sản phẩm khoa học – công nghệ của nước ngoài đặc biệt là của các nước tiên
tiến như Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước Châu Âu xâm nhập mạnh mẽ vào thị trường
trong nước khiến cho nền khoa học công nghệ Việt Nam bị cạnh tranh gay gắt. Đặc
biệt, nó làm nẩy sinh các vấn đề tranh chấp mới liên quan đến sở hữu trí tuệ, bản
quyền, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp – những lĩnh vực mà nước ta
đang ở trình độ phát triển rất thấp so với họ. Sự chênh lệch về trình độ phát triển
KH&CN quá lớn trong một sân chơi có sự cạnh tranh gay gắt khiến cho sự thua thiệt
và yếu thế luôn nằm về phía các nhà KH&CN Việt Nam. Chẳng hạn sự thống trị của
giống lúa lai Trung quốc trên thị trường giống lúa trong nước là bằng chứng rõ nhất
về những thách thức của nền KH&CN Việt Nam cho dù các giống lúa do các nhà
khoa học Việt Nam tạo ra không thua kém gì về chất lượng. Đây là một thách thức rất
lớn của không chỉ riêng ngành khoa học và công nghệ.
Hiện nay, các sản phẩm khoa học công nghệ Việt Nam, dù đã được cải tiến và
đổi mới nhiều, song phần lớn vẫn sử dụng những công nghệ cũ, lạc hậu. Việc đổi mới
công nghệ so với mặt bằng chung vẫn còn chậm. Trong điều kiện nền kinh tế còn
nhiều khó khăn, việc đầu tư vào nghiên cứu và đổi mới công nghệ bị hạn chế khiến
cho các sản phẩm khoa học và công nghệ vẫn bị tụt hậu so với thế giới, làm giảm
năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực này. Mặt khác việc đổi mới công nghệ không chỉ
đơn giản là thay máy cũ bằng máy mới mà còn phải đổi mới cả một hệ thống quản lý
cũng như nguồn nhân lực chất lượng cao đi kèm mà những điều này vẫn còn thiếu và
yếu. Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam đến 2020 đã đặt ra yêu cầu tốc độ đổi
mới công nghệ phải đạt 15-20% mỗi năm, nghĩa là sau khoảng 5 năm các doanh
nghiệp Việt Nam phải đổi mới được một thế hệ công nghệ. Thực tế, đây là con số quá
cao nhưng mặt khác cũng lại được coi là quá thấp đối với khoa học và công nghệ Việt
Nam.
Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Bình đến năm 2020, tầm
trong giai đoạn này vẫn còn tồn tại, hạn chế:
- Hệ thống văn bản còn phức tạp gây nhiều khó khăn bởi chưa cụ thể hóa, vẫn
mang tính áp dụng theo các văn bản của Chính phủ, của Bộ KH&CN, khó áp dụng
vào thực tiễn.
- Kinh phí dành cho sự nghiệp phát triển khoa học, phân bổ cho các nhiệm vụ
khoa học và công nghệ còn thấp.
- Việc triển khai ứng dụng và mở rộng các kết quả nghiên cứu vào sản xuất và
3
đời sống vẫn còn hạn chế do công tác tuyên truyền phổ biến các kết nghiên cứu chưa
phong phú đa dạng.
- Đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học và công nghệ của tỉnh còn thiếu các
chuyên gia giỏi, chuyên gia đầu ngành có khả năng tập hợp và giải quyết những vấn
đề trọng tâm mang tính chiến lược của địa phương.
- Các Hội đồng tư vấn chuyên ngành về KH&CN chưa thực hiện khách quan,
còn thiên về động viên, khuyến khích hoặc nể nang, nên hiệu quả thực hiện các khâu
còn chưa cao, chưa thể hiện rõ được vai trò của khoa học với thực tiễn yêu cầu
- Trong quá trình kiểm tra tiến độ thực hiện nhiệm vụ KHCN còn có hiện
tượng nể nang, chưa kiên quyết nên dẫn đến một số trường hợp phải gia hạn kéo dài
thời gian thực hiện hợp đồng.
Để phân tích rõ các hạn chế trên, qua đó đề xuất các giải pháp nâng cao công
tác quản lý nhà nước về hoạt động KH&CN cấp tỉnh có sử dụng ngân sách nhà nước
tại tỉnh Ninh Bình, rất cần thiết thực hiện đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản
lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ Tỉnh Ninh Bình đến năm 2025”.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ
KH&CN đã được các nhà khoa học nghiên cứu, ở các nhiệm vụ khác nhau và đã có
các công trình nghiên cứu ở cấp độ quốc gia:
-"Hoàn thiện quản lý nhà nước về KH&CN ở tỉnh Đồng Nai"- Luận văn Thạc
sỹ của Nguyễn Thị Huệ, 2005;
-“ Quản lý nhiệm vụ KH&CN từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh”- Luận văn Thạc
sỹ của Vũ Văn Thiện, 2017;
- “Giải pháp đổi mới quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ tại tỉnh Hưng
Yên” – Luận văn Thạc sỹ của Giang Đức Quỳnh, 2018;
- “Tăng cường quản lý nhà nước về tiêu chuẩn đo lường chất lượng trên địa
bàn Tỉnh Thái Nguyên” - Luận văn Thạc sỹ của Trần Thị Khánh Minh, 2014;
- “Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam hiện
nay” - Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Thị Thúy, 2017;
- “Thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp trên địa bàn
tỉnh Ninh Bình” - Luận văn Thạc sỹ của Lê Thị Ngọc, 2018.
Những công trình nghiên cứu này tương đối sát về hoạt động quản lý các hoạt
động KH&CN, tuy nhiên do đặc thù điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khác nhau nên
không phù hợp với thực tế tại tỉnh Ninh Bình, chỉ có thể là tài liệu tham khảo trong
quá trình nghiên cứu đổi mới công tác quản lý các hoạt động KH&CN nói chung và
nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh sử dụng ngân sách nhà nước tại tỉnh Ninh Bình.
5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý nhà nước về hoạt động KH&CN
cấp tỉnh trong đó tập trung vào các hoạt động có sử dụng ngân sách nhà nước từ
nguồn sự nghiệp khoa học và công nghệ tỉnh Ninh Bình phục vụ cho phát triển khoa
học và công nghệ nói riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung đến năm 2025.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động KH&CN, cơ sở lý luận quản lý nhà
nước hoạt động KH&CN, cơ sở lý luận hiệu quả hoạt động KH&CN, phân tích các
- Phương pháp khảo sát thực tế tại các địa phương; một số ý kiến chuyên gia;
một số đơn vị triển khai hoạt động KH&CN trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: tổng hợp số liệu, thực trạng, khảo sát, xâu
chuỗi, lập bảng, dựng hình ảnh để nghiên cứu xu thế phát triển nhằm đưa ra những
đánh giá thực trạng và dự báo xu thế phát triển.
- Phương pháp trao đổi, xin ý kiến của các cán bộ đang công tác tại Sở
KH&CN tỉnh Ninh Bình: Tọa đàm lấy thêm ý kiến phản biện đối với những vấn đề
đã đặt ra; Trao đổi tham khảo ý kiến của các cán bộ có thâm niên trong công tác quản
lý nhà nước về KH&CN.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa khoa học
Hệ thống hoá các lý luận và thực tiễn về quản lý KH&CN để góp phần bổ sung
và hoàn thiện hệ thống tri thức quản lý hoạt động KH&CN; cung cấp tư liệu đánh giá
thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động KH&CN của tỉnh Ninh Bình;
Kết quả nghiên cứu của luận án còn là cơ sở khoa học góp phần nâng cao nhận
thức về quản lý nhà nước hoạt động KH&CN tại tỉnh Ninh Bình.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề xuất các giải pháp đổi mới công tác quản lý nhà nước hoạt động KH&CN
của tỉnh Ninh Bình góp phần phát huy và nâng cao hiệu quả đóng góp các hoạt động
KH&CN vào thực tiễn, góp phần phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh:
- Đối với nhà quản lý lĩnh vực KH&CN: đề tài là tài liệu tham khảo để các nhà
quản lý nghiên cứu áp dụng cụ thể hoá các chính sách về quản lý hoạt động KH&CN
góp phần phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh.
- Đối với người lao động: đề tài liệu tham khảo về cơ chế chính sách áp dụng
thực hiện hoạt động khoa học và công nghệ.
7. Kết cấu của luận văn
Phần Mở đầu.
Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn chung về quản lý nhà nước hoạt
động Khoa học và Công nghệ.
Theo Luật KH&CN năm 2013 “Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy
luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy” [12, tr.1].
Quan niệm của UNESCO và theo Luật KH&CN cho thấy, khoa học là hệ
thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển, hỗ trợ kỹ thuật cho việc
nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.
KH&CN có vai trò quan trọng: là công cụ trong việc phát triển con người
(nhất là công nghệ gen hay công nghệ sinh học,... từ đó phục vụ hiệu quả cho việc
chăm sóc sức khỏe con người); Tăng sức cạnh tranh cho hàng hóa và thúc đẩy sự
phát triển kinh tế thị trường; phục vụ nhu cầu tồn tại, phát triển của con người và xã
hội. Trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm Khoa học theo Luật KH&CN năm
2013.
Theo định nghĩa của UNIDO: công nghệ là việc áp dụng khoa học kỹ thuật
vào công nghiệp bằng cách nghiên cứu và xử lý một cách hệ thống, có phương pháp.
Theo định nghĩa của ESCAP: Công nghệ là một hệ thống kiến thức về quy
trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin. Nó gồm kiến thức, kỹ năng,
9
thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp
dịch vụ.
Theo Luật chuyển giao công nghệ của Việt Nam (2017), công nghệ là giải pháp, quy
trình, bí quyết có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực
thành sản phẩm. Các thành phần công nghệ gồm các yếu tố: Kỹ thuật (Technoware), Con
người (Humanware), Thông tin (Inforware) và Tổ chức (Organware).
Theo Luật Chuyển giao công nghệ: “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí
quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn
lực thành sản phẩm” (Điều 3.2, Luật CGCN). Khái niệm công nghệ của Luật CGCN,
cũng trùng với khái niệm công nghệ, nêu tại Điều 3.2, Luật KH&CN năm 2013.
công nghệ và (ii) Hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ.
1.1.3. Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (NC&PT)
1.1.3.1. Nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học (NCKH) là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản
chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp
nhằm ứng dụng vào thực tiễn (Khoản 4 Điều 3 Luật KH&CN).
Định nghĩa về nghiên cứu khoa học trên đây là một định nghĩa rất tổng quát, tôn
trọng triệt để bản chất tự nhiên của các lĩnh vực KH&CN. Để hiểu rõ khái niệm nghiên
cứu khoa học trong từng lĩnh vực KH&CN UNESCO bổ sung hai định nghĩa sau:
- Hoạt động nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học
kỹ thuật, khoa học nông nghiệp và khoa học y dược là những hoạt động có tính hệ
thống và sáng tạo nhằm giải thích các hiện tượng, các đặc tính tự nhiên, các định luật
và các quan hệ bên trong của các hiện tượng này và nhằm áp dụng những tri thức này
vào đời sống thực tế.
- Hoạt động nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn
là những hoạt động có tính hệ thống và sáng tạo nhằm nâng cao hoặc bổ sung những
tri thức về con người, văn hoá-xã hội, và nhằm sử dụng những tri thức này để giải
quyết các vấn đề về xã hội và con người.
Trong đa số các lĩnh vực KH&CN, hoạt động nghiên cứu khoa học có thể
phân ra thành nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng:
+ Nghiên cứu cơ bản là hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm khám phá bản
chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy (Khoản 5 Điều 3 Luật
KH&CN);
+ Nghiên cứu ứng dụng là hoạt động nghiên cứu khoa học vận dụng kết quả
nghiên cứu khoa học nhằm tạo ra công nghệ mới, đổi mới công nghệ phục vụ lợi ích
của con người và xã hội (Khoản 6 Điều 3 Luật KH&CN).
Khái niệm hoạt động nghiên cứu khoa học trên đây về cơ bản giống như khái
niệm của UNESCO và OECD về nghiên cứu khoa học, cụ thể: NCKH có thể xác
định là tập hợp toàn bộ các hoạt động có hệ thống và sáng tạo nhằm phát triển kho
UNESCO và OECD. Theo đó, “Triển khai thực nghiệm” là những hoạt động có tính hệ
thống, vận dụng các kết quả của nghiên cứu khoa học, kinh nghiệm thực tế và sáng tạo
thêm tri thức nhằm tạo ra các sản phẩm mới hoặc quy trình mới hoặc hoặc cải tiến những
sản phẩm hoặc quy trình đang có [29, 30 tr.51].
Theo nhà nghiên cứu Vũ Cao Đàm, nội dung của triển khai thực nghiệm gồm
3 giai đoạn [28, tr.129]:
(i) Chế tác mẫu sơ khởi (Prototypes): Làm ra mẫu (của sản phẩm hoặc công
nghệ) đầu tiên, như một bước hiện thực hoá tư tưởng khoa học thành sản phẩm hoặc
công nghệ để chuẩn bị đưa vào sản xuất.
12
(ii) Làm pilot (Installation pilots): Thử nghiệm để tạo ra quy trình sản xuất,
tạo ra công nghệ sản xuất sản phẩm theo prototype đã làm thử nghiệm thành công
trong phòng thí nghiệm ở giai đoạn prototype.
(iii) Sản xuất thử nghiệm: Sản xuất thử, các nhà công nghệ thường gọi đó là
giai đoạn sản xuất “Loạt 0”, để khẳng định độ tin cậy của công nghệ.
Bên cạnh đó, trong thực tế của hoạt động KH&CN trên thế giới, UNESCO và
OECD [29, tr21] khuyến nghị rằng: các hoạt động như tiếp nhận và thích nghi công
nghệ nhập (chuyển giao công nghệ) và các hoạt động trực tiếp nhằm cải tiến, công
nghệ hiện có (phát triển công nghệ theo chiều sâu), đều thuộc về các hoạt động triển
khai thực nghiệm (Experimental Development). Các hoạt động như thế này có vai trò
quan trọng đối với các nước đang phát triển. Bên cạnh đó, trong tiến trình hội nhập
quốc tế, khi nhập khẩu công nghệ, không chỉ cần đến duy nhất các hoạt động triển
khai thực nghiệm (Experimental Development) như đã nêu, mà một số nghiên cứu
ứng dụng cũng có thể trở thành cần thiết nhằm áp dụng các nguyên lý công nghệ
nhập cho phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, hoặc để xác định những
phương thức hay phương pháp mới nhằm khai thác được các tính năng của công nghệ
1.1.3.3. Đổi mới công nghệ
Khái niệm đổi mới công nghệ: Đổi mới công nghệ là hoạt động nghiên cứu
nhằm cải tiến thay thế một phần chính hay toàn bộ công nghệ đang sử dụng bằng một
công nghệ khác tiến tiến hơn, hiệu quả hơn. Góp phần cải thiện chất lượng sản phẩm,
hạ giá thành, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Đổi
mới công nghệ đóng vai trò quan trọng nhất chi phối nền kinh tế, nó có tác dụng kích
thích sự phát triển sản xuất, nâng cao năng xuất lao động và góp phần giải quyết các
vấn đề kinh tế xã hội.
Hoạt động đổi mới công nghệ gồm ba giai đoạn: phát minh, đổi mới và truyền
bá. Phát minh là giai đoạn đầu tiên tạo ra tiến bộ công nghệ, đó là quá trình tìm tòi
các ý tưởng mới và biến chúng thành các giải pháp kỹ thuật công nghệ cụ thể nhằm
giải quyết một vấn đề nào đó trong sản xuất và đời sống, kết quả là ý tưởng khoa học,
những giải pháp về sản phẩm mới, phương pháp mới để thực hiện một số dịch vụ
hoặc sản xuất một sản phẩm. Đổi mới công nghệ và sản phẩm là ứng dụng thương
mại đầu tiên của phát minh, dựa trên các ý tưởng khoa học. Truyền bá sản phẩm
nghĩa là việc ứng dụng công nghệ được lan truyền và triển khai sang các nơi khác.
Hiệu quả đổi mới công nghệ:
Đổi mới công nghệ gồm đổi mới sản phẩm và đổi mới quy trình sản xuất để
đưa ra các sản phẩm tốt hơn nhằm phục vụ tốt hơn các nhu cầu của xã hội. Với nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như nước ta hiện nay thì ngoài nhu
cầu lợi ích về kinh tế còn phát triển toàn diện của xã hội. Đổi mới công nghệ thành
công nếu nó mang lại hiệu quả kinh tế như góp phần tăng năng suất lao động, giảm
tiêu hao năng lượng, phí sản xuất, cải thiện an toàn, môi trường và giảm tổn thất tài
nguyên khoáng sản.
Đánh giá hiệu quả đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, ta phải đánh giá qua
so sánh giá trị gia tăng của doanh nghiệp trước và sau khi đổi mới công nghệ. Thông
14
- Các dịch vụ KH&CN của thư viện, lưu trữ, trung tâm thông tin và tư liệu,
các đơn vị tra cứu, trung tâm hội nghị khoa học, ngân hàng dữ liệu và các cơ quan xử
lý thông tin.
- Các bộ sưu tập nhân chủng học, khảo cổ học, địa chất; các viện công nghệ
hoặc viện bảo tàng, vườn thú, vườn thực vật…
15
- Các công việc về hiệu đính sách, tạp chí hoặc công việc dịch thuật.
- Thăm dò xác định tài nguyên, khoáng sản, điều tra thủy văn, địa hình, địa
chất, thực vật, kiểm tra quan trắc phóng xạ, không khí, nước, đất…
- Tập hợp thông tin về các hiện tượng xã hội, thống kê điều tra dân số, thống
kê xã hội, nghiên cứu thị trường, thông tin về nhân chủng học…
- Thiết lập, duy trì các tiêu chuẩn và chuẩn đo lường, kiểm định, kiểm
nghiệm, kiểm tra chất lượng sản phẩm, vật liệu…
- Để tận dụng thông tin khoa học, công nghệ và quản lý đó là sự tư vấn đối
với các tổ chức, các khách hành và người dùng độc lập. Tư vấn do nhà nước tổ chức
cho ngành nông nghiệp và nông dân gồm dịch vụ khuyến công, khuyến nông.
- Luật pháp, hành chính và công việc có bản chất khoa học, có tính hệ thống
về bằng sáng chế và li xăng của các cơ quan nhà nước tiến hành gọi là các hoạt động
liên quan đến bằng sáng chế và li xăng.
- Theo Khoản 10 Điều 3 Luật KH&CN 2013: các dịch vụ về bồi dưỡng, ứng
dụng thành tựu khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, phổ biến,
thông tin, đào tạo, tư vấn; hoạt động liên quan đến an toàn bức xạ, hạt nhân và năng
lượng nguyên tử, sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, đo lường, chất lượng sản
phẩm, hàng hóa, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật tất cả các hoạt động trên là hoạt động
phục vụ, hỗ trợ kỹ thuật cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ thì gọi
chung là Dịch vụ KH&CN. Hoạt động này được cụ thể hóa và hướng dẫn trong Tài
liệu Điều tra Nghiên cứu và Phát triển năm 2014 của Bộ KH&CN (trang 32-33), cũng
khác của Chính phủ;
Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng
quản lý Nhà nước về KH&CN như: các dịch vụ công; phát triển tiềm lực KH&CN;
hoạt động KH&CN; sở hữu trí tuệ năng lượng nguyên tử, an toàn bức xạ và hạt nhân;
tiêu chuẩn đo lường chất lượng.
- Ở địa phương cơ quan hành chính Nhà nước gồm: ủy ban nhân dân các cấp,
các sở, phòng, ban của ủy ban nhân dân.
Sở Khoa học và Công nghệ là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân
dân tỉnh quản lý Nhà nước về KH&CN gồm: hoạt động NC&PT; phát triển tiềm lực
KH&CN; tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng; sở hữu trí tuệ; ứng dụng bức xạ và đồng
vị phóng xạ; an toàn bức xạ và hạt nhân; các dịch vụ công trong lĩnh vực thuộc Sở
quản lý trên địa bàn theo quy định của pháp luật.
Sở Khoa học và Công nghệ chịu sự quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động
của Uỷ ban nhân dân tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra về
chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Phòng Kinh tế hoặc Phòng Công Thương là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy
ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có chức năng tham mưu, giúp
Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý Nhà nước về KH&CN trên địa bàn huyện theo
quy định của pháp luật (đối với những lĩnh vực khác thuộc Phòng Kinh tế hoặc
Phòng Công Thương do Bộ quản lý ngành tương ứng hướng dẫn) .
17
Các hoạt động theo chức năng quản lý nhà nước về KH&CN kể trên đều có
chung những đặc điểm như: đây là những hoạt động cần có sự kiểm soát, quản lý,
đầu tư, hỗ trợ, tài trợ của nhà nước. Bên cạnh những đặc điểm chung đó thì: hoạt
động “năng lượng nguyên tử, an toàn bức xạ và hạt nhân” có có đặc điểm riêng là nó
có tính chất chuyên sâu về chuyên môn; hay theo quan điểm phân loại các hoạt động